Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Tư tưởng của Ph.Ăngghen về con đường “phát triển rút ngắn” - ý nghĩa đối với Việt Nam
Thứ tư, 25 Tháng 11 2015 17:17
2969 Lượt xem

Tư tưởng của Ph.Ăngghen về con đường “phát triển rút ngắn” - ý nghĩa đối với Việt Nam

(LLCT) - Khi đánh giá công lao to lớn của Ph. Ăngghen đối với chủ nghĩa Mác và đối với phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản thế giới, V.I.Lênin khẳng định: “Muốn đánh giá đúng đắn những quan điểm của Mác, tuyệt đối phải đọc những tác phẩm của người cùng tư tưởng và người cộng tác gần gũi nhất của Mác là Phriđrích Ăngghen”, và hơn thế, chúng ta sẽ “Không thể nào hiểu được chủ nghĩa Mác và trình bày đầy đủ được chủ nghĩa Mác, nếu không chú ý đến toàn bộnhững tác phẩm của Ăngghen”(1).

(Ph.Ăngghen, nguồn: internet)

Một trong những đóng góp đặc sắc của Ph.Ăngghen cho chủ nghĩa Mác và phong trào cách mạng thế giới là bổ sung, làm rõ lý luận về con đường “phát triển rút ngắn” đối với các nước lạc hậu đi lên CNXH.

1. Lý luận về sự thay thế nhau của các hình thái kinh tế - xã hội nói chung và hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa nói riêng, lần đầu tiên đã được C.Mác luận giải trong các tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gôta(1855). Theo ông, sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình phát triển lịch sử tự nhiên(2); hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa (CSCN) thành hai giai đoạn: Giai đoạn thấp (thời kỳ quá độ) và giai đoạn cao (CSCN). Thời kỳ quá độ hay còn gọi là giai đoạn thấp theo ông là: (i) Xã hội vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa (TBCN), do đó, mọi mặt của nó đều mang dấu ấn sâu sắc của xã hội TBCN; (ii) Thời kỳ cải biến cách mạng một cách sâu sắc từ xã hội TBCN sang xã hội CSCN; (iii) Công cụ để thực hiện sự cải biến đó là nhà nước, đó là nhà nước chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản.

Theo quan điểm của C.Mác, quá độ được hiểu là quá độ từ chủ nghĩa tư bản đã đạt tới trình độ phát triển cao sang CNCS, là “sự quá độ” thẳng trực tiếp, không qua bất kỳ khâu trung gian nào. Tuy nhiên đến những năm 1877 do hoàn cảnh thế giới có nhiều đổi thay, C.Mác đã đưa ra dự đoán rằng ở các quốc gia tư bản phát triển thì thế và lực của giai cấp tư sản cầm quyền rất mạnh nên cách mạng vô sản khó nổ ra thành công vì vậy rất có thể cách mạng vô sản “sẽ nổ ra ở tứ chi trước lúc lan tới tim của cơ thể tư sản”, và nước Nga sẽ là nơi diễn ra cách mạng vô sản đầu tiên.

Trên những cứ liệu của C.Mác, Ph.Ăngghen đã bổ sung thêm nhận định cách mạng vô sản không chỉ nổ ra ở các quốc gia TBCN phát triển - nơi chuẩn bị những tiền đề vật chất chín muồi cho sự ra đời chủ nghĩa cộng sản - mà còn có thể nổ ra ở những quốc gia lạc hậu, chậm phát triển. Đó là con đường “phát triển rút ngắn”, mà sau này V.I.Lênin nêu thành khả năng “không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” để tiến lên CNXH đối với các nước, các dân tộc chậm phát triển.

Con đường “phát triển rút ngắn”có thể diễn ra ở những nước đang trong giai đoạn phát triển tiền TBCN hoặc chưa từng trải qua con đường phát triển TBCN đã được Ph.Ăngghen (cùng với Mác) bổ sung khi nghiên cứu về tình hình nước Nga lúc đó. Ph.Ăngghen đặc biệt nhấn mạnh những điều kiện, nguyên tắc chi phối khả năng quá độ này. “Một điều kiện tất yếu để làm được việc đó là tấm gương và sự ủng hộ tích cực của phương Tây… khi nào những nước lạc hậu qua tấm gương ấy mà biết được rằng, việc đó đã được tiến hành như thế nào”… thì những nước lạc hậu ấy mới có thể bước vào con đường phát triển rút ngắn như vậy”(3). Điều này có nghĩa là, để thực hiện quá độ lên CNXH không qua CNTB thì mỗi quốc gia dân tộc cần nhận thức rằng, không thể không tính đến những điều kiện đảm bảo, đó là có sự ủng hộ tích cực, nêu gương của các nước phát triển nhất; là CNTB đã bị đánh bại ngay tại quê hương của nó, tức là cách mạng vô sản thắng lợi ở Tây Âu, ở đó đã tiến hành xây dựng thành công CNXH.

Phân tích tình thế cách mạng đang ngày càng gay gắt tại Nga, Ph.Ăngghen nhìn thấy ở đây những khả năng nhất định cho sự phát triển bỏ qua xã hội tư bản “vượt cấp” lên xã hội cộng sản. Theo ông, từ những tiền đề cơ bản ở nước Nga như kết cấu công xã nông thôn tồn tại khắp cả nước, cộng thêm vị thế độc lập thuận lợi của một nước lớn trong cục diện quốc tế đương thời, đặt trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản đã phát triển mạnh ở châu Âu, thì nước này có thể thực hiện bước chuyển vượt cấp lên xã hội cộng sản, bỏ qua “khe núi Cápđia” là những nỗi tai ương, đau khổ của chủ nghĩa tư bản. Ph.Ăngghen khẳng định, không chỉ với nước Nga, mà còn với tất cả các nước đang ở trong giai đoạn phát triển tiền TBCN đều “không những có thể mà còn chắc chắn... rút ngắn một cách đáng kể quá trình phát triển của mình lên xã hội xã hội chủ nghĩa và có thể tránh được phần lớn những đau khổ và những cuộc đấu tranh mà ở Tây Âu... phải trải qua”(4).

Đây là nét độc đáo trong tư duy biện chứng của Ph.Ăngghen thể hiện ở sự nhận thức về tính thống nhất phổ biến giữa cái tất yếu và cái có thể trong vận động của toàn bộ thế giới khách quan. Phép biện chứng duy vật mácxít từng vạch rõ, tiến trình lịch sử nhân loại tất yếu phát triển từ thấp đến cao, và do đó xã hội CSCN với tính cách một xã hội cao hơn, tốt đẹp hơn xã hội tư bản, tất yếu sẽ thay thế xã hội tư bản. Đây là quy luật của lịch sử, là quá trình lịch sử tự nhiên trong sự vận động của xã hội loài người. Nhưng do những điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị, truyền thống văn hóa khác nhau mà dân tộc này hay dân tộc khác có thể bỏ qua một hoặc một số bước phát triển nào đó trong những bước đi chung mà nhân loại phải trải qua. Loài người đi tới xã hội cộng sản là cái tất yếu, còn mỗi nước, mỗi dân tộc đi bằng cách nào, vào thời điểm nào lại tùy thuộc vào các yếu tố khách quan và nhân tố chủ quan cụ thể.

Có thể “rút ngắn” để đi lên CNXH đối với các nước lạc hậu, chậm phát triển, nhưng Ph.Ăngghen đã nhìn thấy trong thời kỳ quá độ ở những nước này đầy rẫy những khó khăn, kẻ thù và những lực lượng chống đối giai cấp công nhân và chính đảng cách mạng của nó có thể liên kết lại xung quanh khẩu hiệu “nền dân chủ thuần túy” để chống phá công cuộc xây dựng xã hội mới. Do vậy, Ph.Ăngghen yêu cầu các chính đảng cách mạng ở những nước này phải thiết lập một chính quyền nhà nước mạnh nhằm đập tan sự chống đối của các thế lực đối lập và thực hiện công cuộc cải tạo xã hội về phương diện kinh tế - xã hội. Đồng thời, họ phải nắm được những vị trí then chốt trong nền kinh tế và dựa vào sự ủng hộ của quảng đại quần chúng nhân dân lao động để khắc phục những khó khăn và sửa chữa những sai lầm có thể nảy sinh trong thời kỳ quá độ.

Phân tích bối cảnh xã hội hiện thực ở châu Âu những năm 80-90 thế kỷ XIX và triển vọng của cuộc cách mạng xã hội do giai cấp công nhân và chính đảng của nó lãnh đạo, Ph.Ăngghen cho rằng thời kỳ quá độ là một “cuộc đấu tranh lâu dài và ác liệt”, chúng ta “cần phải suy nghĩ kỹ”, không được nôn nóng, không được phép kết luận vội vàng, bởi đây là “vấn đề khó nhất trong tất cả những vấn đề còn tồn tại” ở một thời kỳ mà “các điều kiện không ngừng thay đổi”(5). Tuy luôn nhắc đi nhắc lại rằng, nhiều diễn biến của tình hình không cho phép đưa ra một chương trình hành động cụ thể cho mọi trường hợp có thể xảy ra, nhưng Ph.Ăngghen vẫn cố gắng vạch ra những nét cơ bản nhất, những quy luật chung nhất của thời kỳ quá độ. Trong quan niệm của ông, thời kỳ quá độ là thời kỳ luôn “gắn với một số thiếu thốn nào đó”, bởi đây là “thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia” và “về mọi phương diện - kinh tế, đạo đức, tinh thần - còn mang những dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lòng ra”, như C.Mác đã nói trong “Phê phán cương lĩnh Gôta”.

Nhằm khắc phục những nhận thức mơ hồ về CNXH và thời kỳ quá độ vẫn còn khá phổ biến trong phong trào công nhân quốc tế thời kỳ này, Ph.Ăngghen đã nói rõ quan niệm của ông về sự khác nhau căn bản giữa CNXH và CNTB. Ông viết: “Cái gọi là “xã hội xã hội chủ nghĩa”, theo ý kiến tôi, không phải là cái gì đó nhất thành bất biến, mà cũng như mọi chế độ xã hội khác, nó cần phải được xem xét như một xã hội được thay đổi và cải tạo thường xuyên. Sự khác biệt có tính chất quyết định của nó so với chế độ hiện nay dĩ nhiên là ở việc tổ chức sản xuất trên cơ sở sở hữu chung trước hết của từng dân tộc đối với tất cả các tư liệu sản xuất”(6).

Sự khác biệt căn bản của CNXH so với CNTB theo Ph.Ăngghen là ở chỗ CNTB dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất; còn chế độ cộng sản dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất - cái mà “chỉ nhờ có nó mới thực hiện được việc giải phóng giai cấp công nhân, và cùng với nó, thực hiện được việc giải phóng tất cả những thành viên xã hội”(7). Tính ưu việt lớn nhất của CNXH là, cùng với việc thiết lập chế độ công hữu ấy, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, mọi thành quả của văn hóa, khoa học sẽ mang lại lợi ích cho toàn thể xã hội và cho mỗi người. Ông khẳng định một cách chắc chắn rằng, sau thời kỳ quá độ là một “chế độ xã hội mới trong đó sẽ không còn những sự phân biệt giai cấp như hiện nay nữa, và trong đó... những phương tiện để sinh sống, để hưởng thụ những niềm vui của cuộc đời, để có được học vấn, và để biểu hiện tất cả mọi năng lực thể chất và tinh thần của mình, sẽ được giao cho tất cả mọi thành viên trong xã hội sử dụng ngày càng đầy đủ, nhờ sử dụng có kế hoạch và phát triển hơn nữa những lực lượng sản xuất to lớn hiện đã có sẵn, bằng chế độ lao động bắt buộc như nhau đối với mọi người”(8).

Như vậy, theo quan điểm của Ph.Ăngghen, để xây dựng thành công CNXH không thể không tiếp thu những thành quả kinh tế - xã hội do giai cấp tư sản tạo ra, bởi đó là điều kiện, tiền đề vật chất để “tạo lập chế độ xã hội mới, cũng như sinh ra những con người... mà chỉ có họ mới đủ sức mạnh và ý chí để xây dựng xã hội mới tốt đẹp hơn”(9). Điều này có nghĩa là, con người có thể chủ động “rút ngắn” và làm dịu bớt “những cơn đau đẻ” nhưng vẫn tuân thủ quá trình phát triển lịch sử - tự nhiên.

Tư duy biện chứng mang tầm vóc vạch dòng thời đại này vẫn nóng hổi ý nghĩa lý luận và tính thời sự cấp bách đối với các đảng cộng sản, công nhân quốc tế, trong đó có Đảng ta trong giai đoạn hiện nay.

2. Vận dụng tư tưởng của Ph.Ăngghen về thời kỳ quá độ và con đường “phát triển rút ngắn”, Đảng ta đã lựa chọn “con đường đi lên của nước ta là quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa”. “Đây là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp và do vậy, tất yếu phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế - xã hội có tính chất quá độ”(10). Bởi lẽ, con đường đó không chỉ phù hợp với tính tất yếu của lịch sử, với quy luật và xu thế phát triển của thời đại, mà hơn hết và trên hết, còn phù hợp với bối cảnh lịch sử - cụ thể ở nước ta hiện nay.

Thực tiễn đã và đang khẳng định, ở Việt Nam đồng thời diễn ra bước quá độ từ xã hội phong kiến lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN, xét về mặt tính chất của chế độ chính trị - xã hội và quá độ từ nông nghiệp cổ truyền lạc hậu lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN, xét về mặt trình độ phát triển kinh tế. Điều này được xem là đặc điểm căn bản nói lên loại hình phát triển CNXH ở nước ta là thuộc loại hình “phát triển rút ngắn”và phương thức “quá độ gián tiếp”.

Tuy nhiên, phải hiểu rằng, sự “phát triển rút ngắn”, bỏ qua chế độ TBCN ở nước ta vẫn là quá trình lịch sử - tự nhiên. Chỉ khi người ta “rút ngắn” một cách duy ý chí, bất chấp quy luật khách quan thì lúc đó, sự phát triển rút ngắn mới trở thành đối lập với tiến trình lịch sử - tự nhiên của các hình thái kinh tế- xã hội. “Thực chất của sự “phát triển rút ngắn” chính là tạo ra sự phát triển mạnh mẽ, thậm chí nhảy vọt của lực lượng sản xuất”(11).

Nội dung của con đường quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN ở Việt Namđược Đảng ta xác định: “Bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩanhưngtiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đạt được dưới chế độ tư bản nghĩa để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”(12). Theo đó, “phát triển rút ngắn” trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam, về phương diện chính trị, là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN. Về mặt kinh tế, là rút ngắn quá trình công CNH, HĐH; tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đạt được dưới CNTB, đặc biệt là khoa học và công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại. 

Cần xác định rõ ràng rằng, chúng ta bỏ qua chế độ tư hữu TBCN và tình trạng áp bức, bóc lột chứ không bỏ qua những thành tựu văn minh vật chất và tinh thần mà loài người đạt được dưới chế độ TBCN. Đó là vấn đề có tính nguyên tắc cần thiết được nhận thức và vận dụng trong thực tiễn xây dựng CNXH ở nước ta hiện nay. Vậy là, “bỏ qua” mà “không bỏ qua”. Điều này đòi hỏi “phải biết thâu thái và làm chủ những tài sản văn hóa của loài người đã sáng tạo ra mà chủ nghĩa tư bản từng phát triển tới những đỉnh cao”(13), để xây dựng CNXH. 

Những điều kiện khách quan và chủ quan cho phép chúng ta thực hiện con đường quá độ lên CNXH trong bối cảnh hiện nay, đã được Đảng ta chỉ rõ là:

Thứ nhất, Đảng ta đã trở thành Đảng cầm quyền, có đủ năng lực lãnh đạo sự nghiệp xây dựng CNXH. Đảng khẳng định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động. Chúng ta đang tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, cùng với sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Trong thời đại ngày nay, nhân tố kinh tế mà trước hết là sự phát triển cao của lực lượng sản xuất, suy cho cùng có ý nghĩa quyết định thắng lợi của CNXH. Tuy nhiên, nhân tố chính trị xét về mặt chủ thể lịch sử lại có ý nghĩa quyết định trong từng bước đi trên con đường phát triển của dân tộc. Nhân tố chủ quan này, trước yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, đang nỗ lực nhận thức và hành động theo quy luật khách quan, tự chỉnh đốn để thực sự trong sạch, vững mạnh. Đây là một bảo đảm cho sự phát triển “rút ngắn” thành công.

Thứ hai, sự nghiệp đổi mới đất nước diễn ra trong bối cảnh cách mạng khoa học - công nghệ và quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ. Hiện thực khách quan này vừa đặt ra những thách thức không nhỏ, đồng thời tạo ra thời cơ thuận lợi cho phát triển đất nước: các mối liên hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng tăng, chúng ta có thể tận dụng để mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và thế giới vì mục tiêu phát triển; thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển lên quy mô và cấp độ mới cao hơn về chất. Đây chính là những điều kiện quan trọng để “phát triển rút ngắn”.

Thứ ba, qua gần 30 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta tăng trưởng nhanh, ổn định; cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng CNH, HĐH, tạo nên thế và lực mới cho nền kinh tế. Phúc lợi xã hội, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Thực hiện một bước tiến bộ và công bằng xã hội, giải quyết được một số vấn đề bức xúc của xã hội. Tỷ lệ đói nghèo giảm nhanh chóng. Tăng trưởng kinh tế luôn gắn với xóa đói, giảm nghèo và giải quyết những vấn đề xã hội. Hệ thống chính trị được củng cố, kiện toàn, đổi mới theo hướng nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân...

Những thành tựu, tiền đề nêu trên không chỉ là động lực mà còn là những điều kiện cần thiết bảo đảm khả năng thực hiện con đường quá độ lên CNXH ở nước ta.

Tuy nhiên, Đảng ta cũng nhận rõ những thách thức không nhỏ trên con đường “phát triển rút ngắn” bỏ qua chế độ TBCN và xác định phải tập trung giải quyết tốt 8 mối quan hệ lớn: giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa phát triển kinh tế thị trường và định hướng XHCN; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN; giữatăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.

Đi lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN là tất yếu đối với cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, khi vận dụng những tư tưởng của Ph.Ăngghen nói riêng, học thuyết Mác - Lênin nói chung vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, chúng ta cần khắc ghi chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nắm lấy tinh thần và phương pháp để ứng xử với con người và công việc cho đúng. Đó là kim chỉ nam hành động chứ không phải là những tín điều, những giáo điều bất biến.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 11-2015

(1)V.I.Lênin: Toàn tập, t.26, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, tr.110.

(2) C.Mác, Ph. Ăngghen: Toàn tập, t.23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.21.

(3), (4), (5), (7), (8), (9) C.Mác, Ph.Ăngghen: Sđd, t.22, tr.632, 632, 168, 353, 307-308, 659.

(6) C.Mác, Ph.Ăngghen, Sđd, t.37, tr.617-618.

(10) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.67.

(11) Xem Dương Phú Hiệp: Tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.193.

(12) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.84.

(13) Xem Hoàng Chí Bảo: “Từ những đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đến việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chíTriết học, số 11-2002, tr.10.

 

PGS,TS Đỗ Thị Thạch

Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác