Trang chủ    Diễn đàn    Dân chủ và những trở lực cần khắc phục ở nước ta hiện nay
Thứ hai, 16 Tháng 1 2017 17:58
2942 Lượt xem

Dân chủ và những trở lực cần khắc phục ở nước ta hiện nay

(LLCT) - Đại hội XII của Đảng khẳng định: Dân chủ là một trong những nội dung hợp thành mục tiêu và động lực của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay(1). Quan điểm này là sự kế thừa và phát triển học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa dân chủ và chủ nghĩa xã hội; về mục tiêu và động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước những năm qua đã cho thấy, yếu tố có ý nghĩa quyết định những chuyển biến tích cực trong đời sống xã hội là mỗi cá nhân và cả cộng đồng phải thực sự trở thành mục tiêu và chủ thể sáng tạo. Chỉ khi nào con người nhận thức, cảm nhận được nhu cầu, lợi ích của họ được bảo đảm thực hiện trên thực tế thì lúc đó tính tự giác, tính tích cực chính trị- xã hội của họ mới được phát huy, và kết quả hoạt động thực tiễn do đó sẽ có nhiều khả năng đạt hiệu quả tốt hơn.

Mặc dù dân chủ là cái tất yếu, nhưng không phải ai cũng hiểu, cũng có quan niệm giống nhau. Điều đó dẫn đến cách triển khai, thực thi dân chủ ở mỗi giai đoạn, mỗi quốc gia, vùng cũng khác nhau, thậm chí là rất khác biệt. Ở nước ta, trong thời gian qua đã có “Tình trạng tách rời, thậm chí đối lập giữa dân chủ và kỷ cương, pháp luật còn tồn tại ở nhiều nơi. Quyền làm chủ của nhân dân ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực còn bị vi phạm”(2).

Để triển khai thực hiện, cần làm rõ các giá trị phổ biến của dân chủ và đối chiếu với những gì đã làm trong thực tiễn, từ đó, khắc phục các lực cản của quá trình phát huy dân chủ.

Một số giá trị phổ biến của thể chế dân chủ:

+ Dân chủ là chế độ xã hội trong đó quyền lực để chăm lo cho cộng đồng được thực hiện bởi toàn cộng đồng công dân hoặc qua những đại biểu, đại diện.  

+ Dân chủ là thể chế để quản lý các cuộc bầu cử tự do và công bằng cho mọi công dân.

+ Dân chủ buộc nhà nước phải hoạt động theo luật pháp và bảo đảm mọi công dân đều được bảo vệ bằng cơ chế luật pháp.

+ Dân chủ là cách thức đểcác quyết định liên quan đến nhu cầu, lợi ích của một cộng đồng (trong đó có một phần nhu cầu, lợi ích cá nhân thuộc cộng đồng đó)phải dựa trên cơ sở ý chí số đông (hay là ý chí của đại diện cho số đông), và số ít buộc phải tuân thủ.

+ Công dân trong thể chế dân chủ không những có quyền lợi, mà còn có nghĩa vụ tham gia vào hệ thống chính trị, tham gia vào các quá trình chính trị, có điều kiện, khả năng để tự bảo vệ quyền tự do của chính mìnhtrong mối quan hệ với nhà nước.

2. Những trở lực và giải pháp để tiếp tục phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở nước ta hiện nay

 Xét về mặt lý luận và thực tiễn trong thời kỳ đổi mới, thể chế, cơ chế có thể tạo nên những động lực cho sự phát triển xã hội - hoạt động theo đuổi nhu cầu, lợi ích của cộng đồng, suy cho cùng chỉ có thể là thể chế, cơ chế dân chủ. Tuy vậy, đối chiếu với những giá trị phổ biến của dân chủ, trên thực tế thường tồn tại các mâu thuẫn sau đây:

Thứ nhất, dân chủ là số đông quyết định, nhưng không phải bao giờ chân lý cũng thuộc về số đông. Vì thế, ý chí của số đông không hẳn sẽ mang lại một quyết sách có hàm lượng trí tuệ cao. V.I.Lênin đã từng lưu ý rằng, trình độ dân trí, học vấn của dân chúng là chìa khóa để nâng cao chất lượng của dân chủ. Đây chính là giải pháp nền tảng để nâng cao chất lượng của dân chủ.

Trong thực tế đã có không ít những phản giá trị được tạo ra từ những ý kiến của số đông. Có không ít những hành vi, sản phẩm phản văn hóa xuất phát từ việc xem dân chủ chỉ là lá bài để biến những người ít học thành con rối trong tay những nhà chính trị xảo quyệt - như V.I Lênin đã từng cảnh báo.

Phát hiện ra giới hạn trên, ngày nay người ta vẫn thường tuyên bố tôn trọng và cho phép cá nhân bảo lưu ý kiến trước ý kiến của số đông, nhưng trên thực tế, về mặt tâm lý, ý chí, quan điểm của cá nhân thường dễ bị xem là lạc lõng, nếu không nói là trở thành “trái đạo” trước quan niệm của tập thể. Điều đó dẫn đến “sự chuyên chế xã hội” khiến mỗi cá nhân buộc phải chấp nhận. Sự chấp nhận nào cũng có giới hạn, nếu dồn nén quá độ, rất có thể nhiều hành động phạm pháp có thể bùng phát... Vì thế, tư tưởng cho rằng, dân chủ thừa nhận để đạt tới sự nhất trí đòi hỏi sự thoả hiệp và rằng nó có thể không bao giờ đạt đượclà cần lưu tâm. Ởđây, sự tường minh của thể chế, của người cầm quyền, cùng với đó sự hợp tác, khoan dung của các bên liên quan cần phải được mọi chủ thể hành động của xã hội - nhà nước chia sẻ.

Thứ hai, dân chủ là hình thức quá độ để đạt tới sự bình đẳng thực tế, nhưng điều đó rất dễ nhầm lẫn với cào bằng, phản đối mọi sự phân tầng xã hội và hệ quả lớn nhất sẽ làm triệt tiêu động lực của sự phát triển. Vì thế, giới lãnh đạo, quản lý cần hiểu đâu là nguyện vọng, nhu cầu chính đáng của số đông và đâu là việc cần thiết mà số đông chưa cảm nhận được, để bằng “nêu gương”, “làm mẫu”, “thí điểm”...qua đó, tạo sự đồng thuận xã hội - động lực cho sự phát triển. Sự nhắc nhở của Hồ Chí Minh rằng, từ dân là chủ đến dân làm chủ là một quá trình lâu dài vẫn luôn có giá trị. Nói cách khác, dân chủ hiện thực, vừa phải tránh tình trạng theo đuôi số đông, theo kiểu mị dân, “dân túy”, vừa phải có những quyết định hợp “đạo” của nhân tố lãnh đạo, quản lý. 

Thứ ba, ngày nay, dân chủ đại diện là một trong những phát kiến của nền dân chủ hiện đại. Nhưng đi kèm với nó, lại luôn tiềm ẩn khả năng uỷ quyền, trao quyền rồi lại mất quyền. Do đó, cần tạo lập được cơ chế kiểm soát từ phía xã hội đối với các thành tố cấu thành quyền lực chính trị. Từ góc độ này cần:

- Xây dựng một nhà nước pháp quyền hoàn thiện. Bởi lẽ, chỉ có một nhà nước pháp quyền với những yếu tố đầy đủ của nó mới có thể phòng ngừa hay khắc phục những “thất bại” tất yếu nảy sinh từ quá trình đua tranh, cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Nói cách khác, chỉ có nhà nước pháp quyền mới thật sự tạo nên "một cơ chế tự miễn dịch" cho một cơ thể đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ nhiễm bệnh trong xã hội hiện đại.

- Hoàn thiện quy chế phản biện và giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, của nhân dân đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và việc tổ chức thực hiện các chính sách đó, kể cả đối với công tác tổ chức và cán bộ trong bộ máy nhà nước. Tuy nhiên, để việc phản biện, giám sát này thật sự hiệu quả, điều kiện tiên quyết là phải có cơ chế bảo đảm để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị phải có tính độc lập tương đối với Đảng, Nhà nước hơn so với hiện tại.

Theo đó, trước mắt cần giải quyết ba vấn đề có ý nghĩa quyết định sau: 1) Xây dựng hệ thống các tổ chức này theo nguyên tắc tuyến dọc (không bị ràng buộc theo quan hệ ngang); 2) luật hoá nguồn ngân sách hoạt động cho Mặt trận và các tổ chức đoàn thể để những tổ chức này tự chủ về tài chính trong tương quan với tinh giản tổ chức bộ máy của mình; 3) có cơ chế để các thành viên của các tổ chức nói trên tự quyết định lựa chọn ít nhất là thủ lĩnh của tổ chức, phong trào.

- Có cơ chế khuyến khích nhân dân tham gia phản biện, giám sát chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Ngoài việc “Khai dân trí, chấn dân khí”, điều cần thiết là phải có cơ chế để giới lãnh đạo, quản lý tôn trọng những ý kiến khác biệt trong “tranh luận, phản biện xã hội”. Không những thế, nhân dân phải được cung cấp đầy đủ những thông tin mà họ cần biết. Theo tinh thần đó, các chủ thể có thẩm quyền cần có những giải pháp đột phá để khắc phục những "khoảng trống" trong hệ thống pháp luật liên quan đến vấn đề này.

_________________

(1), (2) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 55, 167

                                                                                              PGS,TS Hồ Tấn Sáng

Học viện Chính trị khu vực III

 

Các bài viết khác