Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Mục tiêu và động lực phát triển từ đổi mới mô hình tăng trưởng theo tinh thần Nghị quyết 05 Hội nghị Trung ương 4 khóa XII
Thứ sáu, 23 Tháng 6 2017 15:19
700 Lượt xem

Mục tiêu và động lực phát triển từ đổi mới mô hình tăng trưởng theo tinh thần Nghị quyết 05 Hội nghị Trung ương 4 khóa XII

(LLCT) - Hội nghị Trung ương 4 khóa XI ra Nghị quyết về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế; nhấn mạnh các quan điểm, định hướng đổi mới: đổi mới mô hình nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế, phát triển nhanh và bền vững; xác định mục tiêu cụ thể là củng cố vững chắc nền tảng kinh tế vĩmô, kiểm soát lạm phát, bội chi ngân sách, quy mô nợ công, thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới, sáng tạo tăng năng suất lao động, nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp đóng góp vào tăng trưởng,tăng năng lực cạnh tranh.

 

1. Mục tiêu đổi mới mô hình tăng trưởng

Tăng trưởng kinh tế là nội dung cốt lõi của phát triển kinh tế. Đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu nền kinh tế là chủ trương quan trọng xuyên suốt từ Đại hội XI của Đảng đến nay. Đại hội XII đánh dấu sự đổi mới nhận thức lý luận và cụ thể hóa những đặc trưng của mô hình phát triển kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCN ở nước ta trong bối cảnh mới, mở ra những triển vọng trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế ngày càng vững chắc và hiệu quả hơn...

Cụ thể hóa Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết 05 Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về “Một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế”đã nhấn mạnh các quan điểm, định hướng đổi mới sau:

- Đổi mới mô hình tăng trưởng nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững toàn diện cả về kinh tế, xã hội và môi trường. Không thúc đẩy tăng trưởng bằng mọi giá, gây tác động xấu đến ổn định kinh tế vĩ mô; đồng thời bảo đảm quốc phòng, an ninh, tiến bộ, công bằng xã hội, giữ gìn môi trường sinh thái.

- Đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng chú trọng và ngày càng dựa nhiều hơn vào các nhân tố thúc đẩy tăng năng suất lao động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đặc biệt là thành tựu khoa học - công nghệ cũng như tiềm năng, lợi thế của các ngành, lĩnh vực, các địa phương và cả nước. Kết hợp hợp lý giữa tăng trưởng theo chiều rộng và chiều sâu, trong đó lấy tăng trưởng theo chiều sâu là hướng chủ đạo. Tăng trưởng dựa vào đồng thời cả đầu tư, xuất khẩu và thị trường trong nước; dựa vào tăng năng suất, chất lượng lao động, ứng dụng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Khai thác và phát huy tối đa nội lực kết hợp với thu hút và sử dụng hiệu quả ngoại lực.

- Cơ cấu lại nền kinh tế với trọng tâm ưu tiên là: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; nghiên cứu và triển khai ứng dụng khoa học - công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trọng dụng nhân tài. Cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; cơ cấu lại đầu tư công, ngân sách nhà nước và nợ công; cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công và hệ thống tổ chức tín dụng.

- Đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế là nhiệm vụ cơ bản, trọng yếu, có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn hiện nay. Các cấp ủy đảng, chính quyền từ trung ương đến địa phương cần kiên trì, kiên quyết lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện. Toàn hệ thống chính trị và toàn dân, nhất là đội ngũ trí thức, các doanh nhân, doanh nghiệp cần chủ động, sáng tạo, tích cực tham gia và có nhiều đóng góp to lớn trong việc thực hiện nhiệm vụ này.

Nghị quyết đã xác định 8 nội dung lớn của đổi mới mô hình tăng trưởng là: (1) Nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành kinh tế vĩ mô. 2) Tiếp tục thực hiện ba đột phá chiến lược (hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;tiếp tục phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại; Chú trọng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nước. (3) Ưu tiên phát triển và chuyển giao khoa học - công nghệ, nhất là khoa học - công nghệ hiện đại, coi đây là yếu tố trọng yếu nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. (4) Đẩy mạnh cơ cấu lại tổng thể các ngành, lĩnh vực kinh tế trên phạm vi cả nước và từng địa phương, doanh nghiệp với tầm nhìn dài hạn, có lộ trình cụ thể; gắn kết chặt chẽ giữa cơ cấu lại tổng thể nền kinh tế với cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực trọng tâm (gồm cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, cơ cấu lại thị trường tài chính, trọng tâm là các tổ chức tín dụng; cơ cấu lại đầu tư, trọng tâm là đầu tư công; đổi mới, cơ cấu lại khu vực sự nghiệp công lập;đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; cơ cấu lại một cách thực chất các ngành công nghiệp;cơ cấu lại và phát triển nhanh các ngành dịch vụ, duy trì tốc độ tăng trưởng các ngành dịch vụ cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP); (5) Phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam cả về số lượng, chất lượng thực sự là một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế. (6) Đổi mới cách thức thực hiện liên kết, phối hợp giữa các địa phương trong phát triển kinh tế vùng; thực hiện có hiệu quả quá trình đô thị hoá. (7) Đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh. (8) Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước.

Trên cơ sở đó, Nghị quyết đã xác định một số mục tiêu cụ thể:

- Tiếp tục củng cố vững chắc nền tảng kinh tế vĩ mô; kiểm soát lạm phát bình quân dưới 5%/năm; giảm dần tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước, đến năm 2020 xuống dưới 4% GDP, năm 2030 xuống còn 3% GDP.

- Quy mô nợ công hằng năm giai đoạn 2016 - 2020 không quá 65% GDP, nợ chính phủ không quá 55% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP. Đến năm 2030, nợ công không quá 60% GDP, nợ chính phủ không quá 50% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia không quá 45% GDP.

- Giai đoạn 2016 - 2020, hằng năm có khoảng 30 - 35% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo. Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân hằng năm trên 5,5%; tốc độ tăng năng suất nội ngành đóng góp trên 60% vào tăng năng suất lao động năm 2020.

- Đến năm 2020, tỷ trọng lao động có chứng chỉ đào tạo tăng lên khoảng 25%; tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm xuống dưới 40%.

- Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016 - 2020 khoảng 30-35%; thu hẹp khoảng cách năng lực cạnh tranh quốc gia với các nước ASEAN 4.

2. Động lực phát triển từ đổi mới mô hình tăng trưởng

Thực tiễn cho thấy, tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh trên cơ sở khai thác các thành tựu cách mạng khoa học công nghệ, hiện đại hóa cơ cấu và thể chế quản lý gắn với phát triển kinh tế tri thức là cách thức phát triển chung của mọi quốc gia. Đây là một quá trình mở, được thúc đẩy mạnh mẽ hơn trong bối cảnh các cơ hội và nguồn lực phát triển theo chiều rộng đã tới giới hạn, trong khi các yêu cầu và điều kiện phát triển theo chiều sâu đang ngày càng gia tăng áp lực. Việc duy trì mô hình cũ, chậm đổi mới cơ chế quản lý phù hợp với bối cảnh thị trường hiện đại đã làm triệt tiêu động lực tăng trưởng, giảm sút năng lực cạnh tranh và chất lượng môi trường sống, gia tăng nợ xấu, nợ công, dẫn đến nguy cơ bùng phát những bất ổn cả về kinh tế và xã hội.

Trong thời gian tới, quá trình tái cơ cấu, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam cần tiến hành theo hướng: Kết hợp có hiệu quả phát triển chiều rộng với chiều sâu, trong đó chú trọng phát triển theo chiều sâu, nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ; nâng cao năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực; phát huy lợi thế so sánh và chủ động hội nhập quốc tế; giải quyết hài hòa giữa mục tiêu trước mắt và lâu dài, giữa phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển văn hóa, tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Triển khai tái cơ cấu đồng bộ trong tổng thể nền kinh tế; tập trung tái cơ cấu đầu tư công, hệ thống ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính; các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước và ngân sách nhà nước; kiểm soát nợ xấu, nợ công, sở hữu chéo.

Phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao giá trị gia tăng; hướng tới nền nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái bền vững, hiệu quả; phát triển chuỗi nông sản thực phẩm sạch, an toàn và nông sản thực phẩm hữu cơ phục vụ đời sống nhân dân và xuất khẩu. Chuyển mạnh từ sản xuất theo hộ gia đình riêng lẻ sang sản xuất theo hộ gia đình liên kết trong hợp tác xã kiểu mới và các mô hình kinh tế hợp tác khác. Tăng cường liên kết “bốn nhà”: Nhà nông - Nhà nước - Nhà đầu tư - Nhà khoa học. Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ phù hợp với điều kiện tự nhiên để phát triển các sản phẩm phát huy lợi thế so sánh của từng địa phương, từng vùng và cả nước.

Phát triển công nghiệp chế tạo, chế biến, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sạch, công nghiệp năng lượng, cơ khí, điện tử, hóa chất, công nghiệp xây dựng, xây lắp, công nghiệp quốc phòng, an ninh.

Phát triển khu vực dịch vụ theo hướng hiện đại, đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn các khu vực sản xuất và tốc độ tăng trưởng chung của cả nền kinh tế, ưu tiên một số ngành dịch vụ có lợi thế, có hàm lượng tri thức và công nghệ cao.

Phát triển mạnh kinh tế biển và các vùng kinh tế động lực, một số đặc khu kinh tế và ưu tiên tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế vùng cao, vùng sâu, vùng xa và địa bàn khó khăn, dân tộc thiểu số...

Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng nền KTTT định hướng XHCN. Tính KTTT của nền kinh tế Việt Nam được xác định là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật và nguyên tắc của thị trường. Tính định hướng XHCN được thể hiện ở mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, được bảo đảm bởi sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Sự kết hợp giữa tính KTTT và tính định hướng XHCN đòi hỏi có sự kết hợp tất yếu của bàn tay thị trường với bàn tay nhà nước trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hơn. Sự kết hợp này vừa là mục tiêu, vừa là động lực gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường; bảo đảm phát huy dân chủ, sáng tạo và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, gắn phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm để nhân dân được hưởng thụ ngày một tốt hơn thành quả của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước...

Những nhận thức mới, đầy đủ và sâu sắc hơn về mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN nhằm định vị và khai thác các động lực,bảo đảmphát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở sự phối hợp hài hòa giữa bàn tay nhà nước và bàn tay thị truờng. Coi trọng tính đồng bộ và chú ý đến tính hai mặt của các giải pháp chính sách, nhằm đa dạng hóa và phối hợp hiệu quả các nguồn lực trong nước và quốc tế, tiếp tục mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả đầu tư, cải thiện môi trường kinh doanh, giảm gánh nặng chi phí tài chính. Đẩy mạnh tái cơ cấu, xã hội hóa và tự do hóa đầu tư, tham gia sâu rộng vào chuỗi liên kết và cung ứng giá trị, chủ động quản trị rủi ro. Phát triển kinh tế biển, công nghiệp hỗ trợ và cơ cấu liên kết kinh tế vùng; kiểm soát tốt an toàn tài chính vĩ mô, nợ công, nợ xấu, sở hữu chéo và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước. Tăng cường dự báo, thông tin, bảo vệ người tiêu dùng, nâng cao uy tín quốc gia trên trường quốc tế...

Đặc biệt, xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính và đồng hành cùng doanh nghiệp cũng là một động lực trong đổi mới mô hình tăng trưởng. Theo đó, Nhà nước, thay vì bao biện, làm thay, cần đặt niềm tin, trao quyền cho người dân và doanh nghiệp; nhất quán chủ trương xây dựng kinh tế là trung tâm, doanh nghiệp là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH đấtnước. Cần tăng cườngđối thoại, lắng nghe ý kiến của doanh nghiệp, từ đó tạo môi trường kinh doanh thuận lợi; tăng cường cải cách thủ tục hành chính, giảm bớt các chi phí chính thức và không chính thức, khuyến khích doanh nghiệp áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, xây dựng thương hiệu. Kiên quyết làm trong sạch bộ máy, khắc phục tình trạng lạm thu phí, thanh tra, kiểm tra chồng chéo, hình sự hóa các quan hệ kinh tế, lối hành xử nhũng nhiễu, lợi ích nhóm và tư duy nhiệm kỳ. Tiến hành đổi mới các luật định và văn bản pháp lý, khắc phục tính không rõ ràng, thiếu tương thích, thiếu định lượng, loại bỏ những quy định, điều lệ không còn phù hợp với tình hình thực tiễn...

Trong quá trình đổi mới toàn diện và chủ động hội nhập quốc tế, Việt Nam đã, đang và sẽ tích cực tham gia các hiệp định thương mại tự do; tận dụng các cam kết quốc tế để mở rộng thị trường, tái phân bổ và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế cũng như các doanh nghiệp. Gia tăng mức độ tự chủ của nền kinh tế, xác lập vị trí cao hơn trong chuỗi sản xuất, cung ứng khu vực và toàn cầu; tăng cường khả năng ứng phó của nền kinh tế trước những tác động từ bên ngoài; đóng góp vào quá trình phát triển nội lực và liên kết vùng trong cả nước. Tận dụng được hệ thống quy tắc và luật lệ của các tổ chức quốc tế để bảo vệ lợi ích chính đáng của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân Việt Nam trong quan hệ với đối tác nước ngoài, phục vụ mục tiêu xây dựng nền kinh tế tri thức và con người Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH, từ đó nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế.

________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 11-2016

 

TS Nguyễn Minh Phong

Báo Nhân Dân

ThS Nguyễn Trần Minh Trí

Viện Kinh tế và chính trị thế giới,

Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam

Các bài viết khác