Trang chủ    Diễn đàn    Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử các vụ án hình sự theo tinh thần Hiến pháp 2013
Thứ ba, 13 Tháng 6 2017 17:23
626 Lượt xem

Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử các vụ án hình sự theo tinh thần Hiến pháp 2013

(LLCT) - Tranh tụng trong xét xử các vụ án hình sự là việc các bên tham gia tố tụng đưa ra quan điểm, chứng cứ và tranh luận của mình (chủ yếu là bên buộc tội và bên bào chữa) để làm sáng tỏ sự thật của vụ án trên cơ sở những chứng cứ không thể bác bỏ và quy định pháp luật để hội đồng xét xử phán quyết nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp và quy trách nhiệm pháp lý đối với bị cáo, bị hại, qua đó bảo vệ công lý, bảo vệ pháp luật.

Trong những năm gần đây, vấn đề tranh tụng và nâng cao chất lượng tranh tụng được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2-1-2002 của Bộ Chính trị Về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới nêu rõ: “… Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác... Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng của phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời gian quy định”. Tiếp đó, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 2-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 khẳng định: “Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”; Nghị quyết 37/NQ-QH13 của Quốc hội khóa XIII, ngày 23-11-2012 yêu cầu: “Kiểm sát viên phải chủ động, tích cực tranh luận, đối đáp tại phiên tòa xét xử các vụ án hình sự… Tòa án nhân dân tối cao chỉ đạo các Tòa án tiếp tục đẩy mạnh việc tranh tụng tại phiên tòa”.

Trước khi Hiến pháp 2013 được ban hành, vấn đề tố tụng, tranh tụng ở nước ta chưa được quy định là một trong những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật tố tụng hình sự. Mặc dù pháp luật tố tụng hình sự được ban hành trước Hiến pháp 2013, có nhiều quy định chứa đựng nội dung của nguyên tắc tranh tụng, như quy định nguyên tắc  bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc xác định sự thật vụ án, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; các quy định về quyền và nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, các quy định về tranh luận tại phiên tòa. Đặc biệt, Điều 222 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 quy định: “Khi nghị án chỉ được căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa”. Tuy vậy, các quy định trên còn thiếu tính cụ thể, nhất là chưa có văn bản pháp lý nào chính thức ghi nhận nguyên tắc bảo đảm và cơ chế bảo đảm tranh tụng nên thực tiễn hoạt động chưa phát huy hiệu quả. 

Do vậy, trước yêu cầu cải cách tư pháp, trong đó cần  bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự, Hiến pháp năm 2013 đã quy định cụ thể, rõ ràng nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” (Khoản 5, Điều 103 Hiến pháp 2013). Đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, tranh tụng được ghi nhận là một nguyên tắc, phản ánhmột bước tiến lớn, phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp của Nhà nước ta. Nội hàm của nguyên tắc tranh tụng theo Hiến pháp 2013 thể hiện ở các nội dung cơ bản sau:

+ Hoạt động xét xử phải bảo đảm tranh tụng giữa kiểm sát viên với những người tham gia tố tụng khác; tranh tụng là trọng tâm của hoạt động xét xử.

+ Các bên tranh tụng bình đẳng với nhau về quyền đưa ra tài liệu, chứng cứ, yêu cầu; đưa ra các luận điểm, luận cứ và luận chứng của mình; bình đẳng trong đối đáp, tranh luận, chứng minh, bác bỏ quan điểm lần nhau.

+ Kiểm sát viên và người tham gia tranh tụng phải tranh tụng với tinh thần trách nhiệm, trên cơ sở chứng cứ khách quan và quy định của pháp luật; với tinh thần tôn trọng lẫn nhau, thể hiện văn hóa ứng xử.

+ Bản án và quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện các luận điểm, luận cứ và luận chứng của các bên tranh tụng.

+ Tòa án có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện, thực thi các quy định của pháp luật theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự để các bên tham gia tranh tụng.

Với các nội dung trên thì phạm vi điều chỉnh của nguyên tắc tranh tụng chủ yếu là tại phiên toà xét xử vụ án hình sự; bắt đầu từ khi Tòa án mở phiên toà cho đến khi kết thúc phiên tòa và tập trung trong phần tranh luận của kiểm sát viên với những người tham gia tố tụng.

Trên tinh thần đó, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 khẳng định: “tiếp tục duy trì và phát huy những ưu điểm của mô hình tố tụng thẩm vấn; đồng thời, tham khảo kinh nghiệm quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những hạt nhân hợp lý của mô hình tố tụng tranh tụng, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử”(1). Theo đó, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 tiếp tục quy định các nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự như các Bộ luật trước, tuy nhiên, đã bổ sung thêm 5 nguyên tắc mới, đó là: suy đoán vô tội (Điều 13), không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm (Điều 14), tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra(Điều 19), tranh tụng trong xét xử được bảo đảm (Điều 26), kiểm tra, giám sát trong tố tụng hình sự (Điều 33).

Để cụ thể hóa nguyên tắc “tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”, Bộ luật mới đã quy định chế định tranh tụng tại Mục V (Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa) chương XXI (Xét xử sơ thẩm) (từ Điều 306 đến 325), trong đó quy định cụ thể về tranh luận tại phiên tòa: “Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận của mình để đối đáp với Kiểm sát viên về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt; trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án. Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền đưa ra đề nghị của mình” (Khoản 1 Điều 322). Bộ luật cũng quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm của kiểm sát viên trong tranh tụng tại phiên toà xét xử các vụ án hình sự: “Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa. Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác” (Khoản 2 Điều 322). Điều này cũng đã được quy định trong Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014: “Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình trong việc thực hành quyền công tố, tranh tụng tại phiên tòa và kiểm sát hoạt động tư pháp” (Khoản 1 Điều 83). Bên cạnh đó, để bảo đảm chất lượng tranh tụng và việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia trong tranh tụng, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 còn quy định: “Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, phải tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại, người tham gia tố tụng khác tranh luận, trình bày hết ý kiến nhưng có quyền cắt những ý kiến không liên quan đến vụ án và ý kiến lặp lại. Chủ tọa phiên tòa yêu cầu Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến của người bào chữa, người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận” (Khoản 3 Điều 322) và “Hội đồng xét xử phải lắng nghe, ghi nhận đầy đủ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người tham gia tranh luận tại phiên tòa để đánh giá khách quan, toàn diện sự thật của vụ án. Trường hợp không chấp nhận ý kiến của những người tham gia phiên tòa thì Hội đồng xét xử phải nêu rõ lý do và được ghi trong bản án” (Khoản 4 Điều 322).

Nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng trong hoạt động xét xử, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Chỉ thị số 09 ngày 6-4-2016 về tăng cường các biện pháp nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa, trong đó yêu cầu: “Kiểm sát viên phải thường xuyên nghiên cứu, nắm vững các quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, các văn bản pháp luật và hướng dẫn thi hành, đặc biệt là các quy định mới của luật, nâng cao kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức xã hội.v.v. để chủ động tranh tụng tại phiên tòa. Việc xét hỏi, luận tội, tranh luận ở phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và hướng dẫn của ngành”.

Như vậy, quy định nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong Hiến pháp năm 2013 đã thực sự tạo sự chuyển biến mạnh mẽ cả về nhận thức và thực tiễn xét xử. Những quy định pháp luật tố tụng hình sự hiện hành đã và đang phát huy hiệu lực trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm. Công tác điều tra, truy tố, xét xử ngày càng hiệu quả, việc tranh luận tại phiên tòa bảo đảm tính dân chủ, khách quan.

Việc Hiến pháp 2013 quy định về nguyên tắc bảo đảm tranh tụng đã tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của cán bộ tư pháp, của công dân trong quá trình thực hiện các quyền năng khi tham gia tranh tụng. Đồng thời thực tiễn xét xử từng bước thay đổi, với bước tiến mới, trọng tâm là hoạt động tranh tụng được bảo đảm, phát huy tối đa tính công bằng, dân chủ. 

Việc quy định nguyên tắc tranh tụng trong Hiến pháp 2013 là tiền đề để xây dựng và hoàn thiện các quy định về bảo đảm tranh tụng trong các văn bản pháp luật tố tụng, nhằm bảo đảm sự công bằng, công lý trong hoạt động tố tụng: “căn cứ vào kết quả tranh tụng ra bản án, quyết định việc có tội hoặc không có tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp, quyết định về quyền và nghĩa vụ về tài sản, quyền nhân thân”(2). Hiện nay, tố tụng hình sự Việt Nam đã áp dụng kiểu tố tụng thẩm vấn đan xen một số yếu tố tranh tụng(3).

Như vậy, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong hoạt động xét xử đã được Hiến định trong Hiến pháp năm 2013 và tiếp tục được thể chế hóa trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Chỉ thị số 09 ngày 6-4-2016 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và một số Nghị quyết của Quốc hội(4), v.v.. đã trở thành một trong những nguyên tắc quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động tố tụng hình sự, bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan sai người vô tội, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người.

­­­­­­­­­­­________________

(1) Viện Kiểm sát nhân dân tối cao: Tài liệu tập huấn Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hà Nội, tr. 4-5

(2) Khoản 2, Điều 2, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014.

(3) Dương Thanh Biểu: Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, Nxb Tư pháp, 2005, tr.18

(4) Nghị quyết số 37/2012/QH13 ngày 23-11-2012; Nghị quyết số 63/2013/QH13 ngày 27-11-2013; Nghị quyết số 111/2015/QH13 ngày 27-11-2015; Nghị quyết số 96/2015/QH13; v.v..

 

Trần Thị Hương

Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh

 

 

Các bài viết khác