Trang chủ    Bài nổi bật    Cách mạng Tháng Mười Nga và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay
Thứ hai, 06 Tháng 11 2017 16:42
54 Lượt xem

Cách mạng Tháng Mười Nga và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay

(LLCT) - Ngày 7-11-1917 (theo lịch Gregory) hay ngày 25-10-1917 (theo lịch Julius), Cách mạng Tháng Mười Nga do V.I.Lênin và Đảng Bôn - sê - vích lãnh đạo đã giành thắng lợi, lập nên Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga cùng với sự ra đời của nhà nước công nông, do giai cấp công nhân nắm chính quyền được xem là sự kiện lịch sử vĩ đại nhất trong thế kỷ XX; trở thành biểu tượng của niềm tin và sự cổ vũ mãnh liệt đối với các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

Về ý nghĩa vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”(1). Với ý nghĩa đó, Người khẳng định: “Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười đã dạy cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới nhiều bài học hết sức quý báu, bảo đảm cho sự nghiệp giải phóng triệt để của giai cấp công nhân và của cả loài người. Giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng thấm nhuần những lời dạy của Lênin và những bài học lớn của Cách mạng Tháng Mười”(2). Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Người đặc biệt coi trọng việc vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười. “Kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười là ngôi sao soi đường cho chúng tôi trong sự nghiệp xây dựng một cuộc đời hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam”(3), nhất là công tác xây dựng Đảng trong điều kiện đảng cầm quyền. V.I. Lênin và Hồ Chí Minh đều nhấn mạnh: để xứng đáng với tư cách là một đảng cách mạng chân chính, các đảng cộng sản phải luôn đề phòng và kiên quyết đấu tranh ngăn chặn mọi biểu hiện tiêu cực trong nội bộ đảng như: suy thoái về tư tưởng chính trị, đặc quyền, đặc lợi, xa dân, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cơ hội chủ nghĩa; phải nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê bình; phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn…

Hơn 80 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn trung thành và vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng. Nhờ đó, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng không ngừng được nâng cao; vai trò lãnh đạo của Đảng được giữ vững, niềm tin của nhân dân với Đảng được củng cố. Sự vững mạnh của Đảng, niềm tin của nhân dân và thành tựu của đất nước trên các lĩnh vực qua hơn 30 năm đổi mới đã minh chứng điều đó.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được về công tác xây dựng đảng, trong Đảng vẫn còn tồn tại những hạn chế, yếu kém: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa, địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…Tình trạng này làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng và sự tồn vong của chế độ”(4). Thực tế đó đặt ra yêu cầu: “phải kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và nhân dân đối với Đảng”.

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, khi Đảng phát hiện ra khuyết điểm, sai lầm nhưng trung thực và dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, nghiêm túc tự phê bình và kiên quyết sửa chữa, khắc phục những khuyết điểm, sai lầm đó, đồng thời biết dựa vào dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng thì sự nghiệp cách mạng tiếp tục tiến lên, Đảng giữ vững được vai trò lãnh đạo, được nhân dân tin cậy. Vì vậy, tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết về một số vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Trong đó xác định rõ 3 vấn đề cấp bách đang nổi lên, đó là: Thứ nhất, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng. Thứ hai, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Thứ ba, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Trong 3 vấn đề cấp bách đó, Đảng ta xác định vấn đề thứ nhất là trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách nhất.

