Trang chủ    Nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu lý luận

Tăng trưởng kinh tế với giảm nghèo: Lý luận và thực tiễn tại Việt Nam

Tăng trưởng kinh tế với giảm nghèo: Lý luận và thực tiễn tại Việt Nam

(LLCT) - Tăng trưởng kinh tế (TTKT) là điều kiện cần, song không phải là điều kiện đủ để giảm nghèo. Ngược lại, giảm nghèo thúc đẩy TTKT, nhưng cũng có thể cản trở TTKT. Trong thời gian qua, các thành tựu TTKT đã góp phần giảm nghèo, tuy nhiên bên cạnh đó, vẫn còn nhiều hạn chế đòi hỏi Chính phủ Việt Nam phải có những biện pháp cụ thể, thích hợp để bảo đảm vừa thúc đẩy TTKT, vừa giảm nghèo bền vững.

Kết quả và kinh nghiệm bước đầu thực hiện các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về công tác tổ chức, cán bộ

Kết quả và kinh nghiệm bước đầu thực hiện các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về công tác tổ chức, cán bộ

(LLCT) - Hai trong sáu nhiệm vụ trọng tâm được Đại hội XII của Đảng xác định về cơ bản đều là công tác tổ chức, cán bộ: (1) Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ và (2) Xây dựng tổ chức bộ máy của toàn hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Thời gian qua, công tác tổ chức, cán bộ có sự chuyển biến rõ rệt, tạo dấu ấn quan trọng trong cả nhiệm kỳ và đem lại nhiều bài học kinh nghiệm quý.

Chủ động tham gia Cách mạng công nghiệp lần thứ tư - Cơ hội, thách thức và giải pháp của Việt Nam

Chủ động tham gia Cách mạng công nghiệp lần thứ tư - Cơ hội, thách thức và giải pháp của Việt Nam

(LLCT) - Chủ động tham gia Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0) là yêu cầu vừa cơ bản, vừa cấp thiết nhằm khắc phục nguy cơ tụt hậu xa hơn, thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh, bền vững. Nhà nước kiến tạo hỗ trợ đẩy mạnh đầu tư, liên doanh, liên kết giữa các chủ thể kinh tế (CTKT), tạo ra các tập đoàn KTNN và KTTN đóng vai trò những “con sếu đầu đàn” kéo các CTKT khác chủ động tham gia vào CMCN 4.0. Các chủ thể kinh tế, với nòng cốt là các doanh nghiệp, chủ động nỗ lực ứng dụng, tiếp nhận, chuyển giao, làm chủ tiến bộ khoa học - công nghệ, làm nền tảng, động lực của chiến lược tổng thể phát triển kinh tế xã hội nhanh, bền vững.

Chủ động, tích cực tham gia Cách mạng công nghiệp 4.0 - Cơ hội để Việt Nam “đi tắt, đón đầu” trong chiến lược phát triển

Chủ động, tích cực tham gia Cách mạng công nghiệp 4.0 - Cơ hội để Việt Nam “đi tắt, đón đầu” trong chiến lược phát triển

(LLCT) - Ngày 27-9-2019, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 52-NQ/TW về chủ trương, chính sách chủ động, tích cực tham gia Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0). Với 4 quan điểm chỉ đạo, 3 mục tiêu tổng quát, 11 mục tiêu cụ thể và 8 chủ trương, chính sách..., Văn kiện đã đưa ra quyết tâm chiến lược của toàn Đảng, toàn dân ta là: Nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức; phát triển nhanh và bền vững, đưa Việt Nam vào TOP các quốc gia sáng tạo; có nguồn nhân lực và chất lượng cuộc sống cao, trở thành quốc gia thịnh vượng, hạnh phúc khi kỷ niệm 100 năm thành lập nước (2045). 

Giá trị bền vững của tư tưởng C.Mác và Ph.Ăngghen về quân đội

Giá trị bền vững của tư tưởng C.Mác và Ph.Ăngghen về quân đội

(LLCT) - Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về quân đội phản ánh sự phát triển hợp lôgíc của lịch sử tư tưởng nhân loại, đáp ứng thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân. Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về quân đội đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lĩnh vực lý luận khoa học về quân đội và có giá trị trong thời đại ngày nay. 

Quan điểm của V.I.Lênin về kiểm soát quyền lực nhà nước và sự vận dụng, phát triển trong thực tiễn ở Việt Nam

Quan điểm của V.I.Lênin về kiểm soát quyền lực nhà nước và sự vận dụng, phát triển trong thực tiễn ở Việt Nam

(LLCT) - Kiểm soát quyền lực nhà nước là một yêu cầu tất yếu khách quan trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta hiện nay. Hơn lúc nào hết, trở lại những luận điểm cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề nhà nước, kiểm soát quyền lực nhà nước là đòi hỏi của công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống những quan điểm sai trái, xuyên tạc. Bài viết tập trung làm rõ những quan điểm về kiểm soát quyền lực nhà nước của V.I.Lênin và sự vận dụng vào thực tiễn Việt Nam hiện nay.

Lý luận của C.Mác về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội và vấn đề đặt ra ở nước ta hiện nay

Lý luận của C.Mác về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội và vấn đề đặt ra ở nước ta hiện nay

(LLCT) - Theo C.Mác, tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội có quan hệ biện chứng với nhau. Việc giải quyết mối quan hệ này ở nước ta đã đạt được các kết quả như: mọi người đều có cơ hội như nhau trong tiếp cận nguồn lực sản xuất, tăng trưởng kinh tế đã gắn với phân phối thu nhập công bằng và bảo đảm an sinh, phúc lợi xã hội. Vấn đề đặt ra hiện nay là tăng trưởng kinh tế đang đối mặt với sự lãng phí nguồn lực, kém hiệu quả; đặt mục tiêu công bằng giữa các chủ thể kinh tế, nhưng “sân chơi” chưa phẳng, nguyên tắc phân phối công bằng nhưng việc thực hiện gặp không ít trở ngại.

Chủ nghĩa xã hội và kiên định con đường chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Chủ nghĩa xã hội và kiên định con đường chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

(LLCT) - Chủ nghĩa xã hội là gì? Đó là vấn đề luôn được đặt ra và được luận giải đối với các Đảng Cộng sản, đối với những dân tộc lựa chọn con đường phát triển đất nước theo mục tiêu XHCN, đặc biệt là trong những bước ngoặt của con đường phát triển ấy và cũng là vấn đề cần được làm rõ hơn trước thềm Đại hội XIII của Đảng. Bài viết này tập trung làm rõ bản chất, đặc trưng và các giải pháp xây dựng CNXH, đặc biệt là vấn đề kiên định mục tiêu CNXH ở nước ta hiện nay.

Giá trị bền vững và ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin

Giá trị bền vững và ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin

(LLCT) - Chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời, phát triển đã gần 172 năm với bao thăng trầm của lịch sử nhưng vẫn mang trong lòng nó những giá trị bền vững không thể bác bỏ là: Phát triển; Chủ nghĩa nhân đạo triệt để; Phương pháp biện chứng duy vật và quan niệm duy vật về lịch sử; Học thuyết giá trị thặng dư, hình thái kinh tế - xã hội, CNXH. Chính vì vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho chúng ta nhận thức và giải quyết những vấn đề thực tiễn của thế giới đương đại; xây dựng CNXH và thực hiện sự nghiệp đổi mới thành công.

Bối cảnh và những yêu cầu mới bổ sung, phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về Đảng và xây dựng Đảng

Bối cảnh và những yêu cầu mới bổ sung, phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về Đảng và xây dựng Đảng

(LLCT) - Lý luận về Đảng Cộng sản và xây dựng Đảng là một bộ phận cực kỳ quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam và Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo lý luận này vào điều kiện cụ thể của Việt Nam để xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ điều kiện và năng lực lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong suốt 90 năm qua. Hiện nay, bối cảnh thực tiễn đang đặt ra yêu cầu mới đối với việc bổ sung, phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về Đảng và xây dựng Đảng.

Mối quan hệ nhà nước - thị trường trong phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam

Mối quan hệ nhà nước - thị trường trong phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam

(LLCT) - Nhà nước và thị trường có mối quan hệ gắn bó khăng khít và biện chứng tương hỗ nhau. Nền kinh tế sẽ vận hành hiệu quả nếu mối quan hệ của hai thành tố này được xác lập đúng đắn, phù hợp. Ngược lại, giải quyết và xử lý không tốt mối quan hệ này sẽ dẫn tới tình trạng phát triển lệch lạc, thậm chí nó lại là rào cản của nhau. Bài viết phân tích mối quan hệ nhà nước và thị trường ở Việt Nam và các định hướng để hoàn thiện mối quan hệ nhà nước và thị trường ở nước ta trong thời gian tới.

Giải quyết hài hòa quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

Giải quyết hài hòa quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

(LLCT) - Trong giai đoạn tiếp tục đẩy mạnh đổi mới hiện nay, Đảng ta xác định: “Bảo đảm lợi ích, sự kết hợp hài hòa các lợi ích và phương thức thực hiện lợi ích công bằng, hợp lý cho mọi người, cho các chủ thể, nhất là lợi ích kinh tế”(1). Chính vì vậy, việc giải quyết các quan hệ lợi ích một cách hài hòa, nhất là giữa lợi ích cá nhân (LICN) và lợi ích xã hội (LIXH) chính là tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Bài viết tập trung làm rõ vai trò, thực trạng và đề xuất giải pháp giải quyết hài hòa quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội ở nước ta hiện nay.

Học tập Hồ Chí Minh thu hút, trọng dụng nhân tài

Học tập Hồ Chí Minh thu hút, trọng dụng nhân tài

(LLCT) -  Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những chỉ dẫn hết sức sâu sắc và là tấm gương mẫu mực trong việc thu hút, trọng dụng nhân tài, nhờ đó đã thu phục được những chí sĩ yêu nước của chế độ cũ tận tụy, tích cực đóng góp xây dựng chính quyền cách mạng; các trí thức Việt kiều ở Pháp, sẵn sàng từ bỏ cuộc sống thuận lợi trở về nước tham gia vào cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc... Tư tưởng và tấm gương của Hồ Chí Minh về trọng dụng nhân tài trở thành bài học quý giá còn nguyên giá trị trong công tác cán bộ của Đảng ta hiện nay.

“Di chúc” và quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hiện an sinh xã hội

“Di chúc” và quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hiện an sinh xã hội

(LLCT) - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa 50 năm, nhưng tư tưởng của Người về đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng CNXH, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân và an sinh xã hội, phát triển bền vững đất nước đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Tuân theo những tư tưởng của Người trong “Di chúc”, Đảng ta xác định, an sinh xã hội (ASXH) là một hệ thống chính sách xã hội quan trọng, là một nội dung chủ yếu trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội đất nước; đầu tư cho an sinh xã hội chính là đầu tư cho con người, đầu tư cho phát triển, góp phần vào phát triển bền vững đất nước.

Từ “Dân bản” của Nho giáo đến “Dân chủ” trong tư tưởng Hồ Chí Minh

(LLCT) - Với trí tuệ uyên bác và phương pháp tư duy biện chứng duy vật, trong quá trình tiếp thu những tinh hoa của kho tàng tư tưởng nhân loại, Hồ Chí Minh đã gạn lọc những yếu tố tích cực, có giá trị của Nho giáo để phục vụ sự nghiệp cách mạng. Tuy nhiên, những khái niệm, mệnh đề của Nho giáo mà Người sử dụng đã có sự khác biệt về chất. Nho giáo từng coi "dân là gốc nước", nhưng nó mới chỉ dừng lại ở quan niệm "dân bản" mà chưa phải là "dân chủ". Trong quan niệm của Hồ Chí Minh về dân chủ, vấn đề dân tâm, dân ý, dân sinh, dân trí, dân quyền thống nhất gắn bó hữu cơ với nhau. Thực hành dân chủ tức là phải hiện thực hóa toàn bộ các vấn đề đó trong thực tế đời sống xã hội. 

Trang 4 trong tổng số 39 trang.

Thông tin tuyên truyền