Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Nâng cao trình độ giác ngộ và vị thế chính trị của nông dân trong công cuộc đổi mới hiện nay
Thứ hai, 26 Tháng 6 2017 09:08
788 Lượt xem

Nâng cao trình độ giác ngộ và vị thế chính trị của nông dân trong công cuộc đổi mới hiện nay

(LLCT) - Việt Nam là nước nông nghiệp, nông dân có vai trò động lực chính của cách mạng. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 30 năm đổi mới có đóng góp của kinh tế nông nghiệp và nông dân. Để nâng cao trình độ giác ngộ, nhận thức của nông dân, củng cố vững chắc vị thế chính trị của nông dân, cần chú trọng thực hiện những vấn đề chủ yếu: Nâng cao tinh thần yêu nước, ý thức tự lực tự cường và vị thế chính trị của nông dân trong đổi mới và hội nhập quốc tế; nâng cao nhận thức của nông dân về pháttriển nông nghiệp hàng hóa lớn, nông nghiệp thông minh, sạch và an toàn; nhận thức đầy đủ vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng nông thôn mới. 

Việt Nam là nước nông nghiệp. Từ thời dựng nước của các Vua Hùng, thế kỷ VII trước Công nguyên đã định hình nền văn minh sông Hồng - văn minh lúa nước. Cũng từ đó, nông dân luôn luôn là chủ thể của quá trình dựng nước và giữ nước. Trong thời kì phong kiến, nông nghiệp và nông dân được xác định là gốc “Dĩ nông vi bản” và nông nghiệp quyết định sự ổn định của đất nước “Phi nông bất ổn”.

Khi khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội, con người, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận rõ vai trò của nông dân như một động lực chính của cách mạng: “Muốn cách mạng thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc”; “Sự tự do, bình đẳng phải cách mạng mà lấy lại, hội nông là một cái nền cách mạng của dân ta”(1); “Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày”(2).

Nông dân Việt Nam đã cùng với công nhân và toàn dân tộc, dưới sự lãnh đạo đội tiền phong và Đảng Cộng sản đã làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, xóa bỏ chế độ thuộc địa, giành độc lập cho dân tộc và thủ tiêu chế độ phong kiến, xây dựng chính thể cộng hòa dân chủ Việt Nam.

Trong thư gửi nông gia Việt Nam ngày 7-12-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Nước muốn giàu mạnh thì phải phát triển nông nghiệp”(3). Thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam ngày 11-4-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn.

Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh. Nông dân muốn giàu, nông nghiệp muốn thịnh, thì cần phải có hợp tác xã”(4).

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, kinh tế hợp tác xã là hợp vốn, hợp sức với nhau, là tổ chức có lợi cho nhà nông, làm cho nhà nông thịnh vượng, ích quốc lợi dân. Trong cách mạng giải phóng dân tộc cần thiết phải nâng cao giác ngộ chính trị cho nông dân, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nông dân, khẳng định vị thế chính trị của nông dân là quân chủ lực của cách mạng và kháng chiến. Mặt khác, cũng tập trung nâng cao nhận thức của nông dân về kinh tế, nhằm thúc đẩy kinh tế nông nghiệp không ngừng phát triển, bảo đảm cải thiện, ổn định đời sống, đưa sự nghiệp cách mạng và kháng chiến đến thắng lợi.

Trong xây dựng CNXH ở miền Bắc (1954-1975) và trên cả nước sau năm 1975, vị thế của nông dân được khẳng định gắn liền với quá trình hợp tác hóa nông nghiệp. Hợp tác hóa nông nghiệp, các hợp tác xã ra đời với quy mô ngày càng lớn và hoạt động theo cơ chế quản lý kế hoạch hóa, tập trung, hành chính và bao cấp. Cùng với những tác động tích cực, mô hình đó đã bộc lộ nhiều hạn chế, cản trở sự phát triển kinh tế nông nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nông dân. Từ trong khó khăn đã xuất hiện những cách làm mới nhằm làm cho sản xuất nông nghiệp có năng suất cao, hiệu quả thiết thực. Đó là chủ trương khoán hộ ở tỉnh Vĩnh Phúc (1966), hiện tượng khoán ở Đồ Sơn, Hải Phòng cuối những năm 1970. Nông nghiệp và nông dân trở thành vấn đề toàn xã hội quan tâm và tác động lớn đến sự phát triển của đất nước.

Công cuộc đổi mới cũng bắt đầu từ sự khởi động của nông nghiệp và cách thức sản xuất của người nông dân và Đảng đã kịp thời tổng kết để có chủ trương, chính sách phù hợp. Nghị quyết Trung ương 6 khóa IV (1979) làm cho sản xuất bung ra trước hết trong sản xuất nông nghiệp. Chỉ thị 100 của Ban Bí thư (13-1-1981) về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động và nhất là Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (5-4-1988) giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân và hộ nông dân trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, đã tạo sự đột phá to lớn cho nông nghiệp, bảo đảm lợi ích kinh tế căn bản của nông dân. Sự phát triển của kinh tế nông nghiệp 30 năm đổi mới đã tạo trụ đỡ vững chắc cho nền kinh tế đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng (1996) và vượt qua những tác động của khủng hoảng, suy thoái kinh tế từ khu vực và thế giới.

Thực hiện đường lối đổi mới, Đảng, Nhà nước chủ trương đẩy mạnh CNH, HĐH, trong đó chú trọng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống mọi mặt của nông dân. Các chương trình xóa đói, giảm nghèo: Chương trình 135 (từ năm 1998) hỗ trợ các xã nghèo xây dựng hệ thống điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế; Chương trình 134 (2004) giải quyết vấn đề đất canh tác, đất ở, nước sạch, nhà ở đối với các hộ nghèo; Chương trình 30A (2008) chú trọng đầu tư cho 62 huyện nghèo nhất... đều hướng chủ yếu vào nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Hội nghị Trung ương 7 khóa X đã ban hành nghị quyết Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (5-8-2008). Nghị quyết nêu rõ quan điểm: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế-xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước”(5).

Ba mươi năm đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, trong đó có vai trò và đóng góp của kinh tế nông nghiệp và của nông dân. Tiếp thu chủ trương đó, Đại hội XII của Đảng (1-2016) nhấn mạnh: “Xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp nông dân, chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới. Hỗ trợ, khuyến khích nông dân học nghề, chuyển dịch cơ cấu lao động, tiếp nhận và ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi để nông dân chuyển sang làm công nghiệp và dịch vụ. Nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp, mở rộng và nâng cao chất lượng cung ứng các dịch vụ cơ bản về điện, nước sạch, y tế, giáo dục, thông tin..., cải thiện chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn; thực hiện có hiệu quả, bền vững công cuộc xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích làm giàu hợp pháp”(6).

Hiện nay, hai chương trình quốc gia là: Chương trình giảm nghèo bền vững và Chương trình xây dựng nông thôn mới đang được thực hiện tích cực và có quan hệ mật thiết, thúc đẩy lẫn nhau. Mục tiêu đến năm 2020, giảm tỷ lệ hộ nghèo mỗi năm từ 1,0 đến 1,5%, 40-50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới (đến hết năm 2015 đã có 1.566 xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm 17,5% tổng số xã), đến tháng 9-2016, số xã đạt chuẩn tăng lên 2045 xã; tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng số lao động xã hội khoảng 40%. Đến năm 2020, 90% dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch. Để đạt được mục tiêu, nhiệm vụ đó, nông dân phải là chủ thể thực hiện với sự giúp đỡ, hỗ trợ của Nhà nước. Cần giác ngộ cho nông dân nhận thức rõ trách nhiệm đối với cuộc sống của chính mình và với toàn xã hội.

Công cuộc đổi mới, xây dựng CNXH trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và tác động của cách mạng khoa học, công nghệ, biến đổi khí hậu và môi trường sinh thái, đặt ra những yêu cầu mới cho phát triển nông nghiệp và vai trò của nông dân. Nông dân phải thay đổi nhận thức cho phù hợp với yêu cầu đổi mới toàn diện, đồng bộ, khắc phục sự tụt hậu xa hơn về kinh tế, trong đó có nông nghiệp so với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Để nâng cao trình độ giác ngộ, nhận thức của nông dân, củng cố vững chắc vị thế chính trị của nông dân, cần chú trọng thực hiện mấy vấn đề lớn sau đây.

Một là, nâng cao tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường và vị thế chính trị của nông dân Việt Nam trong đổi mới và hội nhập quốc tế

Trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng do Đảng lãnh đạo, nông dân là đội quân chủ lực. Kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “ruộng rẫy là chiến trường, cuốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sĩ”. Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nông dân bảo đảm: “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Trong công cuộc đổi mới, nông dân đã bảo đảm yêu cầu lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội, giữ vững an ninh lương thực trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu, góp phần vào an ninh lương thực toàn cầu. Nông nghiệp, nông dân Việt Nam sớm thích ứng với kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Đó là thành quả và công lao to lớn của giai cấp nông dân Việt Nam. Hội Nông dân Việt Nam có vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị của đất nước. Vì vậy “vị thế chính trị của giai cấp nông dân ngày càng được nâng cao”(7).

Vị thế chính trị của nông dân được bảo đảm bởi hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và tăng cường. Dân chủ cơ sở được phát huy; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Đại hội XII cho rằng, việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn có tiến bộ. Cần tiếp tục thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân.

Xây dựng và phát triển đất nước theo con đường XHCN, Đảng luôn nhấn mạnh vai trò của khối liên minh của giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) nhấn mạnh xây dựng, phát huy vai trò chủ thể của giai cấp nông dân trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn. Cương lĩnh nêu rõ: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”(8). Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo”(9).

Giai cấp nông dân Việt Nam nhận thức rõ vị thế chính trị của mình đã được Đảng, Nhà nước và xã hội khẳng định. Cùng với việc củng cố nền tảng kinh tế, giai cấp nông dân đã góp phần củng cố hệ thống chính trị, giữ vững ổn định chính trị ở địa bàn nông thôn. Ở những vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển đảo, dù còn rất nhiều khó khăn, nông dân đã nêu cao tinh thần yêu nước, không chỉ lao động sản xuất mà còn góp phần bảo vệ, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, biển đảo của Tổ quốc, bảo vệ lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Hai là, nâng cao nhận thức của nông dân về phát triển nông nghiệp hàng hóa lớn, nông nghiệp thông minh, sạch và an toàn

Thành tựu phát triển nông nghiệp trong những năm đổi mới là rất to lớn. Song, ruộng đất canh tác của các hộ nông dân còn rất manh mún, quy mô nhỏ hẹp, khó khăn trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ. Năng suất lao động còn thấp, chất lượng sản phẩm chưa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, xuất khẩu. Một bộ phận nông dân, vì lợi nhuận nên đã đưa ra thị trường những sản phẩm không bảo đảm an toàn thực phẩm, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người tiêu dùng. Sự biến đổi khí hậu và môi trường đang tác động tiêu cực tới nông nghiệp.

Đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cấu trúc nền kinh tế, trong đó có nông nghiệp đã và đang đặt ra bức thiết nhằm đầu tư theo chiều sâu, nâng cao năng suất lao động, tuân thủ đầy đủ những quy luật thị trường với chất lượng, hiệu quả cao, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững, khắc phục nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đại hội XII của Đảng chủ trương: “Xây dựng nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; nâng cao giá trị gia tăng, đẩy mạnh xuất khẩu.

Đẩy nhanh cơ cấu lại ngành nông nghiệp, xây dựng nền nông nghiệp sinh thái phát triển toàn diện cả về nông, lâm, ngư nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững, trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh và tổ chức lại sản xuất, thúc đẩy ứng dụng sâu rộng khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin vào sản xuất, quản lý nông nghiệp và đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn để tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài; nâng cao thu nhập và đời sống của nông dân”(10).

Tổ chức lại sản xuất, tăng cường liên kết theo chuỗi giá trị. Gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ nông sản trên cơ sở phát triển các hình thức hợp tác, liên kết đa dạng giữa hộ gia đình với các tổ chức hợp tác và doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia. Khuyến khích liên kết giữa hộ nông dân sản xuất với tổ chức tín dụng, tổ chức khoa học, công nghệ và doanh nghiệp. Tiếp tục sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty và các nông, lâm trường quốc doanh, góp phần thúc đẩy phát triển nông, lâm nghiệp và hỗ trợ nông dân ở các vùng nghèo, vùng đặc biệt khó khăn. “Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, nhất là Hội Nông dân và các hiệp hội ngành hàng trong phát triển nông nghiệp, nông thôn”(11).

Hướng tới phát triển nông nghiệp thông minh, bảo đảm an ninh lương thực, an toàn thực phẩm; thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu; bảo vệ môi trường sinh thái; sử dụng công nghệ cao (sinh học, năng lượng, giống và phương pháp canh tác). Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực, liên kết nhà nông, Nhà nước, nhà khoa học và nhà đầu tư. Tích tụ, tập trung ruộng đất và xây dựng hợp tác xã kiểu mới. Giác ngộ nông dân không sản xuất nông sản tồn dư hóa chất độc hại, gây mất an toàn thực phẩm.

Ba là, nhận thức đầy đủ vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng nông thôn mới

Diện mạo nông thôn Việt Nam đã thay đổi rất nhiều so với trước đổi mới. Những thay đổi đó gắn với chủ trương CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; nền kinh tế nông nghiệp phát triển, thu nhập và mức sống của nông dân không ngừng tăng lên. Từ đầu những năm 90  thế kỷ XX, Đảng đã chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn nông thôn, chú trọng phát triển công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn, “ly nông bất ly hương”. Thành quả nổi bật là xóa đói, giảm nghèo, tính đến hết năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo còn 4,25%.

Bên cạnh những thành tựu to lớn đạt được, sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn cũng đã bộc lộ những hạn chế. Mức sống của nông dân ở những vùng chỉ dựa vào nông nghiệp còn thấp, ruộng đất ít, lực lượng lao động không có việc làm tăng nhanh. Do khó khăn về kinh tế, một bộ phận lao động (kể cả lao động trẻ, khỏe) đã ly hương, đến các thành phố, khu công nghiệp để tìm kiếm việc làm. Thực trạng đó đòi hỏi Đảng, Nhà nước phải hoàn thiện chính sách đối với nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Xây dựng nông thôn mới là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước, đáp ứng nguyện vọng của nông dân. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả cao cần nâng cao nhận thức của nông dân để họ tham gia một cách tự giác, chủ động, sáng tạo và thiết thực, đóng góp công sức, trí tuệ xây dựng nông thôn mới và làm giàu cho bản thân.

Hội nghị Trung ương 7 khóa X (2008) đề ra chủ trương xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị được tăng cường.

Các cấp, các ngành, các địa phương, nhất là ngành nông nghiệp, Hội Nông dân các cấp và giai cấp nông dân ngày càng nhận thức rõ nội dung, tính cấp thiết, vai trò của xây dựng nông thôn mới. Từ nay đến năm 2020, để có được 40-50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới cần tới nguồn vốn 193.000 tỷ đồng. Do vậy, cần đa dạng hóa việc huy động nguồn vốn chứ không chỉ từ hỗ trợ của Nhà nước. Huy động đóng góp của nông dân phải vừa sức, nhất là với các hộ nghèo. Khắc phục bệnh thành tích, hình thức, bảo đảm để nông thôn mới thật sự thúc đẩy khát vọng khởi nghiệp và làm giàu của nông dân. Nông thôn mới, người dân phải giàu, dân trí cao, chất lượng cuộc sống tốt và không mất đi giá trị văn hóa truyền thống của nông thôn Việt Nam.

Nâng cao trình độ giác ngộ và vị thế chính trị của nông dân hiện nay hướng chủ yếu vào giác ngộ tình yêu quê hương đất nước, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; nâng cao ý chí quyết tâm, không cam chịu nghèo nàn, lạc hậu, ra sức đổi mới mô hình, cách thức tổ chức sản xuất, nắm bắt khoa học, công nghệ, thực hiện khát vọng làm giàu góp phần phát triển nền nông nghiệp thông minh, nông thôn mới văn minh hiện đại, thúc đẩy đất nước phát triển nhanh, bền vững và nông dân thật sự có đời sống ấm no, hạnh phúc.

________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 11-2016

(1) Hồ Chí Minh:Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.304, 341

(2) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.4.

(3), (4) Hồ Chí Minh:Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.134, 246.

(5) (7) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.123, 124, 122

(6), (8), (9), (10), (11) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.161, 158, 92-93, 283.

(8) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.85.

 

PGS, TS Nguyễn Trọng Phúc

Các bài viết khác