Trang chủ    Nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu lý luận

Vai trò của khoa học, công nghệ trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam hiện nay

Vai trò của khoa học, công nghệ trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam hiện nay

(LLCT) - Trước những hạn chế và bất cập trong việc ứng dụng khoa học, công nghệ vào phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta, Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: “Phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ làm cho khoa học, công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại”.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương

(LLCT) - Quan điểm Hồ Chí Minh vềhợp tác quốc tếđược hình thành là kết quả của sự khảo nghiệm thực tiễn, kế thừa truyền thống lịch sử dân tộc dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, nhận thức quy luật vận động và xu thế phát triển của thời đại. Người nhận thấy rõ việc hợp tác quốc tế là đòi hỏi khách quan của sự phát triển xã hội, là một nhân tố quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước.

Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về tiến bộ xã hội và ý nghĩa trong nhận thức mục tiêu phát triển ở Việt Nam

(LLCT) - Trên cơ sở tiếp thu thế giới quan và phương pháp luận triết học Mác và kế thừa giá trị truyền thống phương Đông, Hồ Chí Minh chỉ rõ vai trò và địa vị của quần chúng trong sự vận động lịch sử xã hội và mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Trong tư tưởng triết học Hồ Chí Minh, tiến bộ xã hội còn phản ánh mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tự do, bình đẳng và công bằng xã hội là mục tiêu và là nội dung căn bản để hiện thực hóa những giá trị, lý tưởng cao đẹp của CNXH. Người đề cao công bằng xã hội trong việc làm yên lòng dân để xã hội ổn định và phát triển.

Chế độ sở hữu và vấn đề giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

(LLCT)Học thuyết GTTD của C.Mác đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế - xã hội mới, cơ cấu của GTTD có nhiều thay đổi, lao động quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng hơn trong việc tạo ra GTTD. Vì vậy, cần thường xuyên cập nhật, đổi mới cách xem xét vấn đề này để khắc phục sai lầm trong cách hiểu trước đây.

Quan hệ tộc người ở Việt Nam và một số giải pháp xây dựng quan hệ tộc người tốt đẹp

Quan hệ tộc người ở Việt Nam và một số giải pháp xây dựng quan hệ tộc người tốt đẹp

(LLCT) - Ở Việt Nam hiện nay, các tộc người phát triển về mọi mặt, xu hướng cố kết cộng đồng dân tộc được phát huy, tính thống nhất hữu cơ giữa các tộc người trong quốc gia, dân tộc được củng cố, tăng cường. Tuy vậy, quan hệ tộc người đang tiềm ẩn những vấn đề xã hội; những tác động từ âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Giải pháp xây dựng quan hệ tộc người trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay là: nhận thức đầy đủ hơn các vấn đề lý luận liên quan về dân tộc, tộc người; xây dựng và hoàn thiện chính sách dân tộc nhằm đạt được các mục tiêu phát triển đất nước ttrong tình hình mới; thể chế hóa chính sách dân tộc của Đảng, Hiến pháp thành các quy định pháp luật; đấu tranh chống âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn giáo nhằm “diễn biến hòa bình”.

Vấn đề xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong Văn kiện Đại hội XII

(LLCT) - Tư duy lý luận mới của Đảng về xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong Văn kiện Đại hội XII là sự kế thừa những nội dung cốt lõi đã được khẳng định trong các văn kiện trước đây, thể hiện ở các vấn đề cơ bản: xác định phương hướng xây dựng, phát triển văn hóa, con người trong thời kỳ quá độ ở nước ta, chỉ rõ bản chất các mâu thuẫn của quá trình xây dựng, phát tiển văn hóa, con người trong thời kỳ quá độ lên CNXH; xác định vai trò và các nhiệm vụ có tính toàn diện, sâu sắc về xây dựng và phát triển văn hóa, con người, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Tư duy lý luận mới thể hiện sâu sắc về mối quan hệ giữa xây dựng con người phát triển toàn diện với mục tiêu của chiến lược phát triển đất nước.

Nâng cao năng lực dự báo chiến lược theo tinh thần Đại hội XII của Đảng

(LLCT) - Trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội XII, Đảng ta nhận định: “Công tác dự báo, hoạch định và lãnh đạo tổ chức thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý phát triển xã hội còn nhiều bất cập”(1), “Năng lực dự báo còn hạn chế, cho nên một số chủ trương, chính sách, giải pháp đề ra chưa phù hợp”(2). Do đó cần “nâng cao chất lượng công tác dự báo tình hình”(3). Bài viết đề cập những điểm mới trong công tác nghiên cứu dự báo liên quan đến hoạch định chiến lược quốc phòng, an ninh, đối ngoại ở nước ta trong thời kỳ mới. 1. Cần nhận rõ kết hợp quốc phòng, an ninh, đối ngoại đã trở thành nhu cầu nội sinh

Tư duy mới của Đảng về tăng cường sức mạnh quốc phòng bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới

Tư duy mới của Đảng về tăng cường sức mạnh quốc phòng bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới

(LLCT) - Trước bối cảnh mới đang đặt ra yêu cầu phát triển những quan điểm, định hướng cơ bản và tư duy mới về tăng cường sức mạnh, tiềm lực quốc phòng để bảo vệ Tổ quốc, Đại hội XII của Đảng nêu quan điểm kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, đảo của Tổ quốc. Đại hội xác định nhiệm vụ xây dựng sức mạnh quốc phòng để bảo vệ độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ; chủ động đối phó trong mọi tình huống; kết hợp xây dựng lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân với xây dựng lực lượng và thế trận an ninh nhân dân; xây dựng thế trận lòng dân làm nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Đổi mới và phát triển theo quan điểm Đại hội XII của Đảng