Một đợt tự phê bình và phê bình đã được tiến hành trong các cấp lãnh đạo của Đảng từ trên xuống, bắt đầu từ cấp cao nhất là Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI thể hiện mạnh mẽ tinh thần chỉnh đốn Đảng và việc triển khai thực hiện nghị quyết bước đầu đã tạo được những chuyển biến trong nhận thức và hành động, có tác dụng tích cực, góp phần ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đây cũng là cơ sở quan trọng, giúp cho đảng từng bước khắc phục những hạn chế, yếu kém, tạo sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ và thắt chặt, củng cố mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, góp phần xây dựng Đảng ngày càng trong sạch vững mạnh. Bên cạnh những kết quả đạt được, Đảng ta cũng nghiêm khắc thừa nhận “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn”(5). Trên cơ sở đánh giá, rút kinh nghiệm việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Đảng ta tiếp tục ban hành Nghị quyết về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trung ương Đảng đã chỉ ra 27 biểu hiện của suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã nhận diện khá đầy đủ, sắc nét về thực trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Điều này thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng là: nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật. Nhận diện đúng là để qua đó mỗi cá nhân và tổ chức trong Đảng có thể tự soi mình. Nhận diện đúng là để suy ngẫm và hành động, không phải để bi quan hay nhụt chí mà là để sẵn sàng cho một cuộc chiến đấu mới rất quyết liệt trong bản thân mỗi cán bộ, đảng viên và trong từng tổ chức đảng thời gian tới, vì sự trong sạch, vững mạnh của Đảng.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang đẩy mạnh triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII. Muốn thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 4, để xây dựng Đảng ngày càng trong sạch vững mạnh, đủ sức đảm đương trọng trách mà nhân dân giao phó, biện pháp quan trọng đầu tiên là mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi tổ chức đảng phải nhận diện được thật đầy đủ những biểu hiện cụ thể của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của tổ chức mình. Muốn vậy, các tổ chức đảng phải làm tốt công tác đánh giá cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, để đánh giá đúng cán bộ, đảng viên, các cấp ủy đảng cần phát huy mạnh mẽ vai trò của quần chúng nhân dân (cần thiết phải xây dựng thành cơ chế) bởi theo chỉ dẫn của Lênin: “đối với việc đánh giá người và gạt bỏ những kẻ “chui vào đảng”, bọn “làm quan”, bọn đã bị “quan liêu hóa”, thì những lời chỉ dẫn của quần chúng vô sản ngoài đảng và trong nhiều trường hợp thì cả những lời chỉ dẫn của quần chúng vô sản ngoài Đảng và trong nhiều trường hợp thì cả những lời chỉ dẫn của quần chúng nông dân ngoài Đảng nữa, rất là quý báu”(6).

Theo tinh thần đó, trong thời gian tới, các cấp ủy, tổ chức đảng phải tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích các tổ chức quần chúng giám sát các hoạt động của cán bộ, đảng viên. Định kỳ (6 tháng, 1 năm), cấp ủy có chương trình làm việc với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, nghe phản ảnh tình hình tư tưởng của cán bộ, đoàn viên, hội viên, lắng nghe những ý kiến đóng góp của quần chúng ở cơ quan, đơn vị, địa phương và nhân dân ở nơi cư trú góp ý cho cán bộ, đảng viên. Và, quan trọng là các cấp ủy cần phải xây dựng không khí cởi mở, vui vẻ, thoải mái trong những buổi tiếp xúc để mọi người mạnh dạn nói thẳng, nói thật. Cấp ủy trực tiếp tổng hợp các ý kiến phê bình, đóng góp của quần chúng và thông báo tới từng cán bộ, đảng viên, yêu cầu từng người phải giải trình rõ sự việc, có kế hoạch và biện pháp tiếp tục phát huy ưu điểm, khắc phục triệt để các thiếu sót, khuyết điểm. Khi cần có thể tổ chức hội nghị góp ý cán bộ, đảng viên ở khu dân cư nơi gia đình cán bộ, đảng viên sinh sống. Những cán bộ, đảng viên có biểu hiện lối sống thiếu lành mạnh cần phải đưa ra kiểm điểm trước dân. Bên cạnh đó phải thực hiện có hiệu quả việc bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác và tích cực đấu tranh chống suy thoái đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên. Công khai các quy chế về trách nhiệm công vụ, về trách nhiệm phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước để nhân dân biết, theo dõi, giám sát và góp ý. Thường xuyên thực hiện lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân đối với cơ quan, cán bộ, công chức trực tiếp giải quyết công việc cho dân phù hợp với tình hình, điều kiện cụ thể của địa phương, đơn vị. Đối với các tổ chức có chỉ số hài lòng thấp phải có hình thức xử lý phù hợp, kịp thời…

Kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga, tìm hiểu những kinh nghiệm của cuộc Cách mạng Tháng Mười để một lần nữa khẳng định rằng tư tưởng của Lênin và những bài học của Cách mạng Tháng Mười về vấn đề đảng cầm quyền vẫn soi sáng cho con đường cách mạng của hiện nay.

___________________

(1) (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2002, tr. 300.

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 8, tr.577.

(4) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ Tư, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, tr.21-22.

(5) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.185.

(6) V.I.Lênin: Toàn tập, t.44, Nxb Tiến Bộ, Mátxcơva, 1978, tr. 152.

ThS Nguyễn Thị Hằng 

Học viện Chính trị Khu vực II