Trang chủ    Đào tạo - Bồi dưỡng    Chính sách giáo dục ở Việt Nam nhìn từ cách tiếp cận phát triển bao trùm và bền vững
Thứ hai, 10 Tháng 7 2017 17:17
174 Lượt xem

Chính sách giáo dục ở Việt Nam nhìn từ cách tiếp cận phát triển bao trùm và bền vững

(LLCT) - Sự phát triển bao trùm và bền vững, thể hiện ở xu thế chuyển đổi các mô hình phát triển từ chiều rộng sang hiệu quả đến sáng tạo đòi hỏi phải mở rộng cơ hội giáo dục bậc cao gồm trung học phổ thông và cao đẳng, đại học cho tất cả mọi người. Cần cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác về tình hình đi học đúng tuổi và trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động để có thể đổi mới tư duy và chính sách giáo dục bậc cao vì phát triển bao trùm, bền vững của đất nước.

 

1. Phát triển bao trùm, bền vững: các giai đoạn, mô hình và chiều cạnh

Các giai đoạn và mô hình phát triển

Theo học thuyết Mác - Lênin, Việt Nam đang ở chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội(1). Nếu chặng đường đầu tiên này được chia thành nhiều bước nhỏ thì Việt Nam đang đi những bước đầu tiên của quá trình đổi mới từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Câu hỏi đặt ra là, thời kỳ quá độ này kéo dài bao nhiêu lâu và bao gồm bao nhiêu giai đoạn, bao nhiêu bước, mỗi giai đoạn và mỗi bước này có bao nhiêu giai đoạn nhỏ, bao nhiêu bước nhỏ? Mỗi bước, mỗi giai đoạn đó có đặc trưng gì?

Để trả lời những câu hỏi này, cần tham khảo cách tiếp cận phát triển bao trùm và bền vững (inclusive and sustainable development) và cách phân chia giai đoạn, mô hình phát triển nêu trong Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2014-2015. Báo cáo này đưa ra bảng phân loại các nền kinh tế trên thế giới thành ba nhóm theo mức thu nhập bình quân đầu người(2):

Nhóm 1 có mức thu nhập dưới 2.000 USD

Nhóm 2 có mức thu nhập từ 3.000 đến gần 9.000 USD 

Nhóm 3 có mức thu nhập trên 17.000 USD

Giữa các nhóm này là nhóm trung gian, nhóm chuyển đổi. Đồng thời, Báo cáo chỉ ra 12 trụ cột của năng lực cạnh tranh quốc gia và phân chia chúng thành ba nhóm:

Nhóm 1 gồm bốn trụ cột nhân tố nguồn lực là (i) thể chế, (ii) cơ sở hạ tầng, (iii) môi trường kinh tế vĩ mô và (iv) y tế - giáo dục.

Nhóm 2 gồm sáu trụ cột hiệu quả là (v) giáo dục - đào tạo bậc cao, (vi) hiệu quả của thị trường hàng hóa, (vii) hiệu quả của thị trường lao động, (viii) sự phát triển của thị trường tài chính, (ix) tính sẵn sàng về công nghệ và (x) quy mô thị trường.

Nhóm 3 gồm hai trụ cột tinh vi, sáng tạo là (xi) mức độ tinh vi của hoạt động kinh doanh và (xii) mức độ đổi mới, sáng tạo.

Tương ứng với ba nhóm trụ cột này là ba mô hình phát triển: Mô hình 1 là phát triển dựa vào nhân tố nguồn lực, tức là mô hình phát triển chiều rộng, Mô hình 2 là phát triển dựa vào hiệu quả, tức là mô hình phát triển chiều sâu, Mô hình 3 là phát triển dựa vào sự sáng tạo.

Tại mỗi giai đoạn phát triển của một quốc gia, có thể quan sát thấy các biểu hiện của tất cả 12 trụ cột của năng lực cạnh tranh quốc gia và cả ba mô hình phát triển. Tuy nhiên, mỗi giai đoạn đặc trưng bởi một mức thu nhập và một cấu trúc các trụ cột năng lực. Giai đoạn 1 đặc trưng bởi mức thu nhập bình quân dưới 2 nghìn USD/người, tỷ trọng đóng góp của các trụ cột nhân tố chiếm tới 60%, tỷ trọng trụ cột sáng tạo chỉ chiếm 5%. Giai đoạn 2 đặc trưng bởi mức thu nhập bình quân từ 3 nghìn đến 9 nghìn USD/người và tỷ trọng đóng góp của nhóm trụ cột hiệu quả đạt mức cao nhất khoảng 50%. Giai đoạn 3 đặc trưng bởi mức thu nhập bình quân cao trên 17 nghìn USD và tỷ trọng đóng góp của nhóm trụ cột sáng tạo lên đến 30%.       

Vậy mô hình phát triển của Việt Nam như thế nào? Báo cáo của UNDP cho biết(3): năm 1986, Việt Nam có mức thu nhập bình quân đạt 89 USD/người, đến năm 2014 mức thu nhập đạt 2.054 USD/người và dự báo đến năm 2020 mức thu nhập đạt 2.724 – 3.348 USD/người. Trong giai đoạn 1986-2014, Việt Nam thuộc Mô hình 1 phát triển dựa vào các trụ cột nhân tố nguồn lực, tức là mô hình phát triển chiều rộng. Dự báo trong giai đoạn 2014-2020, Việt Nam chuyển đổi từ Mô hình 1 sang Mô hình 2 phát triển dựa vào trụ cột hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn lực; từ năm 2020 trở đi, Việt Nam sẽ bước vào thời kỳ quá độ sang Mô hình 3 phát triển dựa vào sự sáng tạo. Việt Nam mất khoảng 25 năm cho thời kỳ phát triển theo chiều rộng và 10 năm cho giai đoạn quá độ sang phát triển chiều sâu. Theo Báo cáo của UNDP, Việt Nam có thể sẽ phải mất một khoảng thời gian tương tự cho giai đoạn 2 phát triển dựa vào hiệu quả và giai đoạn quá độ sang phát triển dựa vào sáng tạo. 

Tuy nhiên, cách tính toán mức thu nhập bình quân đầu người có thể khác nhau, do vậy việc xác định thời điểm của từng giai đoạn phát triển chỉ mang tính chất tương đối. Điều quan trọng từ góc độ giáo dục vì phát triển bao trùm và bền vững là: Mô hình 1 phát triển dựa vào các trụ cột nhân tố nguồn lực, trong đó nhân tố giáo dục chỉ đạt trình độ phổ cập tiểu học và trung học cơ sở (THCS). Mô hình 2 phát triển dựa vào trụ cột hiệu quả, đòi hỏi phải đạt được phổ cập giáo dục bậc cao từ trung học phổ thông (THPT) trở lên. Cần thấy rằng, giáo dục - đào tạo bậc cao sẽ là trụ cột cốt lõi của Mô hình 3 phát triển dựa vào sáng tạo. Điều đó có nghĩa là để đẩy nhanh thời kỳ quá độ từ Mô hình 1 sang Mô hình 2 cần phải đổi mới tư duy chính sách giáo dục theo hướng tăng cường đầu tư phát triển “giáo dục bậc cao” tức là phổ cập giáo dục THPT và mở rộng cơ hội đào tạo sau THPT, nhất là đào tạo đại học. Sự phát triển của Việt Nam hiện nay đòi hỏi mở rộng cơ hội giáo dục để phổ cập giáo dục THPT, tiến tới phổ cập giáo dục đại học, chứ không phải dừng lại ở phổ cập tiểu học, phổ cập THCS và dạy nghề cho học sinh tốt nghiệp THCS. Tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ” chứng tỏ mô hình phát triển của Việt Nam chủ yếu dựa vào nhân tố nguồn lực, gồm lực lượng lao động giản đơn, trình độ thấp, tiền công rẻ.

Ba chiều cạnh của phát triển bao trùm, bền vững

 Nền tảng lý luận của các mô hình phát triển vừa nêu có thể tìm thấy trong cách tiếp cận phát triển của nhiều nhà khoa học nổi tiếng, trong đó nổi bật nhất là Amartya Sen, người có công xây dựng chỉ số phát triển người (HDI), được nhận giải Nobel về khoa học kinh tế năm 1998. Theo Amartya Sen, phát triển xã hội đòi hỏi phải bảo đảm quyền con người và bảo đảm nâng cao năng lực thực hiện các quyền cơ bản của con người về kinh tế, giáo dục, y tế và tham gia quản lý xã hội(4). Từ năm 1980 đến nay, cách tiếp cận phát triển của Amartya Sen tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện theo hướng “bao trùm” tức là mở rộng các cơ hội phát triển và nâng cao năng lực nắm bắt các cơ hội một cách bình đẳng cho tất cả mọi người, bao trùm cả người nghèo, người yếu thế, người có hoàn cảnh khó khăn ở cả thành thị và nông thôn. Báo cáo phát triển con người Việt Nam năm 2015 của UNDP nhấn mạnh ba chiều cạnh của phát triển mang tính bao trùm và bền vững là(5): (i) tăng cường cơ hội thông qua việc làm có năng suất cao hơn, (ii) tăng cường năng lực thông qua cải thiện dịch vụ y tế và giáo dục, (iii) tăng cường năng lực phòng chống rủi ro thông qua cải thiện bảo trợ xã hội. Trong ba chiều cạnh này, giáo dục vừa là mục tiêu vừa là động lực để tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và phát triển con người. Các bằng chứng khoa học cho thấy, học vấn tăng sẽ làm tăng đáng kể thu nhập của người lao động, thúc đẩy sự phát triển trí tuệ, nhân cách và củng cố niềm tin, tăng cường sự đoàn kết, trật tự, đồng thuận xã hội. Nhưng giáo dục chỉ có thể phát huy được chức năng, vai trò động lực của phát triển, mục tiêu của phát triển khi các cơ hội tiếp cận giáo dục từ mầm non đến đại học được mở rộng cho tất cả mọi người chứ không phải chỉ dành cho những người có hoàn cảnh thuận lợi.

2. Tình hình giáo dục qua tỷ lệ đi học đúng tuổi của Việt Nam

Nền giáo dục Việt Nam trong thời gian qua mới bảo đảm phổ cập giáo dục tiểu học ở mức trên 95% trẻ em đi học đúng độ tuổi tiểu học và gần 90% trẻ em đến trường đúng độ tuổi THCS. Từ đây xuất hiện thuật ngữ “công bằng xã hội trong giáo dục bậc thấp” và “bình đẳng xã hội trong giáo dục bậc thấp” nói về thành tựu phổ cập giáo dục tiểu học và THCS. Năm 2014, chỉ số giáo dục đóng góp 43% cho sự phát triển con người của Việt Nam, chỉ số thu nhập đóng góp 40% và chỉ số tuổi thọ đóng góp 17%. Nhờ thành tựu giáo dục, Việt Nam đã đạt trình độ phát triển con người thuộc loại cao so với nền kinh tế còn nghèo và đang rút ngắn khoảng cách giữa thứ bậc thu nhập và thứ bậc HDI (6). Năm 2014, HDI của Việt Nam đạt giá trị 0,666 và xếp hạng 116, trong khi tổng thu nhập bình quân đầu người là 5,1 nghìn USD (GNI ngang giá sức mua năm 2011) xếp hạng thứ 131. Việt Nam đã giảm được khoảng cách giữa thứ bậc thu nhập và thứ bậc HDI từ 24 (2000) xuống còn 15 (2014).

Tuy nhiên, tỷ lệ đi học đúng tuổi trung học phổ thông (THPT) của Việt Nam năm 2014 vẫn ở mức thấp là 63,1%, tức là có gần 37% dân số tuổi 15-17 không đến trường THPT(7); có khoảng 20% thanh niên đến trường cao đẳng, đại học và 80% không đến trường cao đẳng, đại học. Theo UNDP (2015), đến năm 2020 ước tính Việt Nam sẽ có gần 1 triệu thanh niên chưa học xong bậc THCS và khoảng 1,3 triệu thanh niên chưa học xong bậc THPT tham gia thị trường lao động(8). Đồng thời, có khoảng 1 triệu trẻ em từ 5-14 tuổi chưa bao giờ đến trường hoặc đã từng đến trường nhưng bỏ học. Với tỷ lệ nhập học đúng tuổi tăng trung bình hơn 1%/năm, Việt Nam sẽ cần nhiều thời gian nữa để bảo đảm phổ cập THPT và mở rộng cơ hội giáo dục đại học cho tất cả mọi người.

Từ góc độ tiếp cận phát triển bao trùm có thể thấy sự bất bình đẳng xã hội trong giáo dục giữa khu vực thành thị và nông thôn và giữa các vùng miền của Việt Nam. Tỷ lệ đi học đúng độ tuổi THPT ở vùng Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long mới chỉ đạt khoảng 50%, tức là có một nửa dân số 15-17 tuổi ở hai vùng này không đến trường THPT. Tỷ lệ đi học đúng độ tuổi cao đẳng, đại học ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng nhiều gấp 3-4 lần so với ở vùng Tây Nguyên, vùng trung du và miền núi phía Bắc. Tỷ lệ đi học đúng độ tuổi cao đẳng, đại học ở thành thị nhiều gấp ba lần so với ở nông thôn. Nói cách khác, để bảo đảm phát triển bao trùm và bền vững, Việt Nam sẽ phải mất nhiều thời gian để mở rộng cơ hội giáo dục bậc cao, tức là mở rộng cơ hội đến trường THPT và sau THPT cho tất cả dân số trong độ tuổi đến trường ở các khu vực thành thị, nông thôn và các vùng miền trong cả nước.

3. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của nhân lực Việt Nam

Tính đến năm 2014, Việt Nam mới chỉ có 9,5% dân số từ 15 tuổi trở lên có trình độ chuyên môn kỹ thuật bậc cao, cụ thể là 2,6% trình độ cao đẳng và 6,9% trình độ đại học trở lên(9). Cấu trúc trình độ chuyên môn kỹ thuật của nhân lực Việt Nam năm 2014 là: 6,9% đại học, 10,2% cao đẳng, trung cấp, sơ cấp và còn tới 82,8% chưa được đào tạo chuyên môn kỹ thuật, quy đổi ra công thức là: cứ 1 thầy “đại học” có 1,5 kỹ thuật viên, cao đẳng và 12 thợ giản đơn chưa được đào tạo. Nếu coi trình độ cao đẳng cũng là “thầy” thì cấu trúc nhân lực của Việt Nam là: 1 thầy/0,8 kỹ thuật viên/8,7 thợ giản đơn chưa được đào tạo. Đây là cấu trúc của Mô hình 1 phát triển dựa vào nhân tố nguồn lực, phát triển chiều rộng; đặc trưng cho giai đoạn 1 phát triển dựa vào nhân lực trình độ thấp, tiền công rẻ, mà một thời trước đây lầm tưởng là lợi thế của thu hút đầu tư và tăng trưởng kinh tế.

Trong 5 năm, Việt Nam đã nâng được tỷ lệ dân số được đào tạo chuyên môn kỹ thuật từ 13,3% năm 2009 lên 17,2% năm 2014, tức là giảm được số người không qua đào tạo từ 86,7% xuống còn 82,8%. Đồng thời, tỷ lệ dân số có trình độ chuyên môn kỹ thuật sơ cấp và trung cấp tăng không đáng kể, trong khi tỷ lệ dân số có trình độ chuyên môn kỹ thuật bậc cao tăng từ 6% lên 9,5%. Tuy nhiên, tốc độ tăng trình độ chuyên môn kỹ thuật bậc cao của dân số vẫn rất chậm, chỉ đạt 0,7%/năm. Do đó, có thể thấy Việt Nam tất yếu sẽ phải chuyển sang giai đoạn 2 phát triển dựa vào hiệu quả nhưng với những bước đi rất chậm chạp bởi vì giáo dục không đi trước mà bị tụt hậu so với yêu cầu phát triển bao trùm và bền vững. 

Nhiều ý kiến cho rằng, Việt Nam đang thừa thầy thiếu thợ và không cần phải phổ cập giáo dục THPT mà cần dạy nghề và đào tạo kỹ năng mềm, nếu tiếp tục duy trì phổ cập giáo dục trình độ thấp và nâng cao chất lượng của các cấp bậc giáo dục thấp thì nguy cơ xảy ra đối với phát triển không chỉ là “bẫy thu nhập trung bình” mà cả “bẫy giáo dục trung bình thấp”. Một số nghiên cứu cho biết(10): tính đến năm 2014, số năm đi học trung bình của dân số Việt Nam thuộc loại ngang bằng với khu vực Đông Á và Thái Bình Dương. Tuy nhiên, với số năm đi học trung bình là 7,5 năm, Việt Nam vẫn thua kém các nước phát triển cao như Malaysia với số năm đi học trung bình là 10 năm và Hàn Quốc là 11,9 năm. Đáng chú ý là số năm đi học kỳ vọng của Việt Nam là 11,9 năm thấp hơn mức 12,7 năm của khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, thấp hơn nhiều so với 13,5 năm của Thái Lan, 13,1 năm của Trung Quốc và 16,9 năm của Hàn Quốc.

4. Một số vấn đề đặt ra và thảo luận về chính sách

Khi bàn luận về giáo dục - đào tạo, câu hỏi đặt ra là: tại sao giáo dục của Việt Nam đạt thành tích cao không thua kém các nước phát triển nhưng Việt Nam vẫn nghèo? Theo khảo sát của UNDP(11): số năm đi học trung bình của Việt Nam là 7,5 năm ngang bằng Trung Quốc với 7,5 năm và hơn cả Thái Lan với 7,3 năm, nhưng tại sao thu nhập bình quân đầu người (GNI) ngang giá sức mua năm 2011 của Việt Nam chỉ đạt 5,1 nghìn USD/người, trong khi của Trung Quốc là 12,5 nghìn USD, Thái Lan là 13,3 nghìn USD và khu vực Đông Á và Thái Bình Dương là 11,5 nghìn USD? Câu trả lời có lẽ nằm ở cái gọi là “bẫy giáo dục trung bình” và “bình đẳng xã hội ở trình độ thấp”, tức là Việt Nam có tỷ lệ dân số biết chữ cao và đã đạt phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập giáo dục THCS, nhưng chỉ một thiểu số có cơ hội giáo dục sau THPT và giáo dục đại học. Trong khi đó, năng suất lao động tăng cao phần lớn là nhờ vào nhân lực trình độ cao chứ không phải nhờ vào lao động giản đơn, trình độ thấp. Năng suất lao động của Việt Nam đã tăng nhanh với tốc độ gần 5%/năm từ 2,2 nghìn USD/người năm 1994 lên đến 5,3 nghìn USD/người năm 2012. Nhưng vẫn ở mức thấp kém so với nhiều nước khác, như Trung Quốc là 14 nghìn USD và Thái Lan là 14,4 nghìn USD (2012).   

Một câu hỏi khác: Việt Nam đã chi tiêu rất nhiều cho giáo dục, vậy có cần phải đầu tư nhiều hơn nữa cho giáo dục? Số liệu cho biết(12): Việt Nam đã tăng tỷ trọng chi tiêu cho giáo dục từ 3,5% GDP năm 1999 lên 5,5% GDP năm 2010. Mức chi này không ít thậm chí còn hơn các nước thu nhập cao với mức chi là 5,4% GDP và vượt xa mức chi 4,6-4,8% GDP của các nước thu nhập thấp và trung bình. Tuy nhiên, vấn đề là mức chi tiêu cho giáo dục bình quân đầu người theo giá USD hiện hành của Việt Nam mới chỉ đạt 64 USD/người vào năm 2010. Trong khi mức chi này của Thái Lan là 162 USD/người, Malaysia là 477 USD, các nước thu nhập trung bình thấp là 105 USD, các nước thu nhập trung bình cao là 332 USD và các nước thu nhập cao là 1.792 USD và mức chung của thế giới là 644 USD gấp hơn 10 lần so với mức chi 64 USD của Việt Nam. Một vấn đề khác ở cấu trúc chi tiêu thiếu công bằng cho các cấp bậc giáo dục(13): Việt Nam chi tiêu hơn 28% cho giáo dục tiểu học và gần 22% cho THCS, nhưng chi hơn 8% cho giáo dục mầm non, hơn 11% cho giáo dục THPT, hơn 13% cho giáo dục nghề, và hơn 12% cho giáo dục cao đẳng, đại học. Một nghiên cứu của OECD (2014) cho biết(14): mức chi tiêu bình quân một học sinh tiểu học ở Việt Nam năm 2011 chiếm 27,6% GDP bình quân đầu người, đạt mức cao nhất trong các nước Đông Á và cao hơn cả mức trung bình 23% của các nước OECD.

Việt Nam đầu tư nguồn lực quá ít cho giáo dục mầm non nên tính đến năm 2012, tỷ lệ nhập học mầm non mới chỉ đạt 34,6%, có nghĩa là 65,4% trẻ em Việt Nam thiếu cơ hội để phát triển năng lực trong lứa tuổi rất quan trọng này. Theo cách tiếp cận bao trùm và bền vững, việc thiếu năng lực phát triển ở giai đoạn đầu đời của các cá nhân sẽ dẫn đến thiếu năng lực lao động và thiếu cơ hội việc làm chất lượng cao, dẫn đến năng suất lao động thấp, chất lượng cuộc sống thấp và chậm phát triển. Do đó, yêu cầu đặt ra là tăng tỷ trọng chi tiêu cho giáo dục trong GDP, tăng mức chi tiêu cho giáo dục bình quân đầu người và phân bổ, sử dụng hợp lý, có hiệu quả các khoản chi tiêu, đầu tư cho giáo dục từ mầm non đến đại học. Rất có thể việc đổi mới giáo dục đã đầu tư quá nhiều cho nâng cao chất lượng bên trong, chất lượng nội bộ của giáo dục (tập trung cải cách nội dung chương trình, sách giáo khoa). Do vậy, cần đổi mới tư duy lãnh đạo, quản lý và chính sách giáo dục sang nâng cao chất lượng bên ngoài, có nghĩa là mở rộng cơ hội đến trường mầm non, THPT và cao đẳng, đại học.

Một số câu hỏi về hiệu quả là: liệu nền kinh tế đang chuyển đổi ở Việt Nam có cần đến tỷ lệ lớn dân số được giáo dục - đào tạo bậc cao không? Nền kinh tế nghèo cần nhiều nhân lực trình độ cao để làm gì? Có phải với tình hình kinh tế hiện nay thì càng giáo dục - đào tạo bậc cao thì càng thất nghiệp nhiều và càng lãng phí nhiều? Câu trả lời là: Nếu muốn kéo dài giai đoạn 1 phát triển dựa vào nhân tố nhân lực giá rẻ thì chỉ cần tiếp tục duy trì giáo dục phổ cập tiểu học và THCS. Nhưng giai đoạn quá độ từ Mô hình 1 phát triển dựa vào nhân tố nguồn nhân lực trình độ thấp, giá rẻ sang Mô hình 2 phát triển dựa vào hiệu quả phân bố, sử dụng nhân lực bậc cao đòi hỏi phải phát triển giáo dục bậc cao từ THPT và đại học. Giải pháp đổi mới giáo dục ở đây là xây dựng thể chế chính sách dung hợp theo thuật ngữ của Daron Acemoglu và James A. Robinson (inslusive institutions)(15) để mở rộng cơ hội giáo dục bậc cao.

Theo thuyết đầu tư phát triển vốn con người của Gary Becker, tỷ suất lợi nhuận cá nhân từ giáo dục đại học vượt trội so với tỷ suất lợi nhuận cá nhân từ vốn kinh doanh(16). Nghiên cứu của UNDP (2015) về Việt Nam cho biết(17): nếu tỷ trọng lao động có bằng đại học và sau đại học tăng 1% thì năng suất lao động tăng 0,22%; nếu người quản lý doanh nghiệp có bằng thạc sỹ hoặc tiến sỹ thì năng suất tăng 0,17% so với người quản lý chỉ có bằng cao đẳng hoặc thấp hơn; nếu một doanh nghiệp có năng lực nghiên cứu và phát triển thì năng suất tăng thêm 19,3% so với các doanh nghiệp không có năng lực này. Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (2011) về nguồn gốc của cải của các quốc gia cho biết cấu trúc vốn như sau(18): tỷ trọng vốn tự nhiên chiếm 5%, vốn sản xuất chiếm 18% và vốn phi vật thể gồm vốn con người, vốn xã hội và vốn thể chế, chính sách chiếm 77 trong lượng của cải là 121 nghìn USD/người trên thế giới năm 2005. Cấu trúc ba loại vốn tự nhiên, vốn sản xuất và vốn phi vật thể của Việt Nam lần lượt là: 38,7%, 16,5% và 44,8% trong giá trị của cải 9.374 USD/người năm 2005. Cấu trúc vốn như vậy đặc trưng cho mô hình phát triển dựa vào nhân lực giá rẻ và nguồn vốn tự nhiên, vốn sản xuất. Việc chuyển sang mô hình phát triển cao hơn đòi hỏi phải thực hiện chính sách phát triển sao cho có thể giảm sự phụ thuộc vào vốn tự nhiên xuống gần một nửa, tăng tỷ trọng vốn sản xuất và nhất là tăng tỷ trọng vốn phi vật thể lên gấp rưỡi, trong đó ưu tiên tăng tỷ trọng vốn con người được giáo dục bậc cao.

Trong khi một số nhà lý luận và người làm chính sách giáo dục còn chủ trương phân ban, phân luồng, rẽ ngang giáo dục nghề sau bậc THCS thì hàng triệu gia đình Việt Nam đang đầu tư cho con, cháu học tập để thi đỗ vào đại học. Những tấm gương về sự đổi đời thoát khỏi cảnh nghèo khó nhờ vào giáo dục bậc cao có sức thuyết phục lan tỏa rất lớn đối với các cá nhân và gia đình. Do vậy, có một nghịch lý là thực trạng “thừa thầy thiếu thợ” càng phổ biến thì cuộc chạy đua vào đại học của các cá nhân và gia đình càng quyết liệt. Trong trường hợp này, sự lựa chọn của người dân đối với giáo dục bậc cao (THPT và sau THPT) là hợp lý và góp phần thúc đẩy sự phát triển bao trùm, bền vững dựa vào hiệu quả và sáng tạo.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 12-2016

(1) Lê Ngọc Hùng: “Từ đổi mới tư duy lý luận đến biến đổi cấu trúc kinh tế - xã hội ở Việt Nam”,  http://www.tapchicongsan.org.vn.

(2) Diễn đàn kinh tế thế giới 2014: Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2014-2015. Trích theo UNDP. Tăng trưởng vì mọi người: Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2015 về tăng trưởng bao trùm, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2016, tr.58-62; 

(3), (5), (6), (8), (10), (11), (12), (13), (17) UNDP: Tăng trưởng vì mọi người: Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2015 về tăng trưởng bao trùm, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2016, tr.60, 16, 23- 27, 93, 23, 64, 103, 104, 76.

(4) Amartya Sen: Phát triển là quyền tự do, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2002.

(7) Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Tổng cục Thống kê: Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ, thời điểm 1-4-2014: Các kết quả chủ yếu,Hà Nội, tháng 9-2015. Biểu 3.2 tr.49, Biểu 18. tr.380.

(9) Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Tổng cục Thống kê, Sđd,tr.55.

(14) Development Centre Studies: Social Cohesion Policy Review of Vietnam, OECD, 2014, p.106.

(15) Daron Acemoglu và James A. Robinson: Tại sao các quốc gia thất bại: nguồn gốc của quyền lực, thịnh vượng và nghèo đói, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 2014.

(16) Gary S. Becker (1993): Vốn con người: Phân tích lý thuyết và kinh nghiệm liên quan đặc biệt đến giáo dục,Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010.

(18) Ngân hàng Thế giới: Sự thay đổi trong cơ cấu của caircuar các quốc gia: Đo lường phát triển bền vững trong thiên niên kỷ mới, Oaxinhtơn, 2011, tr.7, 187.

 

GS, TS Lê Ngọc Hùng

Viện Xã hội học,

 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

 

Các bài viết khác