(LLCT) - Những thay đổi trong 30 năm vừa qua và những đổi mới và phát triển tại Đại hội XII là nhờ đổi mới tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về mọi mặt, từ tư duy về chính trị, tư duy về kinh tế, tư duy về đối ngoại và văn hóa, đến tư duy về quốc phòng, an ninh... Có thể khẳng định, trong những thời khắc thăng trầm của lịch sử, đổi mới và phát triển, trong đó có đổi mới tư duy đã làm cho Đảng ta ngày một mạnh lên, làm cho đất nước ta ngày một phát triển và giàu mạnh hơn, nhân dân ta ngày càng có cuộc sống ấm no, hạnh phúc hơn. Trên tinh thần Đại hội XII, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ra sức phấn đấu để đưa nghị quyết Đại hội vào cuộc sống, biến những tư tưởng chỉ đạo thành hiện thực để đất nước ta luôn phát triển và hưng thịnh.

Phát triển văn hóa, con người Việt Nam toàn diện theo tinh thần Đại hội XII của Đảng

Phát triển văn hóa, con người Việt Nam toàn diện theo tinh thần Đại hội XII của Đảng

(LLCT) - Đại hội XII của Đảng khẳng định quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tận dụng thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ công cuộc đổi mới, phát triển đất nước nhanh và bền vững, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vững bước đi lên CNXH.

Một số vấn đề về giai cấp công nhân và chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh hiện nay

Một số vấn đề về giai cấp công nhân và chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh hiện nay

(LLCT) - Với quan niệm, chủ nghĩa Mác chỉ có thể được bảo tồn và làm giàu một cách sáng tạo trên cơ sở những thành tựu mới của khoa học hiện đại và những đánh giá đúng những thay đổi của thế giới, một số nhận định của Mác về giai cấp công nhân, về chủ nghĩa xã hội cần được bổ sung, bởi: giai cấp công nhân hiện đã có nhiều biến đổi so với thế kỷ XIX, như nguồn gốc xuất thân từ đô thị, cơ cấu giai cấp đa dạng... Thực tế cũng làm nảy sinh yêu cầu nhận thức mới về vấn đề sở hữu tư nhân và chế độ người bóc lột người; về  chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân và chủ nghĩa dân tộc; về những điều kiện khách quan cho xây dựng chủ nghĩa xã hội và phát triển rút ngắn, vai trò của nhân tố chủ quan trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội,...

Vấn đề bảo vệ môi trường theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng

Vấn đề bảo vệ môi trường theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng

(LLCT) - Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp CNH, HĐH đất nước đang giành được những thành tựu hết sức to lớn. Nền kinh tế phát triển nhanh, ổn định. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh theo hướng hiện đại. Đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện. Tuy nhiên đi kèm với sự phát triển kinh tế là nguy cơ về ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng. Ô nhiễm môi trường là một trong những tác nhân gây ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế và sức khỏe nhân dân. Bảo vệ môi trường để hướng tới phát triển bền vững là mục tiêu quan trọng hàng đầu mà Đảng đề ra.

Sự phát triển nhận thức của Đảng về phát huy nhân tố con người trong phát triển đất nước

(LLCT) - Vấn đề giải phóng và phát triển toàn diện con người là mục tiêu cao nhất trong suốt tiến trình cách mạng do Đảng ta lãnh đạo, đặc biệt từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, CNH, HĐH gắn với phát triển nền kinh tế tri thức. Trong tiến trình phát triển ấy, vấn đề con người không chỉ với tư cách mục tiêu phát triển, mà còn với tư cách là động lực quan trọng trong việc xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. 

Dân chủ, đồng thuận trong hoạch định và thực thi chính sách, luật pháp về tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

(LLCT) - Trong lịch sử chính trị Việt Nam, từ đầu thế kỷ XVII, các chúa Trịnh (đàng Ngoài), chúa Nguyễn (đàng Trong) và các đời vua nhà Nguyễn đầu thế kỷ XIX như Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đã ra các sắc chỉ, chỉ dụ cấm đạo (tôn giáo) hoặc phân sáp, thích chữ, tả đạo đối với giáo dân (1), làm tổn hại đến hoà khí của dân, hoà khí của nướcvà những hệ lụy ở nửa cuối thế kỷ XIX. Đó là những bài học lịch sử trong việc hoạch định và thực thi chính sách, luật pháp đối với tôn giáo. Ở đây, xin bàn thêm về vấn đề dân chủ, đồng thuận trong việc xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật về tôn giáo nhân dịp góp ý cho Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.

Khoa học chính sách xã hội: Mô hình tiếp cận lý thuyết và thực tiễn Việt Nam

(LLCT) - Ở Việt Nam, chính sách xã hội được xem là một bộ phận của chính sách công về các vấn đề xã hội và được nghiên cứu từ góc độ tổng kết kinh nghiệm thực tế. Tuy nhiên trên thế giới, chính sách xã hội còn được coi là một ngành khoa học trong các khoa học chính sách, có đối tượng, lý thuyết, khái niệm và phương pháp nghiên cứu. Do vậy, cần tìm hiểu các mô hình tiếp cận lý thuyết khoa học chính sách xã hội để có thể vận dụng và phát triển chính sách xã hội với tính cách là một môn khoa học, một ngành đào tạo và một loại hoạt động chuyên môn nghề nghiệp ở Việt Nam.

 
Trang 11 trong tổng số 32 trang.