Trang chủ    Nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu lý luận

Quan điểm của V.I.Lênin về tính quy luật của sự chuyển hóa từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa

(LLCT) - V.I.Lênin khẳng định: chủ nghĩa tư bản là một giai đoạn phát triển của sản xuất hàng hóa, không những sản phẩm lao động của con người trở thành hàng hóa mà sức lao động của con người cũng trở thành hàng hóa, nghĩa là sự phát triển của chủ nghĩa tư bản gắn liền với sự hình thành của các loại thị trường; phân công lao động xã hội càng phát triển thì quy mô thị trường càng được mở rộng… Những quan điểm của V.I.Lênin có ý nghĩa thực tiễn trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay.

Cao Bằng - nơi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc hồi sinh sức sống và đổi mới Đảng

(LLCT) - Sau 30 năm bôn ba nước ngoài tìm đường cứu nước và chuẩn bị những điều kiện cơ bản về lý luận và tổ chức cho cách mạng Việt Nam, ngày 28-1-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc. Thôn Pác Bó (Cao Bằng) được Người chọn làm nơi ở và làm việc đầu tiên để trực tiếp lãnh đạo công cuộc giải phóng dân tộc. Tại đây, Người đã thực hiện thành công những nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, quyết định trực tiếp tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám (1945).

Tiếp cận hệ thống trong quản lý xã hội nông thôn Việt Nam hiện nay

Tiếp cận hệ thống trong quản lý xã hội nông thôn Việt Nam hiện nay

(LLCT) - Tiếp cận hệ thống tổng quát bao gồm 3 yếu tố: khái niệm hệ thống, lý thuyết hệ thống và phương pháp hệ thống. Tiếp cận hệ thống xã hội có đặc trưng kép: vừa là tiếp cận hệ thống tổng quát được đặc thù hóa vào khu vực xã hội, vừa có đặc thù riêng của xã hội với tư cách là hệ thống đặc thù. Từ góc nhìn hệ thống xã hội nói chung, hệ thống xã hội nông thôn nói riêng, xem xét tình trạng thống nhất mâu thuẫn biện chứng giữa 2 hệ thống quản lý xã hội: Nhà nước quản lý xã hội nông thôn và cộng đồng làng xã tự quản đề xuất kiến nghị quan điểm định hướng và giải pháp phát triển lành mạnh (tức là phát triển toàn diện, hài hòa và bền vững) đối với quản lý xã hội trong tiến trình xây dựng nông thôn mới gắn với kiến tạo đô thị mới ở Việt Nam hiện nay.

Tầm nhìn Hồ Chí Minh về giá trị Xô Viết

(LLCT) - Cách mạng Tháng Mười mở ra thời đại của một chính sách đối ngoại mới, chính sách hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc. Sắc lệnh hòa bình là cơ sở chính sách đối ngoại của Nhà nước Xôviết. Từ đó Liên Xô trước sau như một, luôn luôn chủ trương chung sống hòa bình giữa các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị và xã hội. Chính sách hòa bình kiên quyết của Liên Xô là chỗ dựa cho tất cả các dân tộc chống lại những lực lượng chiến tranh. Liên Xô không chỉ tuyên bố chính sách hòa bình mà còn thực sự hành động ủng hộ các dân tộc đấu tranh cho độc lập của họ, chống sự nô dịch và xâm lược của chủ nghĩa đế quốc.

Quan điểm của  chủ nghĩa Mác - Lênin và mối quan hệ giữa tôn giáo và kinh tế

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và mối quan hệ giữa tôn giáo và kinh tế

(LLCT) - Mối quan hệ giữa tôn giáo và kinh tế là một nội dung cơ bản trong quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo. Đó là: tôn giáo có nguồn gốc từ kinh tế, do đời sống sản xuất vật chất sinh ra, sự tồn tại hay biến đổi của tôn giáo do đời sống kinh tế - xã hội quyết định. Tôn giáo là một cơ chế che giấu các mối quan hệ của đời sống xã hội hiện thực, khi chế độ sản xuất thay đổi, khoa học phát triển, đời sống vật chất, trình độ nhận thức của con người nâng cao sẽ làm cho tôn giáo suy giảm và cuối cùng sẽ mất đi, nhưng đó là một quá trình lâu dài và phức tạp. Mặt khác, với tư cách là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, tôn giáo cũng có sự tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng, trong đó có đời sống kinh tế.

Vận dụng lý luận của V.I.Lênin về sự kết hợp các mặt đối lập để giải quyết các mối quan hệ lớn hiện nay

(LLCT) - Đại hội XII của Đảng (2016) khẳng định: “Tiếp tục quán triệt và xử lý tốt các quan hệ lớn: quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa Nhà nước và thị trường; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”(1).

Sự phát triển nhận thức của Đảng về xây dựng quan hệ dân tộc ở Việt Nam

(LLCT) - Từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn nhất quán quan điểm vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc luôn có vị trí chiến lược, lâu dài trong sự nghiệp cách mạng. Xây dựng quan hệ dân tộc trên nguyên tắc “bình đẳng, đoàn kết, tương trợ trên tinh thần tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau”, hướng tới mục tiêu chung: xây dựng khối đoàn kết dân tộc, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội.

Xây dựng nhà nước kiến tạo thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh

(LLCT) - Hiện nay, quan điểm nhà nước cần bảo vệ cạnh tranh lành mạnh, loại trừ cạnh tranh không lành mạnh và chống độc quyền đã trở nên phổ biến. Việc thực hiện quan điểm này ở các nước đi trước có thể cung cấp bài học kinh nghiệm cho các nước đi sau trong phát triển kinh tế thị trường như Việt Nam.

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chi bộ Đảng nông thôn

(LLCT) - Chi bộ Đảng là hạt nhân chính trị, lãnh đạo toàn diện các mặt công tác trên địa bàn, có vị trí cực kỳ quan trọng trong hệ thống tổ chức của Đảng. Muốn đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở, trước hết phải tập trung xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng của chi bộ đảng ở nông thôn. Do vậy, cần quán triệt quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng chi bộ Đảng nói chung và chi bộ đảng ở nông thôn nói riêng.

Quan điểm của Hồ Chí Minh về hợp tác cùng có lợi giữa các quốc gia

Quan điểm của Hồ Chí Minh về hợp tác cùng có lợi giữa các quốc gia

(LLCT) - Hợp tác cùng có lợi là nhu cầu khách quan của tất cả các quốc gia, dân tộc vì sự phát triển và tiến bộ. Kế thừa truyền thống yêu chuộng hòa bình, hữu nghị của dân tộc, xuất phát từ yêu cầu thực tế của cách mạng Việt Nam và lợi ích của nhân dân các quốc gia trên thế giới, Hồ Chí Minh đã sớm chỉ ra sự cần thiết phải hợp tác, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm giữa các dân tộc, các quốc gia trên thế giới.

Triết lý nhân sinh trong tư tưởng khoan dung tôn giáo của Hồ Chí Minh

Triết lý nhân sinh trong tư tưởng khoan dung tôn giáo của Hồ Chí Minh

(LLCT) - Kế thừa truyền thống khoan dung tôn giáo của dân tộc, Hồ Chí Minh đã phát triển, nâng tầm thành tư tưởng khoan dung tôn giáo mang bản chất nhân văn của người cộng sản. Đây chính là một trong những yếu tố góp phần hình thành triết lý nhân sinh Hồ Chí Minh. Và chính triết lý nhân sinh ấy đã tạo nên giá trị nhân văn sâu sắc trong tư tưởng của Người về khoan dung tôn giáo; từ đó góp phần tập hợp, đoàn kết đồng bào tôn giáo vào khối đại đoàn kết toàn dân tộc phục vụ sự nghiệp cách mạng.

Từ góc độ văn hóa nhận thức về sự lựa chọn con đường Cách mạng Tháng Mười của Hồ Chí Minh

(LLCT) - Hồ Chí Minh lựa chọn theo con đường cách mạng vô sản xuất phát từ sự nhìn nhận thang giá trị cao nhất của văn hóa là giải phóng dân tộc và giải phóng con người. Người lựa chọn đi theo Cách mạng Tháng Mười vì những giá trị lý luận và thực tiễn của cuộc cách mạng này, với các giá trị văn hóa phù hợp với giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” và đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị hiện nay

(LLCT)- Tư tưởng chính trị trong Đảng là lĩnh vực quan trọng, liên quan đến nền tảng tư tưởng, lý tưởng chính trị, niềm tin của cán bộ, đảng viên với sự nghiệp của Đảng, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Ra đời 70 năm trước (1947), nội dung tác phẩm Sửa đổi lối làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Trong đó, có đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị trong Đảng.

Tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo của Đảng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn trong tình hình mới

(LLCT) - Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Công đoàn là vấn đề có ý nghĩa quan trọng hàng đầu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn trong tình hình mới.

Cơ chế giám sát của tổ chức Đảng và nhân dân nơi cư trú đối với Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp

Cơ chế giám sát của tổ chức Đảng và nhân dân nơi cư trú đối với Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp

(LLCT) - Trước yêu cầu nhiệm vụ đổi mới toàn diện đất nước, đổi mới công tác xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ mới, công tác giám sát đã được Đảng đề cập, nhấn mạnh trong Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, Nghị quyết Trung ương 6, Nghị quyết Trung ương 9 khóa IX về vị trí, vai trò công tác giám sát và yêu cầu phải thực hiện tốt công tác giám sát trong Đảng và trong toàn hệ thống chính trị; đề cập đến nhiệm vụ giám sát của Đảng, Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. 

Trang 1 trong tổng số 27 trang.