Trang chủ    Nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu lý luận

Quan điểm của Hồ Chí Minh về bảo vệ môi trường sinh thái

Quan điểm của Hồ Chí Minh về bảo vệ môi trường sinh thái

(LLCT) - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Mỗi lời nói, hành động của Người đều hướng tới lợi ích thiết thực của con người, hướng tới sự hài hòa giữa con người, xã hội với thiên nhiên, trong đó việc bảo vệ môi trường sinh thái cũng không nằm ngoài mục đích đó. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái được thể hiện rõ thông qua đời sống sinh hoạt của Người, những bài viết, bài nói, những phong trào, những lời khuyên răn đối với nhân dân, cán bộ. Đến cuối đời, trong những lời dặn dò trong Di chúc, Bác cũng không quên đề cập đến vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề đạo đức cách mạng

(LLCT) - Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc rèn luyện đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên, bởi “Có đạo đức cách mạng thì mới hy sinh tận tụy với cách mạng, mới lãnh đạo được quần chúng, đưa cách mạng tới thắng lợi hoàn toàn”(1). Ở mỗi giai đoạn cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại bổ sung những tiêu chuẩn đạo đức cho phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn để giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên hướng đến hoàn thiện tư cách đạo đức của người cách mạng chân chính.

Kiểm soát quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền

(LLCT) - Kiểm soát quyền tư pháp là vấn đề nan giải và phức tạp cả trên góc độ lý luận và thực tiễn, điều này xuất phát từ những mâu thuẫn nội tại của bản thân đời sống xã hội và tính đặc thù của quyền tư pháp - đó là sự độc lập trong mối quan hệ với quyền lập pháp và hành pháp. Quyền tư pháp là quyền xét xử mà nhân dân giao cho Tòa án, đây là quyền bảo vệ ý chí chung của quốc gia bằng việc xét xử các hành vi vi phạm hiến pháp, pháp luật từ phía công dân và cơ quan nhà nước; cơ quan, tổ chức và cá nhân không được can thiệp vào hoạt động của cơ quan tư pháp. Bảo vệ pháp luật, công lý, tự do của công dân là trách nhiệm hàng đầu của tư pháp. Có thể có nhiều cách khác nhau trong tổ chức thực thi quyền lực nhà nước nhưng tư pháp độc lập là một trong những nguyên tắc quan trọng mang tính quyết định của Nhà nước pháp quyền (NNPQ).

Lý luận về phát triển kinh tế ở Việt Nam: Thành tựu và hạn chế

(LLCT) - Lý luận về phát triển kinh tế do Adam Smith hình thành, sau đó được C.Mác và các nhà kinh tế học khác phát triển cho tới ngày nay. Lý luận này là cơ sở để hoạch định và thực thi chính sách phát triển của các nền kinh tế thị trường. Việt Nam đã tiếp cận hệ thống lý luận về phát triển kinh tế kể từ khi tiến hành đổi mới đến nay, tuy đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong nhận thức và tổ chức thực tiễn, song vẫn đang phải đối mặt với không ít thách thức để phát triển.

Quán triệt quan điểm của V.I.Lênin về nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và thanh lọc đảng viên

Quán triệt quan điểm của V.I.Lênin về nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và thanh lọc đảng viên

(LLCT) - Tư tưởng của V.I.Lênin về đảng kiểu mới, về những “điều kiện gia nhập Quốc tế Cộng sản” và “Vấn đề thanh đảng”, vẫn còn giá trị trong quá trình thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng. Những kết quả đạt được và những vấn đề đặt ra đang đòi hỏi tiếp tục quán triệt và  thực hiện nghiêm túc tư tưởng của V.I.Lênin. Đổi mới, chỉnh đốn Đảng, trong đó nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng theo tư tưởng của V.I.Lênin là nhiệm vụ cấp thiết của toàn Đảng hiện nay.

Mối quan hệ giữa địa chính trị và địa kinh tế: Lý luận và thực tiễn

(LLCT) - Địa kinh tế và địa chính trị có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại và gắn bó chặt chẽ với nhau. Trong khi nhân tố địa kinh tế ngày càng gia tăng sức nặng và tầm quan trọng trong chính trị quốc tế thì ngược lại, biến động và đảo lộn địa chính trị sẽ tác động đến địa kinh tế. Nhận thức đúng đắn mối quan hệ giữa địa kinh tế và địa chính trị, vận dụng, xử lý hiệu quả các vấn đề địa chính trị và địa kinh tế trong hoạch định và thực thi chiến lược phát triển quốc gia, nhất là chiến lược đối ngoại và hội nhập quốc tế là chìa khóa quan trọng để đưa đất nước đi tới sự ổn định và thịnh vượng.

Những yêu cầu của quản lý nhà nước về an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay

Những yêu cầu của quản lý nhà nước về an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay

(LLCT) - Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã có những tiến bộ đáng kể trong việc đảm bảo an sinh xã hội được thể hiện rõ qua việc xây dựng và thực hiện tốt các chính sách bảo hiểm, góp phần giảm bớt khó khăn, ổn định cuộc sống cho người dân. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và Cách mạng công nghiệp 4.0, quản lý nhà nước về an sinh xã hội đứng trước nhiều thách thức. Bài viết này, lý giải các yêu cầu của hội nhập quốc tế và Cách mạng công nghiệp 4.0 đối với quản lý nhà nước về an sinh xã hội.

Tính đúng đắn trong quan điểm của C.Mác về nhân tố người lao động trong lực lượng sản xuất và một số điểm cần bổ sung, phát triển

(LLCT) - Trong thời gian qua, thế giới đã chứng kiến những bước phát triển nhảy vọt của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại. Những thành tựu của cuộc cách mạng này đã và đang góp phần quan trọng vào thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất khiến nhiều người cho rằng khoa học, công nghệ đang dần thay thế vị trí trung tâm và vai trò quyết định của con người trong lực lượng sản xuất. Bài viết đưa ra căn cứ để tiếp tục khẳng định tính cách mạng và tính khoa học của C.Mác khi đề cao vai trò của nhân tố người lao động trong lực lượng sản xuất; đồng thời đề xuất một số điểm cần bổ sung, phát triển cho phù hợp với bối cảnh hiện nay.

Từ lý luận phân phối của C.Mác tới thực tiễn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam

(LLCT) - Học thuyết kinh tế của C.Mác nhận định phân phối là một trong 3 mặt của quan hệ sản xuất, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động lực thúc đẩy sự phát triển. Ở Việt Nam hiện nay cần xem xét quan hệ phân phối trong tổng hòa quan hệ sản xuất có tính tới đặc thù theo từng giai đoạn phát triển và thừa nhận nhiều hình thức phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nhằm tạo động lực, cơ hội bình đẳng cho tất cả chủ thể kinh tế trong xã hội phát triển.

Quốc tế cộng sản đối với phong trào cách mạng ở các nước Đông Âu - vai trò và bài học kinh nghiệm

(LLCT) - Trong lịch sử phong trào cộng sản quốc tế, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) có vị trí, vai trò to lớn. Ngay khi ra đời, Quốc tế Cộng sản đã có những ảnh hưởng to lớn với phong trào cách mạng ở các nước Đông Âu. Những ảnh hưởng đó diễn ra trên nhiều phương diện: thúc đẩy sự ra đời các đảng cộng sản; thúc đẩy sự xóa bỏ các chế độ quân chủ, chuyên chế; phát triển các phong trào cánh tả; chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại; chống chiến tranh và bảo vệ hòa bình. Sự ra đời và hoạt động của Quốc tế Cộng sản tuy thời gian ngắn nhưng cũng để lại nhiều bài học sâu sắc cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Quan điểm của Quốc tế cộng sản về vấn đề dân tộc thuộc địa và ý nghĩa với cách mạng Việt Nam

(LLCT) - Năm 1919, dưới sự lãnh đạo của V.I.Lênin và Đảng Bônsêvích Nga, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) được thành lập. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Quốc tế Cộng sản là phát triển lý luận và lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Quan điểm của Quốc tế Cộng sản về vấn đề dân tộc và thuộc địa là ngọn cờ lý luận và kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam, cả trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và xây dựng CNXH hiện nay.

Hồ Chí Minh với Quốc tế cộng sản và sự vận dụng sáng tạo lý luận Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam

(LLCT) - Trong những năm bôn ba tìm đường cứu nước, bằng trí tuệ mẫn tiệp và sự nhạy cảm chính trị, Hồ Chí Minh đã lựa chọn Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) và tự nguyện đứng trong hàng ngũ của Quốc tế III bởi trên hết, Người tìm thấy mục tiêu mà mình theo đuổi trong đường lối của tổ chức cộng sản này. Kể từ đó, Hồ Chí Minh trở thành một người cộng sản, được Quốc tế Cộng sản giáo dục, rèn luyện và đã có những đóng góp quan trọng cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, trở thành một chiến sĩ cộng sản quốc tế lỗi lạc. Là một người mác xít chân chính, Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Kết hợp đức trị và pháp trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh - biện pháp quan trọng trong công tác xây dựng đảng về đạo đức hiện nay

Kết hợp đức trị và pháp trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh - biện pháp quan trọng trong công tác xây dựng đảng về đạo đức hiện nay

(LLCT) - So với lý luận của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, điểm khác biệt trong tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng nằm ở chỗ: Người chủ trương xây dựng Đảng không chỉ về tư tưởng, chính trị, tổ chức mà còn về đạo đức với mong muốn Đảng phải là “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Với tư duy biện chứng, Hồ Chí Minh cho rằng: muốn xây dựng Đảng vững mạnh thì phải dựa vào 2 trụ cột là đạo đức và pháp luật, do vậy để đạt mục tiêu xây dựng Đảng về đạo đức như Đại hội XII đặt ra, tăng cường kết hợp đức trị với pháp trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một giải pháp trọng yếu.

Sự biến đổi đời sống tôn giáo ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0

Sự biến đổi đời sống tôn giáo ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0

(LLCT)- Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo trong hơn 30 năm qua đã làm chuyển biến sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội trong đó có đời sống tôn giáo, tín ngưỡng. Bài viết này trình bày những biến đổi của đời sống tôn giáo ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) trên các phương diện: biến đổi về diện mạo và cấu trúc tôn giáo; biến đổi niềm tin tôn giáo và hệ lụy của nó; biến đổi về phương thức truyền giáo và sống đạo, góp phần nâng cao nhận thức về đời sống tôn giáo ở nước ta hiện nay.

Tính nhân văn của học thuyết Mác  và ý nghĩa thời đại của nó

Tính nhân văn của học thuyết Mác và ý nghĩa thời đại của nó

(LLCT) - Một trong những giá trị đặc trưng tạo nên sức sống của học thuyết Mác chính là ở tính nhân văn của nó. Chủ nghĩa Mác có sự thống nhất giữa tính nhân văn với tính khoa học và tính cách mạng, gắn với sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản nói riêng, giải phóng con người nói chung khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, bảo vệ những quyền cơ bản của con người, đặc biệt là của đa số người lao động trong xã hội. Chủ nghĩa nhân văn của C.Mác chính là yếu tố làm nên sức sống mới cho chủ nghĩa Mác trong thời đại ngày nay.

Trang 1 trong tổng số 33 trang.