Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng, phát triển văn hóa Việt Nam
Thứ hai, 22 Tháng 5 2017 16:58
303 Lượt xem

Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng, phát triển văn hóa Việt Nam

(LLCT) - Mục tiêu của sự nghiệp cách mạng mà Hồ Chí Minh phấn đấu suốt cuộc đời là giành độc lập cho dân tộc, vươn tới xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn, người dân được tự do, hạnh phúc, hướng đến các giá trị chân, thiện, mỹ. Bởi vậy, Người luôn quan tâm sâu sắc sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc. Những quan điểm, chỉ dẫn của Người về văn hóa là tài sản tinh thần vô giá, tạo nền tảng quan trọng cho Đảng và nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Quan điểm của Người về văn hóa thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, văn hóa soi đường cho quốc dân đi, văn hóa cũng là một mặt trận

Tìm ra con đường cứu nước đúng đắn - con đường cách mạng vô sản là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Từ đó, Người “luôn nghĩ đến một xã hội mới, dân chủ, công bằng, nhân đạo, khác hẳn các xã hội đầy rẫy áp bức, bất công ở Tổ quốc mình cũng như ở nước khác, nghĩ đến một xã hội văn minh cho dân tộc mình và các dân tộc khác. Với ước mơ đó, ngay từ đầu cuộc đời cách mạng, Hồ Chí Minh đã hiểu tầm quan trọng của văn hóa đối với đời sống con người, đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc và canh tân đất nước, đối với việc xây dựng tình đoàn kết và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc. Từ tuổi thanh xuân cho đến cuối đời, Hồ Chí Minh luôn hăng hái chiến đấu trên mặt trận văn hóa”(1) .

Văn hóa cũng là một mặt trận, tư tưởng này đã được thể hiện trong những hoạt động văn học nghệ thuật của Người từ những năm 20 thế kỷ XX khi phê phán kịch liệt chính sách ngu dân của thực dân Pháp, tố cáo chúng chà đạp lên văn hóa truyền thống, thuần phong mỹ tục, nhân phẩm Việt Nam. Theo dòng tư tưởng của Người, Đề cương văn hóa Việt Namnăm 1943 của Đảng ghi rõ: “Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa) ở đó người cộng sản phải hoạt động”, cùng nhau “xây đắp nền văn hóa kháng chiến kiến quốc thiết thực và rộng rãi”.

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc. Tuy vậy, trước dã tâm của kẻ thù xâm lược, cả dân tộc ta phải bước ngay vào “kháng chiến kiến quốc” để bảo vệ nền độc lập vừa giành được. Đây là giai đoạn phát triển văn hóa dưới chế độ dân chủ nhân dân tiến lên CNXH. Lãnh đạo xây dựng nền văn hóa mới gắn liền với chiến lược chống giặc đói, chống giặc dốt, chống giặc ngoại xâm, chống thói quen và truyền thống lạc hậu, Hồ Chí Minh đã phát động cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện. Đây là quá trình “kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến”; thực hiện đấu tranh trên “mặt trận văn hóa” và xây dựng đội ngũ “chiến sĩ văn hóa”.

Trong thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa (năm 1951), Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”(2). Người khẳng định rõ vai trò xung kích của văn hóa trong sứ mệnh giải phóng dân tộc. Văn hóa cùng với các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự... phải tạo thành những mặt trận có sức mạnh to lớn trong cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. “Văn hóa nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị”; song chính trị, kinh tế, văn hóa đều “phải coi là quan trọng ngang nhau”(3).

Văn hóa phải là một bộ phận của cuộc cách mạng, đó là văn hóa cách mạng của giai cấp công nhân, phục vụ nhân dân lao động. Người chỉ rõ: “Dân tộc bị áp bức, thì văn nghệ cũng mất tự do. Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng”(4). Tham gia cách mạng có nghĩa là phải trở thành vũ khí sắc bén trong đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và toàn thể nhân dân lao động bị áp bức. Theo đó, trong thực tiễn đấu tranh cách mạng và xây dựng CNXH, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ nhiệm vụ của văn hóa, quan tâm đến các hoạt động văn hóa, từ xóa nạn mù chữ đến thực hành đời sống mới, từ cách tuyên truyền, giáo dục đến cách nói, cách viết, sửa đổi lối làm việc, từ công tác văn hóa quần chúng ở cơ sở đến lĩnh vực sáng tác văn học nghệ thuật đều phục vụ đắc lực nhiệm vụ chính trị.

Theo Người, văn hóa “phải soi đường cho quốc dân đi”(5). Muốn vậy, văn hóa phải gắn liền với đời sống, với lao động sản xuất, có “nội dung thiết thực, có ý nghĩa giáo dục”, phù hợp với trình độ của quần chúng, rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo. Văn hóa phục vụ nhân dân lao động không chỉ là đưa văn hóa đến cho nhân dân lao động mà còn là đưa nhân dân lao động đến với văn hóa, tạo điều kiện cho nhân dân lao động nắm lấy văn hóa, làm chủ văn hóa.

Thứ hai, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại

Theo Hồ Chí Minh, dân tộc nào cũng có một chiều sâu, cội rễ lịch sử - văn hóa. Cái đó làm thành cốt cách, bản sắc, nét độc đáo trong văn hóa mỗi dân tộc. Bản sắc văn hóa dân tộc là những giá trị văn hóa bền vững của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; là thành quả của quá trình lao động, sản xuất, chiến đấu và giao lưu của con người Việt Nam. Về nội dung, đó là lòng yêu nước, thương nòi, tinh thần độc lập, tự cường, tự tôn dân tộc... Về hình thức, đó là biểu hiện ở ngôn ngữ, phong tục, tập quán, truyền thống... Vì vậy phải trân trọng, khai thác, giữ gìn, phát huy những giá trị của văn hóa dân tộc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng của từng giai đoạn lịch sử. Theo Người, “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”; “càng thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin càng phải coi trọng những truyền thống tốt đẹp của cha ông”.

Khai thác hạt nhân của nền văn hóa Việt Nam, đồng thời Hồ Chí Minh cũng đặc biệt chú trọng việc giao lưu, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Theo Người, “văn hóa Việt Nam ảnh hưởng lẫn nhau của văn hóa Đông phương và Tây phương chung đúc lại... Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt ta học lấy để tạo ra một nền văn hóa Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa xưa và văn hóa nay, trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần túy Việt Nam để hợp với tinh thần dân chủ”(6). Trao đổi với một nhà văn Liên Xô, Người nhấn mạnh rằng “các bạn chớ hiểu là tôi cho rằng chúng tôi cần dứt bỏ văn hóa nào đó, dù là văn hóa Pháp đi nữa. Ngược lại, tôi muốn nói điều khác. Nói đến việc mở rộng kiến thức của mình về văn hóa thế giới, mà đặc biệt hiện nay là văn hóa Xôviết - chúng tôi thiếu - nhưng đồng thời tránh nguy cơ trở thành kẻ bắt chước... Văn hóa của các dân tộc khác cần phải được nghiên cứu toàn diện, chỉ có trong trường hợp đó mới có thể được nhiều hơn cho văn hóa của chính mình”(7).

Hồ Chí Minh chỉ rõ: “phát huy vốn cũ quý báu của dân tộc và học tập văn hóa tiên tiến của các nước, nhưng nên nhớ rằng, chỉ có những người cách mạng chân chính mới thâu thái được những hiểu biết quý báu của các đời trước để lại”, và “mình hưởng cái hay của người thì mình cũng phải có cái hay cho người ta hưởng - mình đừng chịu vay mà không trả”. Tiêu chí tiếp thu là, có cái gì hay, cái gì tốt là ta học lấy, phải lấy văn hóa dân tộc làm gốc, đó là điều kiện, cơ sở để tiếp thu văn hóa nhân loại.

Thứ ba, xây dựng nền văn hóa dân tộc, khoa học, đại chúng

Ngay sau khi giành được độc lập, giữa những bộn bề khó khăn, thách thức đối với chính quyền non trẻ, Hồ Chí Minh đã quan tâm xây dựng nền văn hóa mới của một dân tộc độc lập. Nền văn hóa mới này“cần phải có tính cách khoa học, tính cách đại chúng, thì mới thuận với trào lưu tiến hóa của tư tưởng hiện đại”(8). Tại Đại hội II của Đảng (1951), Hồ Chí Minh khẳng định: “... phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hóa tiến bộ thế giới để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng”(9).

Theo Hồ Chí Minh, nền văn hóa Việt Nam, trước hết phải có gốc rễ từ dân tộc, gắn với dân tộc, thể hiện được “cốt cách” dân tộc. Đó là những giá trị, tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được xây đắp qua hàng nghìn năm lịch sử; nền văn hóa mới Việt Nam phải phát huy cao độ lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, nhân ái, dũng cảm, bất khuất, ý chí độc lập, tự cường,... Những giá trị đặc sắc của văn hóa dân tộc không chỉ được thể hiện ở nội dung mà còn biểu hiện qua hình thức cũng phải thật độc đáo, mang tính dân tộc sâu sắc.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh “cần chăm lo đến đặc tính dân tộc mình trong nghệ thuật”(10), “chú ý phát huy cốt cách dân tộc”(11), “lột cho hết tinh thần dân tộc”(12), tính chất dân tộc và tính chất quốc tế thống nhất với nhau, “phát triển hết cái hay cái đẹp của dân tộc, tức là ta cùng đi tới chỗ nhân loại”.

Theo Hồ Chí Minh, tính khoa học của nền văn hóa dân tộc bao gồm cả ý nghĩa tiên tiến của CNXH lẫn ý nghĩa hiện đại, từ tư duy, lý luận khoa học, đội ngũ trí thức tiêu biểu cho một nền công nghiệp, khoa học, nghệ thuật hiện đại, đội ngũ công nhân... đến đỉnh cao văn hóa . Khoa học là sự tiếp thu tinh hoa, trí tuệ của thời đại và đỉnh cao văn hóa nhân loại. Một trong những nội dung của tính khoa học là phải biết chọn lựa, “gạn đục khơi trong”, biết chắt lọc, lấy ra những cái gì cần thiết và có ích. Không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu thì bỏ, cái gì cũ mà dùng được nhưng phiền phức thì phải sửa cho phù hợp, cái gì cũ mà tốt thì phải biết nhân lên.

Tính khoa học của nền văn hóa còn thể hiện ở sự phù hợp của nền văn hóa dân tộc với sự tiến hóa chung của nền văn hóa nhân loại, ở khả năng đóng góp của văn hóa cho sự phát triển xã hội.

Người thường nhấn mạnh việc tìm hiểu các nền văn hóa trên thế giới để tiếp thu những tri thức tiến bộ của thế giới để phát triển đất nước. Người yêu cầu tất cả cán bộ, đảng viên và nhân dân phải không ngừng học tập, nâng cao sự hiểu biết cho mình và cho những người khác. Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh sự cần thiết và tầm quan trọng của việc học tập lý luận, để mỗi người có phương pháp tư duy khoa học, làm việc hiệu quả.

Theo Hồ Chí Minh, tính đại chúng của nền văn hóa mới trước hết phải là nền văn hóa vì nhân dân lao động. Nhân dân chính là sức sống của nền văn hóa mới. Bởi, nhân dân không chỉ là người sáng tạo ra của cải vật chất mà còn sáng tạo ra giá trị tinh thần. Sáng tác của nhân dân được Hồ Chí Minh đánh giá là “những hòn ngọc quý”. Nhân dân cung cấp và là tư liệu quý cho văn nghệ sĩ sáng tạo, đồng thời họ cũng chính là những người thẩm định, đánh giá khách quan, chính xác các sản phẩm văn hóa, văn nghệ. Theo Người, điều quan trọng nhất, nhân dân phải là những người được hưởng thụ các giá trị văn hóa. Người thường căn dặn, những cán bộ làm công tác văn hóa nghệ thuật phải hòa mình với thực tiễn cuộc sống để nắm bắt tâm tư tình cảm, nguyện vọng của nhân dân để các sáng tác của mình phục vụ thiết thực cho cuộc sống của nhân dân. Người cũng thường xuyên nhắc nhở, uốn nắn lối sáng tác xa rời nhân dân, không phù hợp với trình độ và thị hiếu thẩm mỹ của nhân dân. Tóm lại, văn hóa phải “từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng”, trên cơ sở đó để định hướng giá trị cho quần chúng.

Quán triệt quan điểm của Hồ Chí Minh, Đảng ta ngày càng nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của lãnh đạo xây dựng, phát triển văn hóa đối với đời sống xã hội, với sự phát triển bền vững đất nước. Đại hội VI (1986) của Đảng nêu rõ: “Mỗi hoạt động văn hóa, văn nghệ phải tính đến hiệu quả xã hội, tác động tốt đến tư tưởng, tâm lý, tình cảm, nâng cao trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa và trình độ thẩm mỹ của nhân dân”(13[1]). Tại Đại hội, lần đầu tiên Đảng nêu lên chủ trương xã hội hóa các hoạt động văn hóa.

Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1993) “Về một số nhiệm vụ văn hóa, văn nghệ những năm trước mắt”, Đảng xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của đời sống xã hội. Tại Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII (1988), Đảng đã ban hành Nghị quyết về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, đề ra những quan điểm chỉ đạo, những giải pháp lớn để xây dựng và phát triển văn hóa.

Tại Hội nghị Trung ương 9 khóa XI, Đảng ban hành Nghị quyết “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, tiếp tục bổ sung, phát triển, làm sâu sắc hơn một số vấn đề lý luận về xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Đại hội XII của Đảng (2016), xác định mục tiêu: “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân, thiện, mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”([1]14)

Đảng ta đã không ngừng bổ sung, hoàn thiện những vấn đề lý luận về xây dựng, phát triển văn hóa: Xác định tính chất của nền văn hóa Việt Nam trong thời kỳ phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, hội nhập quốc tế, nhấn mạnh các đặc trưng: dân tộc, nhân văn, dân chủ, khoa học; Xác định mối quan hệ khăng khít giữa xây dựng văn hóa với xây dựng con người, định hướng phát triển con người toàn diện với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo; Xác định rõ quan hệ giữa xây dựng, phát triển văn hóa với các các lĩnh vực, các mặt hoạt động của đời sống xã hội, đặc biệt là quan hệ giữa chính trị với văn hóa, kinh tế với văn hóa. Nhấn mạnh yêu cầu gắn kết bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống với sáng tạo các giá trị văn hóa mới...

Trong lãnh đạo xây dựng, phát triển văn hóa, Đảng ta nhấn mạnh các nội dung: Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành mục tiêu của chiến lược phát triển; Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN; Phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường dịch vụ và sản phẩm văn hóa; Chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa...   

Trong thực tiễn, sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hóa đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. Những tiến bộ trong giáo dục đào tạo, sự khởi sắc trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, truyền thông đại chúng, bảo tồn, phát huy các di sản của văn hóa; sự tăng cường các thiết chế văn hóa cơ sở... làm cho đời sống tinh thần của xã hội phong phú, đa dạng hơn, mức hưởng thụ văn hóa của người dân từng bước được nâng lên. “Cả nước có 7.484 di tích văn hóa cấp tỉnh, 3.202 di tích văn hóa cấp quốc gia; 48 di tích văn hóa quốc gia đặc biệt, 8 di sản văn hóa và thiên nhiên được UNESCO vinh danh là di sản thế giới; có gần 19.000 thư viện các cấp; 154 bản làng văn hóa; 5.429 nhà văn hóa các cấp; 786 cơ quan báo chí với 1.016 ấn phẩm...”(15[1]). Đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa đã có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hóa, đồng thời là những chiến sĩ tiên phong trên mặt trận đấu tranh chống tiêu cực và các biểu hiện phi văn hóa, phản văn hóa. Những nhân tố mới, giá trị mới của con người Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH hội nhập quốc tế được từng bước định hình trong đời sống. Quyền tự do sáng tạo văn học, nghệ thuật được tôn trọng và quan tâm thực hiện. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”,... đạt được những kết quả tích cực, tạo môi trường tốt để nuôi dưỡng, phát huy những giá trị nhân văn của dân tộc. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng các dân tộc được phát huy, đồng thời xuất hiện những giá trị văn hóa mới.

____________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 10-2016

(1) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh - quá khứ, hiện tại và tương lai, t.1, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.44.

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập,t.7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.246.

(3), (4), (5)  Hồ Chí Minh: Về công tác văn hóa văn nghệ, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1971, tr.70, 63, 72.

(6) Hồ Chí Minh: Về văn hóa,Bảo tàng Hồ Chí Minh xuất bản, Hà Nội, 1997, tr.350.

(7), (10) Hồ Chí Minh: Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận,Nxb Văn học, Hà Nội, 1981, tr.516-517, 480.

(8) Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương: Lịch sử biên niên công tác tư tưởng - văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam (1925 - 1954), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 303-304.

(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập,t.7,  Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.40.

(11), (12) Hồ Chí Minh: Về công tác văn hóa văn nghệ,Nxb Sự thật, Hà Nội, 1971, tr.77, 72.

(13) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 91.

(14) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.126.

(15) ĐCSVN: Ban Chấp hành Trung ương, Ban Chỉ đạo tổng kết: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 - 2016), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015, tr.97.

 

Đinh Ngọc Quý

Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng,

 

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Các bài viết khác