Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam
Thứ hai, 10 Tháng 7 2017 17:12
816 Lượt xem

Đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam

(LLCT) - Mặc dù đạt được những kết quả nhất định về tốc độ tăng trưởng, huy động vốn đầu tư phát triển... Song, mô hình trưởng kinh tế Việt Nam thời gian qua cũng bộc lộ những hạn chế: Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm; Năng suất lao động thấp; Chất lượng tăng trưởng thấp đòi hỏi tiêu tốn nhiều năng lượng, gia tăng lượng phát thải, đe dọa ô nhiễm môi trường... Các giải pháp nhằm chuyển đổi mô hình tăng trưởng gắn với nền kinh tế xanh gồm: tuyên truyền, giáo dục định hướng thay đổi nhận thức của xã hội từ nền “Kinh tế nâu” sang nền “Kinh tế xanh”; định hướng và ưu tiên phát triển các ngành có công nghệ cao, công nghệ thân thiện với môi trường; tăng cường huy động nguồn vốn và hợp tác quốc tế trong xây dựng nền kinh tế xanh ở Việt Nam.

1. Quan niệm về kinh tế xanh

Chương trình Môi trường Liên Hợp quốc (UNEP) định nghĩa “kinh tế xanh” (Green Economy) “là một nền kinh tế hướng tới mục tiêu cải thiện đời sống của con người và tài sản xã hội, đồng thời chú trọng giảm thiểu những hiểm họa môi trường và sự khan hiếm tài nguyên”(1).

Theo OECD, “tăng trưởng xanh là thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, đồng thời đảm bảo các nguồn tài sản tự nhiên tiếp tục cung cấp các tài nguyên và dịch vụ môi trường thiết yếu cho cuộc sống của chúng ta. Để thực hiện điều này, tăng trưởng xanh phải là nhân tố xúc tác trong việc đầu tư và đổi mới, là cơ sở cho sự tăng trưởng bền vững và tăng cường tạo ra các cơ hội kinh tế mới”(2).

Trong “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn 2050” của Việt Nam nêu rõ: “Tăng trưởng xanh là một nội dung quan trọng của phát triển bền vững. Tăng trưởng xanh thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồng thời đảm bảo duy trì bền vững các nguồn tài nguyên và môi trường thiết yếu trước các tác động từ biến đổi khí hậu và hoạt động sản xuất”(3).

Các khái niệm nêu trên đều thống nhất ở 3 điểm chính:

- Kinh tế xanh là nền kinh tế thân thiện với môi trường, giảm phát thải khí nhà kính để giảm thiểu biến đổi khí hậu.

- Kinh tế xanh là nền kinh tế tăng trưởng theo chiều sâu, hao tổn ít nhiên liệu, tăng cường các ngành công nghiệp sinh thái, đổi mới công nghệ.

- Kinh tế xanh là nền kinh tế tăng trưởng bền vững, xóa đói giảm nghèo và phát triển công bằng.

UNEP, OECD và WB đã xây dựng một bộ các chỉ số để đo lường các quá trình chuyển đổi hướng tới một nền kinh tế xanh. Theo đó, các chính phủ có thể lựa chọn các chỉ tiêu cho phù hợp với thực tiễn của nước mình. Các chỉ số này được chia thành ba nhóm:

(1) Các chỉ số kinh tế: chỉ số về tỷ lệ đầu tư, tỷ lệ sản lượng và việc làm trong các lĩnh vực đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững, chẳng hạn như GDP xanh.

(2) Các chỉ số môi trường: chỉ số sử dụng hiệu quả tài nguyên, về ô nhiễm ở mức độ ngành hoặc toàn nền kinh tế (như hệ số sử dụng năng lượng/GDP, hoặc hệ số sử dụng nước/GDP).

(3) Các chỉ số tổng hợp về tiến bộ và phúc lợi xã hội: chỉ số tổng hợp về kinh tế vĩ mô, bao gồm ngân sách quốc gia về kinh tế và môi trường, hoặc những chỉ số đem lại cái nhìn toàn diện hơn về phúc lợi, ngoài định nghĩa hẹp của GDP trên đầu người.

Như vậy, tăng trưởng xanh (hay kinh tế xanh) không thay thế phát triển bền vững mà là chiến lược kinh tế để đạt được sự phát triển bền vững. Đó là sự gắn kết biện chứng giữa ba thành tố: kinh tế, xã hội và môi trường. Kinh tế xanh không chỉ là sự lồng ghép vấn đề môi trường trong phát triển kinh tế, mà nó đã được hiểu sâu rộng hơn, đề cập đến cả phát triển cân bằng, hài hòa giữa các mục tiêu. Đây được coi là mô hình phát triển mới, được nhiều nước ủng hộ và vận dụng.

2. Sự cần thiết chuyển đổi theo mô hình kinh tế xanh ở Việt Nam

Nền kinh tế Việt Nam những năm qua đã đạt được những kết quả quan trọng về tốc độ tăng trưởng, huy động vốn đầu tư phát triển, gia tăng thu nhập bình quân đầu người... Tuy  vậy, mô hình tăng trưởng đã bộc lộ không ít những hạn chế, bất cập:

Thứ nhất, chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp

Tăng trưởng kinh tế của nước ta những năm qua chủ yếu dựa vào gia tăng quy mô vốn đầu tư, đóng góp của yếu tố khoa học công nghệ vào tăng trưởng còn hạn chế. Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP tăng từ 33,2% GDP/năm giai đoạn 1996 - 2000 lên 42,8%/năm giai đoạn 2006 - 2010(4). Giai đoạn 2011 - 2015, tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt 31,7% GDP (mục tiêu đề ra là 33,5% đến 35%), tuy có giảm về tỷ trọng so với GDP, song quy mô huy động giai đoạn 2011 - 2015 vẫn gấp khoảng 1,8 lần giai đoạn 2006 - 2010.

Tỷ lệ tăng vốn đầu tư/GDP trong nhiều năm qua của Việt Nam cao hơn so với  tỷ lệ tích lũy/GDP. Trong khi tích lũy nội bộ của Việt Nam tăng đáng kể nhưng quy mô đầu tư tăng quá nhanh (năm 2005 chênh lệch là 8,56 lần và đến năm 2010 là 10,4 lần và từ năm 2013 đến nay giảm xuống còn khoảng 3,5 lần)(5). Do đó tất yếu dẫn đến vay nợ tăng, làm cho nợ công tăng cao trong những năm qua.

Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP cao nhưng hiệu quả đầu tư thấp. Hệ số ICOR của Việt Nam tăng liên tục qua các giai đoạn. Nếu giai đoạn 2001-2005 là 4,88 lần thì đến giai đoạn 2011-2013 là 6,99 lần, năm 2015, hệ số ICOR giảm nhưng vẫn ở mức 6,88 lần, tính bình quân giai đoạn 2011-2015 là 6,91 lần, cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực.

Tỷ trọng đóng góp của yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đã giảm mạnh từ 58,7% giai đoạn 1991 - 1995 xuống còn 12,4%/năm giai đoạn 2006 - 2010 và khoảng 29% giai đoạn 2010- 2015(6), trong khi tỷ trọng đóng góp của TFP vào kết quả tăng trưởng ở các quốc gia phát triển thường ở mức 50 - 60%.

Thứ hai, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm

Cơ cấu kinh tế ngành trong những năm qua đã có sự chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH; tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm và tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ đã tăng lên. Tuy vậy, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra chậm. Từ năm 2005 đến năm 2015, cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong GDP chỉ giảm 2,3%(7).

Sự chững lại trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đang đặt ra các thách thức trong việc thực hiện các mục tiêu CNH, HĐH. Điều này làm gia tăng nguy cơ tiềm ẩn về phát triển kinh tế thiếu bền vững, hạn chế cơ hội tham gia thành công vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ ba, năng suất lao động thấp

Năng suất lao động (NSLĐ) của Việt Nam mặc dù được cải thiện nhưng vẫn ở mức thấp so với các nước trong khu vực. Theo Báo cáo Năng suất Việt Nam 2015 của Viện Năng suất Việt Nam công bố dựa trên cách tiếp cận và phương pháp tính toán của Tổ chức Năng suất châu Á (APO), NSLĐ của Việt Nam năm 2015 ước tính đạt khoảng 79,3 triệu đồng/năm, tăng 6,45% so với năm 2014, đây là mức tăng cao nhất tính từ năm 2006. Tính chung cho giai đoạn 2011-2015, NSLĐ của Việt Nam tăng dần, đạt mức trung bình khoảng 4,33%/năm.

So với các quốc gia trong khu vực, NSLĐ của Việt Nam ở mức rất thấp. Tính chung giai đoạn 1992-2014, NSLĐ tính theo sức mua tương đương giá cố định năm 2011 của Việt Nam tăng trung bình 4,64%/năm, là mức tăng cao nhất trong số các nước ASEAN nhưng vẫn thấp hơn đáng kể so với Trung Quốc trong cùng kỳ (9,07%  - tức gấp 1,95 lần). Theo đánh giá của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), NSLĐ của Việt Nam hiện đang ở mức thấp so với các nước ASEAN - 6 và là mức thấp nhất so với các nước châu Á - Thái Bình Dương. Năng suất lao động Việt Nam bằng 1/5 lao động Malaysia, 2/5 Thái Lan, 1/10 Hàn Quốc, 1/11 Nhật Bản và 1/15 Xinhgapo.

Thứ tư, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

Theo đánh giá của WB, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam được đánh giá là tiêu tốn nhiều năng lượng cho một đơn vị GDP so với nhóm nước thu nhập trung bình thấp. Nếu tiếp tục nỗ lực đạt tăng trưởng cao dựa trên mô hình tăng trưởng theo chiều rộng thì tăng trưởng của nước ta sẽ bị ràng buộc chặt bởi an ninh năng lượng (đặc biệt là tình trạng thiếu hụt điện vào mùa khô). Mặt khác, tăng trưởng kinh tế còn là một trong những tác nhân làm tăng nhanh lượng phát thải khí CO2.

Hiện nay, mỗi năm lượng phát thải từ hoạt động nông nghiệp của nước ta là khoảng 65 triệu tấn CO2, chiếm trên 43% tổng lượng khí nhà kính, chủ yếu là từ canh tác lúa, đốt phế phẩm nông nghiệp và chất thải chăn nuôi. Dự báo, đến năm 2030 lượng khí thải sẽ tăng gần 30%(8).

Áp lực tăng trưởng nhanh trong suốt mấy thập kỷ qua dẫn đến những hiểm họa về môi trường sinh thái. Hiện tượng khai thác bừa bãi và sử dụng lãng phí tài nguyên thiên nhiên gây nên suy thoái môi trường và làm mất cân đối các hệ sinh thái.

Nhiều sự cố môi trường nghiêm trọng như vụ việc công ty Vedan xả thải không qua xử lý xuống sông Thị Vải đã phá hoại môi trường Việt Nam suốt 14 năm; nhà máy sản xuất bột ngọt Miwon tại Việt Trì (Phú Thọ) mỗi ngày xả tới 900m3 nước thải chưa xử lý ra sông Hồng; công ty Formosa tại Hà Tĩnh thuộc Tập đoàn Formosa (Đài Loan) xả chất thải chứa nhiều độc tố chưa qua xử lý với công suất 12.000m3/1 ngày đêm đã làm khoảng 80 tấn hải sản chết hàng loạt dọc bờ biển 4 tỉnh Bắc miền Trung không chỉ làm biến đổi hệ sinh thái mà ảnh hưởng lớn đến sinh kế của người dân.

Thứ năm, sự gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội chưa thật bền vững

Xoá đói giảm nghèo được coi là một trong những thành công lớn nhất trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam từ đầu thập niên 1990 đến nay. Tuy nhiên, xóa đói giảm nghèo còn chưa vững chắc, thể hiện ở số hộ có mức thu nhập bình quân đầu người nằm ngay cận trên của chuẩn nghèo và nguy cơ bị tổn thương của các hộ này đối với những rủi ro lớn và khả năng tái nghèo khá cao. Mặt khác, qua phân tích thực trạng phân hóa giàu nghèo ở nước ta đang diễn ra phổ biến và có xu hướng tăng dần qua các năm. Sự phân hóa không chỉ diễn ra theo các vùng mà ngay trong nội bộ từng vùng, từng khu vực, khoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm dân cư cũng không ngừng gia tăng. Mức độ chênh lệch nhóm thu nhập cao nhất/nhóm thấp nhất đã tăng lên từ 6,99 lần năm 1995 lên 9,2 lần năm 2010 và 9,75 lần năm 2014.

Như vậy, sau 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, từ một quốc gia nghèo và chậm phát triển, Việt Nam đã gia nhập nhóm các quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình. Nền kinh tế hội nhập sâu và nhanh hơn vào nền kinh tế thế giới song chất lượng tăng trưởng còn nhiều hạn chế, phát triển chưa bền vững. Dư địa tăng trưởng theo chiều rộng đang bị thu hẹp dần, thậm chí có yếu tố đã tận khai. Với cách tăng trưởng như trên thì lợi ích của tăng trưởng chủ yếu dành cho người sở hữu vốn; bất bình đẳng thu nhập gia tăng, bất lợi cho người lao động. Cách thức tăng trưởng đó rõ ràng không thể tiếp tục và chuyển đổi mô hình tăng trưởng là yêu cầu cấp thiết.

3. Một số giải pháp đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam

Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ cần chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường; từng bước phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch. Ngày 25-9-2012, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đến 2020 và tầm nhìn 2050. Tiếp tục chủ trương này, Hội nghị Trung ương 4 khóa XII khẳng định sự cần thiết phải chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất lao động, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực theo tín hiệu và cơ chế thị trường. Để đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với phát triển kinh tế xanh, Việt Nam cần thực hiện các giải pháp sau:

Thứ nhất, tăng cường tuyên truyền, giáo dục làm thay đổi nhận thức, tạo sự đồng thuận trong xã hội về xu thế tất yếu và sự cần thiết phát triển kinh tế xanh.

Thứ hai, xây dựng cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho đổi mới mô hình tăng trưởng, trọng tâm là cơ cấu lại ngành nghề, định hướng và ưu tiên phát triển các ngành có công nghệ cao, phát thải các bon thấp; công nghệ thân thiện môi trường; thúc đẩy phát triển các loại năng lượng mới và năng lượng sạch, sử dụng tiết kiệm năng lượng và tài nguyên; không gây ô nhiễm môi trường; phục hồi tài nguyên và hệ sinh thái.

Bên cạnh các chính sách định hướng ưu tiên, cần hoàn thiện thể chế điều chỉnh hành vi của doanh nghiệp theo hướng gắn với tăng trưởng xanh, trước mắt cần cụ thể hóa hơn nữa trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc khắc phục hậu quả về môi trường do hoạt động của doanh nghiệp gây ra. Đối với các doanh nghiệp bắt đầu đi vào hoạt động, phải thực hiện đúng quy trình xử lý các chất thải trước khi thải ra môi trường.

Thứ ba, huy động nguồn vốn cho thực hiện mục tiêu xây dựng nền kinh tế xanh. Việt Nam là một nước đang phát triển, nguồn vốn dự trữ, tích luỹ nội bộ còn hạn chế; khả năng huy động nguồn vốn từ quốc tế là hữu hạn. Theo tính toán, để thực hiện tăng trưởng kinh tế xanh đòi hỏi nguồn vốn khoảng 2% GDP. Cơ bản, nguồn tài chính cho tái cấu trúc tăng trưởng gắn với kinh tế xanh vẫn từ tích luỹ nội bộ của nền kinh tế. Do đó, vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế, trong đó có tái cấu trúc đầu tư công là một nhiệm vụ trọng tâm, chiến lược. Trên cơ sở đó, tăng đầu tư cho phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo trong nghiên cứu, hợp tác nghiên cứu các lĩnh vực ngành nghề cho phát triển nền kinh tế xanh.

Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc tế trong xây dựng nền kinh tế xanh ở Việt Nam. Thông qua huy động các nguồn hỗ trợ của quốc tế, nhất là nguồn vốn đầu tư 2% GDP toàn cầu cho phát triển kinh tế xanh, các cơ chế tài chính khác cho phát triển rừng như REDD+; CDM... để tăng cường nguồn lực cho xây dựng nền kinh tế xanh.

Để đạt được mục tiêu xây dựng kinh tế xanh và bảo vệ môi trường, cần phải chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế. Hướng tới phát triển kinh tế xanh là hướng tiếp cận mới, phù hợp với xu thế phát triển của thế giới. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là thúc đẩy tăng trưởng xanh đòi hỏi chi phí lớn; có sự đánh đổi mục tiêu với tăng trưởng nâu; mô hình phát triển và cơ cấu ngành nghề nào phù hợp với nền kinh tế xanh trong điều kiện phát triển của Việt Nam cần phải thực hiện có lộ trình và bước đi phù hợp nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn lực trong và ngoài nước để đảm bảo phát triển ổn định và bền vững.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 12-2016

(1) UNEP: Hướng tới nền kinh tế xanh - Lộ trình cho phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo, Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môi trường, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 2011, tr.13.

(2) Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong Hội thảo Tham vấn về chiến lược tăng trưởng xanh của Việt Nam, do VCCI, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và UNDP tại Việt Nam tổ chức, Hà Nội, 19-3-2012.

(3) Thủ tướng Chính phủ: “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn 2050”.

(4) GS, TS Chu Văn Cấp: Tái cơ cấu đầu tư: Một nội dung quan trọng hàng đầu của tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2020, Tạp chí Phát triển và hội nhập, số 3 (13)-4/2012, tr.55.

(5) Nguồn: Kinh tế 2015-2016 Việt Nam và Thế giới, Thời báo Kinh tế Việt Nam, tr.19.

(6) ĐCSVN:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, tr.226.

(7) Đổi mới mô hình tăng trưởng cơ cấu lại nền kinh tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, tr.142.

(8) http://www.monre.gov.vn.                        

 

TS Trần Hoa Phượng

Viện Kinh tế chính trị học,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác