Trang chủ    Diễn đàn    Vai trò, vị thế của nữ trí thức Việt Nam trong phát triển bền vững
Thứ năm, 16 Tháng 3 2017 11:38
1062 Lượt xem

Vai trò, vị thế của nữ trí thức Việt Nam trong phát triển bền vững

(LLCT) - Trong thời kỳ đổi mới, nữ trí thức Việt Nam đã không ngừng vươn lên khẳng định vị thế của mình trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đảm nhận nhiều vị trí, trọng trách trong hệ thống chính trị, các doanh nghiệp, cơ quan nghiên cứu khoa học và giáo dục, đào tạo, đơn vị sự nghiệp từ Trung ương đến địa phương, cơ sở.

1. Nữ trí thứclà những người có trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ thuật cao, có kỹ năng, kinh nghiệm, là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ trí thức cả nước. Nhìn từ chiều cạnh giới, họ vừa là bộ phận tiêu biểu về trí tuệ của phụ nữ Việt Nam, đồng thời là những người vợ, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người, có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp trồng người và xây dựng gia đình bền vững.

Trong thời kỳ đổi mới, nữ trí thức Việt Nam đã không ngừng vươn lên khẳng định vị thế của mình trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đảm nhận nhiều vị trí, trọng trách trong hệ thống chính trị, các doanh nghiệp, cơ quan nghiên cứu khoa học và giáo dục, đào tạo, đơn vị sự nghiệp từ Trung ương đến địa phương, cơ sở.

Nhiều nữ trí thức đạt được những giải thưởng cao quý trong nước và quốc tế, vinh dự được Ðảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân và Nhà giáo Ưu tú, Thầy thuốc Nhân dân, Thầy thuốc Ưu tú, Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú, Giải thưởng Kovalepxkai, Bông hồng vàng… Nhiều chức danh khoa học trước đây chỉ có nam giới mới có thể đạt tới thì nay ngày càng nhiều nữ trí thức đạt được (Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Tiến sĩ khoa học...), hoặc được nhận các danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động. Những vị trí trọng trách trong Nhà nước đã có phụ nữ tham gia, như: Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch nước, Bộ trưởng và tương đương... Nhiều nữ doanh nhân thành đạt, năng động, tài ba, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. Theo thống kê của Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, trong lĩnh vực giáo dục, năm học 2011-2013, số phó giáo sư là nữ chiếm 16,8%; 25% số tiến sĩ là nữ, 47,1% thạc sĩ là nữ(1). Ở cấp đại học, giảng viên nữ chiếm 47%. Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, phó giáo sư là nữ chiếm 30,9%, nữ tiến sĩ là 38,6%, và 54,6% nữ thạc sĩ(2). Đặc biệt, trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, y tế, nữ chiếm hơn 70% tổng số lao động.

2. Khoa học và công nghệ có bước tiến nhảy vọt. Ở Việt Nam, Ðảng ta xác định mục tiêu phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại(3). Như vậy, con đường CNH, HĐH đất nước cần rút ngắn thời gian, vừa có những bước phát triển tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt. Muốn vậy, phải tập trung giải quyết ba khâu đột phá, trong đó phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao(4) cần đặc biệt quan tâm. Đồng thời, Đảng ta đã chỉ rõ chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để nước ta phát triển nhanh và bền vững(5).

Để phát triển bền vững, việc phát huy vai trò nguồn nhân lực chất lượng cao,  đặc biệt là đội ngũ trí thức có ý nghĩa quyết định. Do vậy, nhiều nước trên thế giới đã lựa chọn chiến lược “tôn trọng trí thức, trọng dụng nhân tài” là khâu đột phá để tăng tốc phát triển theo hướng bền vững.

Ở Việt Nam, trong Chiến lược Phát triển bền vững giai đoạn 2011 - 2020, Chính phủ cũng đã khẳng định phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển đất nước, trong đó phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội. Trong một số lĩnh vực liên quan đến phát triển bền vững như giáo dục đào tạo, y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân... nữ trí thức đặc biệt có ưu thế và đóng góp to lớn.

3. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển bền vững đất nước, vị thế, vai trò của phụ nữ nói chung, nữ trí thức nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế, nhất là so với đồng nghiệp nam giới.

Một là, số lượng nữ trí thức có trình độ đại học trở lên đang ngày càng tăng nhưng càng ở bậc học cao, tỷ lệ chênh lệch giữa nữ và nam càng lớn. Chẳng hạn, nữ giáo sư hiện chỉ chiếm 5,26%; nữ trí thức được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh chiếm 1,42%; nữ đại biểu Quốc hội khóa XIV chiếm 26,80%; nữ đại biểu HĐND khóa 2016 - 2021, cấp tỉnh/thành chiếm 26,46%, cấp quận, huyện, thị xã chiếm 27,51% và cấp xã, phường, thị trấn chiếm 26,70%...

Hai là, cơ cấu của đội ngũ nữ trí thức còn bất hợp lý trong phân bố vùng miền, cơ cấu ngành nghề, độ tuổi, dân tộc... cũng như đội ngũ trí thức nói chung, nữ trí thức tập trung chủ yếu ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số thành phố lớn. Nữ trí thức người dân tộc thiểu số rất ít ỏi. Phần lớn nữ trí thức có trình độ chuyên gia đã tuổi cao. Nữ trí thức trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, kỹ thuật, chính trị có tỷ lệ thấp; ngành kinh tế và ngành khoa học xã hội chiếm tỷ lệ cao...

Ba là, trình độ ngoại ngữ, tin học, kỹ năng hội nhập và năng lực lãnh đạo, quản lý của một bộ phận nữ trí thức chưa đáp ứng yêu cầu của CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.

Bốn là, gia đình - tế bào của xã hội, đang chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố làm cho các mối quan hệ của gia đình có xu hướng ngày càng lỏng lẻo. Điều này cũng diễn ra trong nhiều gia đình nữ trí thức. Với vai trò “kép”, nữ trí thức gặp rất nhiều khó khăn khi phải vừa thực hiện vai trò, thiên chức người vợ, người mẹ, vừa phải thực hiện vai trò, chức năng của một nhà khoa học, nhà quản lý, lãnh đạo, kinh doanh,... Thậm chí không ít chị phải từ bỏ sự nghiệp để giữ hạnh phúc gia đình; một số làm việc cầm chừng hoặc an phận, dẫn đến hiện tượng “lãng phí chất xám”, “bạc chất xám” của nguồn lực nữ trí thức. Hiện tượng nữ trí thức thành đạt sống độc thân hoặc chấp nhận gia đình “thiếu vắng” đang có xu hướng gia tăng.

Những rào cản ảnh hưởng tới phát triển đội ngũ nữ trí thức là do nguyên nhân khách quan, chủ quan chi phối. Một là, kinh tế - xã hội đất nước còn chưa phát triển, là người vợ, người mẹ, nữ trí thức phải lo toan cuộc sống vật chất hàng ngày, thời gian, tâm sức dành cho công việc bị ảnh hưởng rất nhiều. Hai là, định kiến giới trong xã hội còn khá nặng nề đối với phụ nữ nói chung và càng nặng nề hơn đối với nữ trí thức. Tư tưởng xem thường phụ nữ, thiếu tin tưởng vào năng lực trí tuệ của phụ nữ trong hoạt động khoa học, trong quản lý, lãnh đạo,... của một bộ phận cán bộ quản lý, đồng nghiệp nam và sự níu kéo nhau của chính bản thân nữ trí thức, tạo ra những rào cản lớn trong hoạt động sáng tạo của họ.Ba là,chính sách đối với nữ trí thức, phát huy tiềm năng, vai trò của nguồn nhân lực nữ trí thức còn nhiều bất cập. Cho đến nay, chưa có một chính sách riêng đối với nữ trí thức. Sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với nữ trí thức vẫn còn ghép chung trong chính sách đối với phụ nữ, đối với trí thức nói chung. Một số chính sách đặc thù cho phụ nữ mang tính chất “ưu tiên” lại trở thành rào cản lớn đối với nữ trí thức. Bốn là,bản thân đội ngũ nữ trí thức chưa vươn lên khẳng định mình. Tự ty, an phận, níu kéo nhau... vẫn là rào cản lớn đối với nữ trí thức hiện nay.

4. Bối cảnh mới đòi hỏi đội ngũ trí thức nói chung, nữ trí thức nói riêng phải không ngừng phấn đấu, học hỏi, tiếp cận, cập nhật những thông tin, thành quả khoa học - kỹ thuật phù hợp để phát huy vai trò của mình vào sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế; phát triển bền vững đất nước. Cùng với đội ngũ trí thức cả nước, nữ trí thức là những người đảm nhận trọng trách quan trọng đối với phát triển bền vững đất nước.

Để phát huy vai trò, vị thế của đội ngũ nữ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước bền vững, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức của cộng đồng, người dân, nam giới và nữ giới về vai trò, vị thế của nữ trí thức trong phát triển đất nước

Xóa bỏ định kiến giới không chỉ dừng ở việc thay đổi nhận thức mà quan trọng hơn, phải giúp con người sống với đúng bản chất của mình. Truyền thông phải chú trọng nêu những tấm gương điển hình về sự cống hiến của nữ và nam trí thức; đồng thời cần chỉ rõ thái độ, hành vi phân biệt đối xử với nữ trí thức và hậu quả của nó đối với sự phát triển bền vững đất nước. Từ đó, giúp cho mọi người xác định rõ trách nhiệm phải xây dựng được một thái độ sống đúng đắn, tích cực, thực hiện bình đẳng về giá trị, về vai trò, vị thế của mỗi cá nhân không phân biệt giới, qua đó mỗi người có thể thay đổi chính mình và thay đổi những người xung quanh.

Thứ hai, đổi mới chính sách, pháp luật về bình đẳng giới

Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm qua. Mặc dù vậy, việc ban hành văn bản hướng dẫn, thể chế hóa quy định của pháp luật liên quan đến bình đẳng giới còn chậm. Một trong những rào cản lớn nhất hiện nay là quy định chênh lệch về tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ. Vì vậy, phải sớm khắc phục tình trạng này ngay trong việc sửa đổi bổ sung các văn bản luật có liên quan để bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động. Đã là quy định của luật thì cần phải bình đẳng ngang nhau đối với mọi công dân (nam và nữ đều có tuổi lao động bắt đầu là 15 và tuổi kết thúc là 60), sau đó mới tính đến đặc thù trong từng ngành nghề cụ thể để có những quy định về chế độ tuổi lao động đặc thù áp dụng cho cả nam và nữ của ngành đó.

Ngoài ra, một số chính sách “ưu tiên” khác cũng cần phải nghiên cứu để thực sự phù hợp. Chẳng hạn chính sách nghỉ thai sản cho lao động nữ nên chuyển sang chính sách thai sản cho cha mẹ, trong đó quy định rõ người cha cần nghỉ ít nhất là 30% thời gian, mọi quyền lợi của cha, mẹ đều được giữ nguyên tại nơi làm việc và được tôn trọng trong gia đình. Danh hiệu “giỏi việc nước, đảm việc nhà” cũng cần phải dành cho cả nam và nữ chứ không chỉ dành cho nữ như hiện nay.

Cần khắc phục tình trạng quy định không minh bạch giữa “phân biệt đối xử” và “ưu tiên, ưu đãi” như việc quy định tuổi nghỉ hưu. Chính sách, pháp luật phải tạo ra sự bình đẳng về cơ hội tiếp cận nguồn lực, cơ hội nâng cao năng lực, cơ hội lựa chọn cho mọi công dân Việt Nam, không phân biệt giới tính, đúng tinh thần của Hiến pháp Việt Nam và chuẩn mực quốc tế về quyền của phụ nữ theo tinh thần Công ước CEDAW và các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia, ký kết.

Các cơ quan có thẩm quyền cần sớm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để cụ thể hóa quy định trong Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị “Thực hiện nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ về độ tuổi trong quy hoạch, đào tạo, đề bạt và bổ nhiệm” và quy định tại Khoản 4 Điều 11 Luật Bình đẳng giới “Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý”, có như vậy mới khắc phục được tình trạng quan điểm, chính sách, pháp luật của Việt Nam về bình đẳng giới trong các quy định trên rất tiến bộ nhưng chỉ trên giấy.

Thứ ba, cần có các chính sách hỗ trợ, tạo cơ hội và điều kiện cho nữ trí thức cống hiến

Để hỗ trợ nữ trí thức làm tốt vai trò kép của mình, Đảng và Nhà nước cần ban hành các chính sách hỗ trợ và  tạo điều kiện để nữ trí thức có đủ kiến thức, kỹ năng thực hiện tốt trách nhiệm của mình. Cụ thể là: tạo cơ hội và điều kiện để chị em được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn; xem xét tiêu chí giới khi bổ nhiệm; có các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức của gia đình và cộng đồng, cơ quan về san sẻ vai trò kép đối với phụ nữ; tạo điều kiện cho chị em được học tập, nâng cao kiến thức về tâm lý, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng lãnh đạo...

Trong phát triển kinh tế - xã hội nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần nhân dân, cần quan tâm đến các hoạt động giảm gánh nặng gia đình cho nữ, trong đó có nữ trí thức, như: (i) Phát triển hệ thống dịch vụ gia đình để hỗ trợ giúp các công việc gia đình, từ đó, người vợ và người chồng có thể giảm bớt gánh nặng công việc gia đình, dành thời gian cho các công việc học tập nâng cao trình độ hoặc nghỉ ngơi, giải trí để phục hồi sức lao động; (ii) Tăng cường tuyên truyền, vận động cả nam giới và nữ giới nhận thức được vai trò và trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình của nam giới, vào các công việc nội trợ, nuôi dạy con cái.

Thứ tư, xóa bỏ rào cản từ thái độ tự kỳ thị của phụ nữ

Trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay, nữ trí thức Việt Nam có nhiều cơ hội và cũng gặp nhiều thách thức để có thể khẳng định vai trò của mình. Do đó, bản thân nữ trí thức trước hết phải ý thức được đầy đủ vai trò về giới của mình, mới có thể nắm bắt được những cơ hội, cùng với xã hội, hướng tới cách ứng xử bình đẳng giới. Muốn vậy, nữ trí thức cần nỗ lực nhiều mặt để vượt qua rào cản của sự tự kỳ thị:

Nữ trí thức phải vượt qua tâm lý an phận, phải luôn có ý thức cầu tiến, độc lập trong tư duy; không ngừng nỗ lực để gặt hái thành công.

Chú trọng rèn luyện kỹ năng sống: tự tin, sáng tạo, quyết đoán, lập kế hoạch, biết đối mặt với áp lực, biết chăm sóc bản thân và gia đình. Để có được kỹ năng sống, nữ trí thức phải tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội để tích lũy tri thức và kinh nghiệm sống. Mở rộng các mối quan hệ giao lưu giao  xã hội. Tạo thói quen suy nghĩ tích cực, sẵn sàng chia sẻ, siêng năng lao động, rèn luyện và tự chăm sóc sức khoẻ. Nữ trí thức phải biết tận dụng sự hỗ trợ tích cực từ phía khách quan, cùng với những nỗ lực chủ quan, vượt qua những trở ngại về giới, để đóng góp ngày càng nhiều cho xã hội, xác lập vai trò, tạo vị thế cho bản thân.

Vai trò của người phụ nữ ngày càng được đề cao trong xã hội, điều đó đòi hỏi nữ trí thức phải không ngừng học tập, rèn luyện, đồng thời phải làm tròn vai trò của người mẹ, người vợ trong gia đình. Muốn làm tròn vai trò làm vợ, nữ trí thức phải phát huy trí tuệ để giữ mái ấm gia đình, luôn có ý thức trau dồi tứ đức Công - Dung - Ngôn - Hạnh phù hợp với thời đại. Làm tròn vai trò làm mẹ trong nuôi dưỡng, giáo dục con cái khôn lớn trưởng thành, là tấm gương phản chiếu cho con. Phải biết thu hút các thành viên trong gia đình cùng chia sẻ công việc gia đình, sự nghiệp.

Thứ năm, phát huy vai trò tham mưu của các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp

Liên hiệp Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Nữ trí thức Việt Nam là các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp trực tiếp tham mưu chính sách, luật pháp liên quan đến quyền và nghĩa vụ của lao động nữ trí thức, cần tăng cường các hoạt động nhằm thu hút nữ trí thức góp phần phản biện xã hội, nghiên cứu đề xuất xây dựng chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về bình đẳng giới, về trí thức và lao động nữ phù hợp với bối cảnh hiện nay.

____________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 8-2016

(1) Chính phủ: Báo cáo thực hiện chiến lược quốc gia về bình đẳng giới,2013.

(2) Chính phủ: tài liệu đã dẫn (số liệu đang làm việc tại viện Hàn lâm KHXH Việt Nam và viện Hàn lâm KHCN Việt Nam)

(3) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII,Văn phòng Trung ương Đảng, 2016, tr.76.

(4), (5) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.107, 117, 130, 98.

 

PGS, TS Đỗ Thị Thạch

Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác