Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Quá trình nhận thức của Đảng ta về phòng, chống tham ô, tham nhũng
Thứ tư, 26 Tháng 4 2017 15:15
1240 Lượt xem

Quá trình nhận thức của Đảng ta về phòng, chống tham ô, tham nhũng

(LLCT) - Tham nhũng là một hiện tượng xã hội gắn liền với sự ra đời và phát triển của bộ máy nhà nước, nó diễn ra ở tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị; tham nhũng xảy ra ở mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội; tham nhũng được coi là một căn bệnh nguy hiểm, nó gây ra tác hại nhiều mặt, cản trở sự phát triển của xã hội, thậm chí dẫn đến sự sụp đổ của cả một thể chế

Xuất phát từ bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, ngay sau khi giành được chính quyền, trở thành đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến phòng, chống tham ô gắn với chống bệnh quan liêu, lãng phí. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta luôn quan tâm chăm lo xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, trong đó đấu tranh chống tiêu cực trong Đảng, bộ máy nhà nước và ra toàn xã hội, nhằm xây dựng quan hệ xã hội lành mạnh, tiến bộ.

Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh coi tham ô, quan liêu, lãng phí là “giặc nội xâm”, không chỉ làm mất uy tín, thanh danh, sức lãnh đạo của Đảng, là nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Do vậy, cần kiên quyết đấu tranh ngăn chặn và bài trừ.

Đấu tranh kiên quyết chống quan liêu, lãng phí, tham ô, là một nội dung rất quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, nhằm xây dựng tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, vững mạnh.

Nguồn gốc của tham nhũng, lãng phí, “Vì đâu mà có lãng phí và tham ô?”(1), về phương diện đạo đức cán bộ, đảng viên, Người cho rằng: “Chỉ vì cá nhân chủ nghĩa mà sinh ra tham ô hủ hóa. Đó là chỉ biết mình, không biết đến quần chúng. Là chỉ lo cho mình được sung sướng mà không nghĩ đến đội viên, nhân dân còn khổ sở”(2).Với tinh thần nhân văn và bao dung, Người cho rằng, kẻ tham ô không phải bởi bản tính vốn có mà có thể do hoàn cảnh, điều kiện mà nảy sinh lối sống không đúng, dẫn đến tham ô. Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ cán bộ, đảng viên được giao chức tránh, nhiệm vụ quyền hạn nhất định, nếu không biết giữ mình, nếu không nêu cao trách nhiệm, sa vào chủ nghĩa cá nhân thì sẽ sinh tham ô.

Do vậy, Người yêu cầu cán bộ, đảng viên phải phòng tránh căn bệnh tham ô xấu xa đó bằng cách giữ vững liêm chính. Trong bài Cần kiệm liêm chính, Hồ Chí Minh cho rằng: “Liêm là trong sạch, không tham lam. Ngày xưa dưới chế độ phong kiến, những người làm quan không đục khoét dân, thì gọi là Liêm, chữ Liêm ấy chỉ có nghĩa hẹp”... Có Kiệm mới Liêmđược. Vì xa xỉ mà sinh ra tham lam... Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là Bất Liêm... Người cán bộ, cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút hoặc trộm của công làm của tư... đều là trái với chữ Liêm.Do Bất Liêmmà đi đến tội ác trộm cắp. Công khai hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp, Bất Liêm tức là trộm cắp... Mỗi người phải nhận rằng tham lam là một điều rất xấu hổ, kẻ tham lam là có tội với nước, với dân”(3).

Về phương diện tổ chức, cơ chế,đó là do bệnh quan liêu, hành chính, mệnh lệnh trong công tác của các cấp lãnh đạo các cơ quan nhà nước gây ra: “Tham ô và lãng phí đều do bệnh quan liêu mà ra”(4). “Cán bộ phụ trách lãnh đạo các cấp, các ngành quan liêu không đi sát công việc, cán bộ, quần chúng nhân dân. Có thể nói bệnh quan liêu là chỗ gieo hạt vun trồng cho tham ô, lãng phí nảy nở được”(5), hay “Mà nạn quan liêu là mẹ đẻ ra nạn tham ô, lãng phí”(6).

Trên cơ sở truy tìm rõ gốc rễ của nạn tham ô, lãng phí, Người nêu biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và nghiêm trị căn bệnh này: “Vì vậy, bệnh quan liêu là nguồn gốc sinh ra lãng phí, tham ô. Kinh nghiệm chứng tỏ rằng, ở đâu có bệnh quan liêu thì ở đó chắc chắn có tham ô, lãng phí; nơi nào bệnh quan liêu càng nặng thì nơi đó càng nhiều lãng phí, tham ô. Cho nên, muốn triệt để chống tham ô, lãng phí thì phải kiên quyết chống nguồn gốc của nó là bệnh quan liêu”(7).

Người yêu cầu, ngăn ngừa, phòng chống nạn tham ô, lãng phí không chỉ là công việc của tổ chức, cơ quan chức năng, mà phải phát động quần chúng đồng bào đấu tranh, tạo thành phong trào sâu rộng: “Tham ô và lãng phí đều do bệnh quan liêu mà ra. Vì vậy từ nay, toàn thể đồng bào, toàn thể chiến sĩ, toàn thể cán bộ phải xem quan liêu, tham ô, lãng phí là tội lỗi đối với Tổ quốc, đối với đồng bào. Người phạm tội có tội đã đành; người thấy những tội ấy mà không nêu ra, cũng như có tội”(8).

Để quần chúng nhân dân nhận diện tham ô, lãng phí và tác hại mà nó gây ra, tỏ rõ thái độ coi khinh đến căm ghét, để từ thái độ tình cảm đi đến có ý thức đấu tranh kiên quyết, bài trừ tận diệt căn bệnh này, trong nhiều bài viết, bài nói, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tính chất xấu xa, đê tiện của tham ô, lãng phí: “Tham ô là hành động xấu xa nhất, tội lỗi đê tiện nhất trong xã hội. Tham ô là trộm cắp của công, chiếm của công làm của tư. Nó làm hại đến sự nghiệp xây dựng nước nhà; hại đến công việc cải thiện đời sống của nhân dân; hại đến đạo đức cách mạng của người cán bộ và công nhân”(9[1]).

Mặt khác, Người còn nhận diện các biểu hiện và thủ đoạn tham ô, mà thực chất là ăn cắp, đục khoét, bớt xén, gian lận:

“Tham ô là gì?

- Đứng về phía cán bộmà nói, tham ô là:

Ăn cắp của công làm của tư

Đục khoét của nhân dân

Ăn bớt của bộ đội.

Tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương mình, đơn vị mình, cũng là tham ô.

- Đứng về phía nhân dânmà nói, tham ô là:

Ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế”(10).

Hồ Chí Minh nhận diện các biểu hiện, hình thức tham ô trên nhiều khía cạnh cụ thể, giúp cho các tầng lớp nhân dân ở trình độ hiểu biết, vốn kiến thức hạn hẹp cũng có thể nhận ra một cách đầy đủ, toàn diện các biểu hiện tham ô, lãng phí, cả trực tiếp và gián tiếp. Người chỉ rõ: “Nói đến tham ô, có người chỉ nghĩ đến ăn cắp của công làm của tư, mà không thấy thứ tham ô gián tiếp. Thí dụ một cán bộ, Chính phủ, nhân dân trả lương hàng tháng đều cho, nhưng lại kém lòng trách nhiệm, đứng núi này trông núi nọ, làm việc chậm chạp, ăn cắp giờ của Chính phủ, của nhân dân”(11).

Hồ Chí Minh còn chỉ rõ một số trường hợp, tình huống, hành vi tham ô cụ thể, như “ba xoay”, đó là “xoay đất, xoay nhà, xoay tiền của dân”. Đó đều là biểu hiện của tham ô, vì suy cho cùng tiền của Chính phủ, của tập thể cũng đều của dân, từ thuế do dân đóng góp mà ra.

Hồ Chí Minh lên án mạnh mẽ hành động tham ô như lên án kẻ địch của nhân dân: “Tham ô là hành động xấu xa nhất của con người... Tham ô là lấy trộmcủa công, chiếm của công làm của tư. Nó có hại đến sự nghiệp xây dựng nước nhà, có hại đến công việc cải thiện đời sống của nhân dân, có hại đến đạo đức cách mạng... Của công của Nhà nước và của tập thể là “bất khả xâm phạm”, tham ô của công tức là xâm phạm đến lợi ích chung của nhân dân, tức là kẻ địch của nhân dân”(12). Qua đó, Hồ Chí Minh tạo luồng dư luận xã hội nâng cao ý thức, thái độ và cả trách nhiệm của nhân dân với chống kẻ thù tham ô, phải thù ghét, phải trừ bỏ nó.

2.Quán triệt quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham ô, Đảng và Nhà nước ta đã sớm nhận rõ sự nguy hại của tham ô, tham nhũng, nó không những làm hại bản thân cán bộ, đảng viên, mà còn làm hại cho Đảng, cho Chính phủ, cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Vì vậy, yêu cầu toàn Đảng, toàn dân ta luôn kiên quyết đấu tranh tiêu diệt tệ tham ô, lãng phí một cách triệt để, không khoan nhượng. Quan điểm của Đảng ta về chống tham ô, tham nhũng, hối lộ thể hiện rõ trong nhiều văn kiện đại hội, nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khóa.

Tội tham ô, tham nhũng đã sớm bị quy là một loại tội phạm nguy hiểm, bị xử lý theo pháp luật hình sự. Theo Điều 1 Luật Phòng, chống tham nhũng (2005) thì “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”. Cũng còn những cách định nghĩa khác, nhưng khi nói đến tham nhũng thì đặc điểm chung là: Tham nhũng là do người có chức vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó để trục lợi. Và như vậy, tội phạm về tham nhũng là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện một cách cố ý xâm phạm đến tài sản, uy tín của cơ quan, tổ chức; xâm phạm đến tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Trong điều kiện Đảng ta là đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị và toàn xã hội, thì đối tượng đấu tranh chống tệ tham nhũng không chỉ trong bộ máy nhà nước, mà còn xảy ra trong các tổ chức thành viên hệ thống chính trị. Và do đó, hệ thống chính trị và toàn xã hội có nhiệm vụ phòng, chống.

Tại Đại hội VI, lần đầu tiên Đảng ta đã đề cập đến khái niệm “tham nhũng”và từ đó đến nay, khái niệm tham nhũng được thể hiện trong các văn kiện của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước. Báo cáo chính trị tại Đại hội VI nêu rõ: “Hiện tượng tiêu cực trong xã hội phát triển. Công bằng xã hội bị vi phạm. Pháp luật, kỷ cương không nghiêm. Những hành vi lộng quyền, tham nhũngcủa một số cán bộ và nhân viên nhà nước, những hoạt động của bọn làm ăn phi pháp... chưa bị trừng trị nghiêm khắc và kịp thời”(13). Trên cơ sở đó, Đại hội yêu cầu phải có nhận thức đúng về tệ tham nhũng và kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, đặc biệt là gắn chống tham nhũng với chống đặc quyền, đặc lợi: “Trong tư tưởng cũng như trong hành động, phải triệt để chống tham nhũng, chống đặc quyền, đặc lợi. Với lương tâm của người cộng sản, mỗi cán bộ, đảng viên hãy nghiêm khắc xem xét mình đã sống lành mạnh, sống bằng lao động của mình hay chưa? Tư tưởng và hành động chạy theo đồng tiền, tính ích kỷ, hành vi xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, xâm phạm lợi ích của nhân dân, ăn cắp của công, lấy của công để biếu xén, chè chén, “phân phối nội bộ”, phải bị phê phán và xử lý nghiêm khắc”(14).

Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1994) đã đặt tham nhũng vào một trong bốn nguy cơ lớn đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ, với sự nghiệp đổi mới, cần tập trung đấu tranh để loại trừ khỏi đời sống xã hội.

Tuy nhiên, cũng phải nhận thức một cách khách quan, khoa học rằng, đây là cuộc đấu tranh lâu dài, gay go và quyết liệt. Trong bối cảnh tình hình hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện, đặc điểm kinh tế - xã hội Việt Nam hiện nay, tính chất phức tạp của tham nhũng càng gấp bội và không thể ngày một ngày hai chúng ta có thể loại trừ tệ nạn này được.

Trải qua các giai đoạn phát triển, điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, nhận thức về vấn đề đấu tranh chống tệ tham nhũng cũng có sự vận động theo hướng ngày càng đặt ra yêu cầu cao hơn về mục tiêu, yêu cầu, nội dung, nhiệm vụ, tính chất, đối tượng, phương hướng, phương châm, nguyên tắc, phương pháp đấu tranh, phòng ngừa, ngăn chặn và biện pháp xử lý.

Tựu chung lại, việc lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng ta được thể hiện trên một số quan điểm chủ yếu sau đây: (1) Đấu tranh phòng, chống tham nhũng phải gắn chặt với chống quan liêu, lãng phí, thực hành tiết kiệm, chống tiêu cực, đầu cơ, buôn lậu, chống địch phá hoại, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân. (2) Phải kiên trì, kiên quyết, thường xuyên, liên tục và thận trọng, có trọng tâm, trọng điểm, không khoan nhượng, nhưng không chủ quan, nóng vội, phải có lộ trình phù hợp. (3) Đấu tranh phòng, chống tham nhũng là đấu tranh chống giặc nội xâm, phải gắn chặt với chống đặc quyền, đặc lợi. (4) Đấu tranh phòng, chống tham nhũng phải kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống, lấy xây làm chính; phải trên cơ sở chủ động phòng ngừa, tích cực tiến công; kiên quyết xử lý triệt để, nghiêm minh mọi hành vi tham nhũng. (5) Đấu tranh phòng, chống tham nhũng phải sử dụng đồng bộ các biện pháp tư tưởng, tổ chức, cán bộ, hành chính, kinh tế và xử lý theo pháp luật. (6) Đấu tranh phòng, chống tham nhũng là một nhiệm vụ quan trọng, gay go, phức tạp, cấp bách của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội; phải huy động sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp, các ngành, các đoàn thể nhân dân trong cuộc đấu tranh này. (7)Đấu tranh phòng, chống tham nhũng phải gắn liền và phục vụ đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong từng thời kỳ, làm trong sạch bộ máy nhà nước, làm lành mạnh các quan hệ xã hội, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.

Như vậy, trong tiến trình cách mạng, Đảng ta sớm nhận thức rất rõ nguy cơ của tệ tham ô (tham nhũng), lãng phí, quan liêu và nguy hại của nó; coi tham nhũng là giặc nội xâm và kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, chống tha hóa, biến chất trong cán bộ, đảng viên, công chức. Mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ, cùng với việc đề ra giải pháp đấu tranh phòng, chống tham nhũng, Đảng ta coi trọng chỉ đạo nghiên cứu tổng kết về phòng, chống tham nhũng gắn với chống quan liêu, lãng phí để có chủ trương, giải pháp “sát, đúng, trúng” và chỉ đạo, tổ chức thực hiện phòng, chống tham nhũng có hiệu lực, hiệu quả nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn này.

Tuy nhiên, nhận thức của Đảng ta về phòng, chống tham nhũng cũng còn những hạn chế, bất cập, chưa có giải pháp có tính khả thi và tổ chức, lực lượng cho công tác phòng, chống tham nhũng. Chưa ban hành văn bản lãnh đạo, chỉ đạo ngang tầm (nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương); chủ yếu là nghị quyết, chỉ thị do Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành về phòng, chống tham nhũng hoặc gắn với một số lĩnh vực công tác khác hoặc những cuộc vận động. Do vậy, hiệu lực, hiệu quả phòng, chống tham nhũng còn hạn chế. Đồng thời, có những thời kỳ không, hoặc ít công khai các nhiệm vụ, biện pháp, kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Chưa quan tâm chỉ đạo đúng mức việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức, thái độ chủ động đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong toàn xã hội (nhất là các doanh nghiệp).

Có những thời kỳ, Đảng ta coi nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tham nhũng chỉ là công việc nội bộ Đảng, Nhà nước. Vì vậy, khi chỉ đạo, ban hành các văn bản về phòng, chống tham nhũng đều được quy định “tối mật” hoặc “mật”.  Vì vậy, chưa phát huy được hết vai trò, trách nhiệm, sức mạnh tổng hợp của các tổ chức trong hệ thống chính trị, cơ quan báo chí và nhân dân trong hiến kế, xây dựng chủ trương, biện pháp và tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Đến nhiệm kỳ Đại hội X, Ban Chấp hành Trung ương Đảng mới ban hành Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, có tính pháp lý cao nhất và không quy định “mật”. Các báo cáo kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng từ đó mới được công khai trên các diễn đàn, kỳ họp của các cấp uỷ, Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp...

Có những thời kỳ, giai đoạn, Đảng, Nhà nước ta chưa quan tâm đến việc kế thừa kinh nghiệm của cha ông ta, chưa  đầu tư cho việc nghiên cứu, trao đổi, học tập kinh nghiệm của các nước về phòng, chống tham nhũng để vận dụng ở nước ta.

Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập là:

Thứ nhất, do quan niệm về ý thức hệ xã hội chủ nghĩa khác chủ nghĩa tư bản, cho rằng phòng, chống tham nhũng của chủ nghĩa xã hội khác chủ nghĩa tư bản nên chưa có sự hợp tác, chia sẻ, học tập kinh nghiệm với các quốc gia, nhất là các nước tư bản có nền kinh tế, công nghiệp phát triển, có những kinh nghiệm trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng để vận dụng cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của nước ta. Còn có quan niệm việc phòng, chống tham nhũng là công việc của mỗi quốc gia; không muốn công khai. Cũng có những ý kiến e ngại khi công khai những yếu kém, hạn chế thì các thế lực thù địch, phản động sẽ lợi dụng để xuyên tạc, chống phá chế độ.

Thứ hai, do chưa thấy được tệ nạn tham nhũng là căn bệnh của tất cả các quốc gia, các nước có thể chế chính trị khác nhau, và đấu tranh chống tham nhũng có thể xuyên biên giới là trách nhiệm hợp tác phối hợp, chia sẻ của các quốc gia trong cộng đồng quốc tế. Vì vậy, có thời kỳ ta chưa chủ động chuẩn bị và tiến hành hợp tác trong lĩnh vực này. Đến khi thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền, chủ động hội nhập quốc tế ta mới có sự chuyển biến nhận thức và hành động về vấn đề này.

Thứ ba,chưa quan tâm chỉ đạo nghiên cứu một cách thấu đáo về tệ tham nhũng trong điều kiện xã hội Việt Nam, hậu quả, tác hại của nó để có chủ trương, cơ chế, chính sách, giải pháp phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả. Đặc biệt là chỉ đạo công tác nghiên cứu, dự báo về tình hình tham nhũng, nhất là trong thực hiện đổi mới với sự tác động của tệ nạn này từ nước ngoài vào.

Vấn đề đặt ra là phải tiếp tục đổi mới, nâng cao nhận thức lý luận của Đảng ta về phòng, chống tham nhũng trong tình hình hiện nay để tiếp tục có quan điểm, chủ trương, chính sách, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu lực, hiệu quả. Theo chúng tôi cần thực hiện tốt một số vấn đề sau đây:

Một là,các cấp ủy Đảng, từ Trung ương đến cơ sở phải có nhận thức đúng về tệ nạn tham nhũng và hiểm họa của tham nhũng đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ ta. Xác định tham nhũng là giặc “nội xâm”, phải đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi để góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Trước hết là xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức phải gương mẫu, liêm chính. Có quyết tâm chính trị cao trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện  đấu tranh phòng, chống tham nhũng một cách toàn diện, kiên quyết, triệt để, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”với mục tiêu, chủ trương, chính sách, hình thức, bước đi phù hợp.

Gắn đấu tranh phòng, chống tham nhũng với chống quan liêu, lãng phí, đặc quyền đặc lợi, chống “tư duy nhiệm kỳ” và “lợi ích nhóm”.

Từng cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là cán bộ chủ chốt, trước hết là người đứng đầu tổ chức, chính quyền thực hiện nghiêm túc các quy định của Đảng, Nhà nước về phòng, chống tham nhũng theo chức trách, nhiệm vụ được giao; có cam kết bản thân không tham nhũng, không để địa phương, đơn vị, cơ quan, tổ chức do mình trực tiếp phụ trách xảy ra tham nhũng, nếu xảy ra tham nhũng thì bản thân phải chịu trách nhiệm liên đới; gương mẫu giáo dục vợ, con, người thân trong gia đình không lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi, tham nhũng.

Hai là,các cấp uỷ, tổ chức đảng phải xác định phòng, chống tham nhũng là cuộc đấu tranh thường xuyên liên tục, lâu dài, cần phải thực hiện kiên quyết, bền bỉ, không được chủ quan, nóng vội. Từ đó, quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có tính chiến lược tổng thể, đồng bộ các giải pháp tư tưởng chính trị; kinh tế, hành chính và pháp luật...; Huy động cả hệ thống chính trị tham gia vào cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng thực sự có hiệu lực, hiệu quả.

Mặt khác, phải thấy được tham nhũng là vấn nạn toàn cầu, liên quan đến các quốc gia, cần phải có sự hợp tác, hỗ trợ, phối hợp hành động  giữa các quốc gia gắn với chống các tội phạm khác như tội phạm rửa tiền... Đấu tranh phòng, chống tham nhũng phải toàn diện, đồng bộ, cả ở khu vực công và khu vực tư.

Ba là, các cấp ủy, chính quyền từ Trung ương đến địa phương quan tâm chỉ đạo các cơ quan, đơn vị có chức năng tăng cường nghiên cứu, nắm bắt tình hình tham nhũng, kẽ hở để lợi dụng, vi phạm tham nhũng,  kinh nghiệm đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong lịch sử và của các nước để vận dụng xây dựng cơ chế, chính sách, hình thức, biện pháp,... một cách sát hợp, có tính khả thi. Trong đó, quan tâm nghiên cứu dự báo tình hình, xu hướng tệ nạn tham nhũng, vi phạm về tham nhũng, nhất là những vi phạm mới để chủ động, kịp thời có những chủ trương, giải pháp sát đúng và trúng, hiệu lực, hiệu quả. Quốc hội, Chính phủ nghiên cứu xây dựng, ban hành đồng bộ các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là những văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tạo cơ sở, môi trường pháp lý hoàn chỉnh, đồng bộ để thực hiện tốt việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Bốn là, nghiên cứu để tiếp tục hoàn chỉnh mô hình tổ chức các cơ quan có chức năng chỉ đạo và trực tiếp đấu tranh phòng, chống tham nhũng thực sự “tinh nhuệ, chuyên nghiệp” phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của nước ta để có hiệu lực, hiệu quả.

Trong đó, có việc chỉ đạo nghiên cứu tổ chức thực hiện thí điểm uỷ ban kiểm tra các cấp do đại hội đảng bộ cùng cấp bầu (ở cấp huyện và cấp tỉnh); sáp nhập cơ quan thanh tra của Nhà nước và cơ quan kiểm tra của Đảng theo mô hình “một nhà hai cửa”để góp phần nâng cao năng lực và hiệu lực, hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong Đảng, bộ máy nhà nước, cả khu vực công và khu vực tư. Chỉ đạo kiên quyết, triệt để việc kiểm tra, thanh tra, điều tra các vụ việc, vụ án tham nhũng, nhất là những vụ án tham nhũng nghiêm trọng, gây bức xúc trong xã hội.

Năm là, quan tâm chỉ đạo việc nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, phát huy sáng kiến, ý tưởng có tính khả thi trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục ý thức phòng ngừa tham nhũng; đầu tư nguồn lực cho những lực lượng trực tiếp đấu tranh phòng, chống tham nhũng về phương tiện, điều kiện hoạt động; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, chế độ, chính sách đãi ngộ. Trong đó, chú trọng các biện pháp xử lý để thu hồi “triệt để” hoặc ở mức “cao nhất” tiền, tài sản tham nhũng và được trích một phần tiền, tài sản tham nhũng đầu tư trở lại cho các hoạt động phòng, chống tham nhũng, kể cả việc thưởng và hỗ trợ cho những người dũng cảm, tích cực, có thành tích đấu tranh chống tham nhũng hoặc bị tổn hại về vật chất, tinh thần, tính mạng do đấu tranh chống tham nhũng.

Chúng ta xác định tham nhũng là một trong những nguy cơ, thách thức đối với vị trí, vai trò cầm quyền, đe dọa nghiêm trọng sự tồn vong của Đảng và chế độ. Vì vậy, cùng với việc kế thừa kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng của cha ông ta và kinh nghiệm từ khi giành độc lập dân tộc đến nay, kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng của các nước để vận dụng vào công tác phòng, chống tham nhũng hiện nay đạt hiệu quả.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 9-2016

(1),(2), (3), (6), (7), (9), (10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.436, 394, 436, 318, 394-395, 488, 436.

(4) Sđd, t.7, tr.264.

(5), (12) Sđd,t.10, tr. 574,573.

(8) Sđd, t.11, tr. 110,

(11)Sđd, t.5, tr. 640-641

(13), (14) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI,Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.18, 139.

 

CAO VĂN THỐNG

Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương           

PGS, TS ĐỖ XUÂN TUẤT

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác