Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Việt Nam hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh
Thứ hai, 26 Tháng 2 2018 16:43
2751 Lượt xem

Việt Nam hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh

(LLCT) - Bước vào thế kỷ XXI, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế được khẳng định là một tất yếu khách quan. Việt Nam đã nhận thức đúng và thể hiện rõ quyết tâm chính trị trong chuẩn bị các điều kiện vật chất, tinh thần để chủ động, tích cực hội nhập quốc tế một cách hiệu quả.

Hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh là một bộ phận hội nhập quốc tế và là chủ trương, chính sách chiến lược của Việt Nam, phù hợp với xu thế thời đại, phản ánh đúng quy luật vận động, phát triển của hiện thực khách quan, vì lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam và lợi ích của các nước trong khu vực ASEAN và trên thế giới. Hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh của Việt Nam thể hiện rõ bản chất nhân văn, tính chất hòa bình, tự vệ, chính nghĩa của Việt Nam. Lý luận và thực tiễn đều khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo, hiệu quả hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh của Việt Nam.

1. Quá trình Việt Nam hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh

Bối cảnh tình hình Việt Nam tham gia hội nhập quốc tế

Cuối thế kỷ XX, Chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới chuyển từ đối đầu hai cực sang xu hướng đa cực, đa trung tâm. Cơ cấu, môi trường an ninh thế giới, khu vực có nhiều thay đổi nhanh chóng, khó lường. Thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống đan xen, diễn biến rất phức tạp. Cạnh tranh quyền lực và ảnh hưởng giữa các nước lớn diễn ra quyết liệt theo hướng “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”, “vừa cạnh tranh, vừa thỏa hiệp”. Các quốc gia - dân tộc trên thế giới đều có xu hướng tăng cường tiềm lực quân sự, quốc phòng, an ninh; điều chỉnh cơ cấu tổ chức, chiến lược quân sự theo hướng tinh, gọn nhẹ, tác chiến hiệu quả cao... Trong bối cảnh đó, các nước đều có nhu cầu đẩy mạnh hợp tác quốc phòng, an ninh nhằm đối phó với những thách thức an ninh mới, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền; trật tự, an toàn xã hội, an ninh quốc gia.

Nhận thức sâu sắc sự biến đổi của tình hình thế giới và tính tất yếu khách quan phải bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trong điều kiện lịch sử mới, Việt Nam đã sớm chỉ ra sự cần thiết phải chủ động, tích cực tham gia hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh. Thời cơ, vận hội để đổi mới đất nước có nhiều, song nguy cơ, thách thức không hề nhỏ, đặc biệt là các thách thức từ an ninh phi truyền thống và truyền thống đan xen, luôn rình rập, đe dọa sự an nguy của đất nước. Sự cạnh tranh quyền lực giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt, tranh chấp và leo thang tranh chấp trên Biển Đông cùng các bất ổn về an ninh trên thế giới, trong khu vực, nhất là sự chống phá quyết liệt của chiến lược “diễn biến hòa bình” do các thế lực thù địch chủ mưu,... đã tác động sâu sắc đến công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, luôn đặt ra cấp bách và rất nặng nề là bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển bền vững đất nước.

Nhận thức sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh để xây dựng đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa, Việt Nam luôn coi trọng giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữa phát huy sức mạnh toàn dân tộc với tận dụng tối đa sức mạnh thời đại để xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân. Đây là một nguyên tắc cơ bản chỉ đạo đường lối đối ngoại của Việt Nam.

Hội nhập về quốc phòng, an ninh đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Việt Nam nhấn mạnh: chủ động, tích cực đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả đối ngoại quốc phòng, an ninh; đẩy mạnh quan hệ hợp tác song phương, tích cực tham gia và xây dựng các cơ chế hợp tác quốc phòng, an ninh đa phương mà Việt Nam là thành viên có trách nhiệm.

Việt Nam chủ trương: Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế nhằm mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước; góp phần vào việc gìn giữ hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và thực hiện tiến bộ xã hội... Đồng thời, chủ động, tích cực tham gia vào các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh, trong đó có tham gia các hoạt động hợp tác quốc phòng, an ninh ở mức cao hơn là gìn giữ hòa bình của Liên Hợp quốc, diễn tập quốc tế về an ninh phi truyền thống và các hoạt động cứu trợ nhân đạo, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam và luật pháp quốc tế.

Như vậy, đầu thế kỷ XXI, từ chủ trương hội nhập quốc tế với trọng tâm là hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam tiếp tục mở rộng hội nhập quốc tế sang các lĩnh vực khác, trong đó có hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh...Đây là bước phát triển mới về nhận thức và chỉ đạo thực tiễn hoạt động đối ngoại của Việt Nam, phản ánh rõ bản chất nhân văn, tính chất hòa bình, tự vệ, chính nghĩa của quốc phòng, an ninh Việt Nam trong tình hình mới.

Nhận thức hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh của Việt Nam

Việt Nam chủ trương hội nhập quốc tế với định hướng: Xây dựng và triển khai chiến lược hội nhập quốc phòng, an ninh phù hợp với tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm an ninh quốc gia, khai thác hiệu quả các nguồn lực bên ngoài, vị thế quốc tế của đất nước nhằm phục vụ mục tiêu bảo vệ vững chắc Tổ quốc.Để thực hiện định hướng này, chúng ta xác định các chính sách lớn về đối ngoại quốc phòng, an ninh, đó là: (1) Đẩy mạnh các hoạt động hợp tácsong phươngvề quốc phòng, an ninh với các nước láng giềng, các nước ASEAN, các nước lớn, các nước bạn bè truyền thống. Từng bước đưa hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả. (2) Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phươngvề quốc phòng, an ninh mà nước ta là thành viên có trách nhiệm, trước hết là các cơ chế trong khuôn khổ ASEAN và do ASEAN làm chủ. Xây dựng và triển khai kế hoạch gia nhập các cơ chế đa phương khác vì lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam. Trong đó, tham gia các hoạt động hợp tác ở mức cao hơn, như hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp quốc, kiểm soát phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, diễn tập chung và các hoạt động nhân đạo..., đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa vì lợi ích chung: gìn giữ nền hòa bình thế giới, vì sự tiến bộ xã hội.

Về mục tiêu: Hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực khác, góp phần xây dựng, phát triển đất nước.

Về quan điểm chỉ đạo: Hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng là định hướng chiến lược đúng đắn, là kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi đất nước chưa lâm nguy bằng biện pháp hòa bình. Thực hiện hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng cả song phương và đa phương, làm cho hội nhập quốc phòng, an ninh ngày càng đi vào chiều sâu, ổn định, phát triển vững chắc; thiết thực, hiệu quả.

Thông qua hội nhập quốc tế quốc phòng, an ninh để tăng cường, củng cố lòng tin chiến lược, duy trì môi trường hòa bình, hợp tác cùng phát triển, củng cố thế trận quốc phòng, an ninh của Việt Nam. Tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả, không để rơi vào thế bị động, bất ngờ.

Phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước và tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài trong quá trình hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng, góp phần thực hiện tốt chủ trương Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Về yêu cầu:Xác định rõ lộ trình, bước đi, nhu cầu, mục tiêu hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng, an ninh phù hợp với khả năng, điều kiện của đất nước; phù hợp với xu hướng hợp tác, liên kết, phát triển của khu vực và thế giới.Phối hợp chặt chẽ các hoạt động hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng, an ninh.

Về nhiệm vụ: Xây dựng và triển khai Chiến lược hội nhập quốc tế, đối ngoại về quốc phòng, an ninh đến năm 2020 và những năm tiếp theo phù hợp với tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc. Xác định cấp độ hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh phù hợp với mức độ quan hệ hợp tác đối với từng đối tác cụ thể.

Chủ động tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh; trước hết là các cơ chế hợp tác quốc phòng, an ninh do ASEAN giữ vai trò chủ đạo, tham gia các cơ chế đa phương về kiểm soát vũ khí hủy diệt hàng loạt, diễn tập và các hoạt động khác có liên quan.

Kết hợp chặt chẽ các hoạt động thương mại quân sự, kinh tế quân sự, kỹ thuật quân sự và hợp tác công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh với các hoạt động hợp tác quốc phòng, an ninh thành một thể thống nhất. Xây dựng lực lượng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh cả trước mắt và lâu dài. Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phục vụ cho công tác đối ngoại quốc phòng, an ninh. Chỉ đạo chặt chẽ công tác bảo đảm an ninh, an toàn, bảo mật trong quá trình hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng.

2. Kết quả hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh thời gian qua

Hợp tác quốc phòng, an ninh với các nước ngày càng rộng mở, đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực, nhất là đối với các đối tác chiến lược. Quan hệ quốc phòng song phương được mở rộng; góp phần củng cố tình đoàn kết, hữu nghị, tăng cường hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, thúc đẩy nhiều lĩnh vực hợp tác, ngăn ngừa xung đột, giải quyết các vấn đề an ninh đang nổi lên, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Việc phối hợp tuần tra biên giới trên bộ, trên biển; hợp tác về huấn luyện, đào tạo; về khoa học, công nghệ quân sự... là những lĩnh vực hợp tác quốc phòng, an ninh quan trọng, ngày càng đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực; chiều hướng, triển vọng phát triển tốt.

Quan hệ quốc phòng đa phương có bước phát triển vượt bậc về số lượng và chất lượng, hiệu quả.Từ chỗ quan hệ ở mức hạn chế, Việt Nam đã tích cực tham gia vào tất cả các cơ chế hợp tác về quốc phòng, an ninh chủ yếu của khu vực, như: Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN và các cơ chế đối thoại, hợp tác quốc phòng, an ninh khác.

Việt Nam đã chủ động thúc đẩy hợp tác song phương, đa phương thông qua các sáng kiến để làm cho các mối quan hệ hợp tác sẵn có đạt hiệu quả hơn. Đồng thời, tích cực xây dựng các cơ chế hợp tác mới có lợi cho hòa bình và an ninh khu vực. Do vậy, vai trò của Việt Nam trong xây dựng và thực hiện các cơ chế hợp tác quốc phòng, an ninh khu vực đã và đang được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.

Việt Nam đã và đang chủ động tham gia một số hoạt động đa phương toàn cầu, nhất là những hoạt động tập huấn, quan sát viên diễn tập về gìn giữ hòa bình; góp phần xây dựng khối ASEAN vững mạnh, đồng thuận, bảo vệ và duy trì môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực và thế giới; nâng cao hình ảnh, uy tín, vị thế đất nước và Quân đội trong khu vực và trên thế giới.

Hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh tạo ra nguồn lực đóng góp trực tiếp vào việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại,nâng cao một bước trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực tổ chức các hoạt động đối ngoại quốc phòng, an ninh của đội ngũ cán bộ đối ngoại quốc phòng, an ninh của Việt Nam.

Bên cạnh kết quả đã đạt được, hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh của Việt Nam có mặt còn hạn chế, đó là chủ trương hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh của Việt Nam là đúng đắn, mang tầm chiến lược, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại; song có mặt còn dè dặt, chưa thật tự tin. Hệ thống văn bản pháp luật chậm được bổ sung, hoàn thiện, thiếu cơ sở pháp lý để triển khai thực hiện. Khả năng nghiên cứu, dự báo và trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ ở một số cơ quan, đơn vị còn chưa vững mạnh.

Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên là do: (1) Chính sách hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh còn thiếu đồng bộ, nhận thức hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh có mặt, có bộ phận chưa theo kịp đòi hỏi của tình hình và thực tiễn hội nhập quốc tế. Điều đó đã cản trở việc triển khai thực hiện chủ trương tích cực, chủ động hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh. (2) Tiềm lực, thực lực, khả năng về điều kiện vật chất, kỹ thuật, con người của ngành đối ngoại Việt Nam nói chung, đối ngoại quốc phòng, an ninh nói riêng còn hạn chế, có mặt chưa đáp ứng; chưa theo kịp tiến trình hội nhập của đất nước và hội nhập quốc tế của quốc phòng, an ninh.

3. Quan điểm và phương hướng hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh

Tiếp tục quán triệt Nghị quyết 22 về Hội nhập quốc tế của Bộ Chính trị, tháng 12-2013, Nghị quyết số 806-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về Hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo,xác định quan điểm: Hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh là kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình. Tăng cường, củng cố lòng tin chiến lược, duy trì môi trường hòa bình, ổn định; hợp tác cùng phát triển, xây dựng và củng cố thế trận quốc phòng, an ninh của Việt Nam ngày càng vững chắc. Khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng, thế mạnh của đất nước; nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài trong quá trình hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh.

Một số phương hướng lớn của hội nhập quốc phòng, an ninh được xác định là:

Đẩy mạnh quan hệ, hợp tác quốc phòng, an ninh song phương. Việt Nam xác định lấy quan hệ song phương làm trọng tâm của quan hệ quốc phòng, an ninh với các nước, trong đó tiếp tục ưu tiên quan hệ với các nước láng giềng có chung biên giới. Coi trọng quan hệ với các nước ASEAN; củng cố, phát triển quan hệ với các nước lớn; các nước bạn bè truyền thống. Tiếp tục mở rộng quan hệ, thiết lập cơ chế hợp tác với một số đối tác mới phù hợp với tiềm năng, lợi ích căn bản và lâu dài của Việt Nam.

Việt Nam chú trọng tiếp xúc, đối ngoại cấp cao về biên giới như: quản lý, bảo vệ đường biên, mốc giới; giao lưu biên giới; kết nghĩa thôn bản, đồn biên phòng; tôn tạo và tăng dày cột mốc; phối hợp đấu tranh với các loại tội phạm xuyên biên giới; ngăn chặn vượt biên trái phép và di cư bất hợp pháp.

Đẩy mạnh hợp tác hoạt động của các lực lượng hải quân và cảnh sát biển. Mở rộng cơ chế tham vấn, tuần tra chung, hợp tác đào tạo nguồn nhân lực quân sự; nghiên cứu, chuyển giao khoa học, công nghệ quân sự; hợp tác phát triển kinh tế quân sự, công nghiệp quốc phòng.

Việt Nam kiên quyết không quan hệ, hợp tác với các nước, tổ chức quốc tế và không tham gia những định chế quốc tế có ảnh hưởng tiêu cực đến thực thể thứ ba; không tiến hành các hoạt động đối ngoại quốc phòng, an ninh dưới bất kỳ điều kiện hoặc sức ép nào.

Việt Nam tích cực, chủ động tham gia xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh, duy trì sự đồng thuận và củng cố vai trò trung tâm của ASEAN trong các vấn đề an ninh khu vực; tham gia nhiều hơn vào việc định hình các thể chế đa phương về quốc phòng, an ninh trong ASEAN và các cơ chế, diễn đàn do ASEAN giữ vai trò chủ đạo.

Chủ động, tích cực tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp quốc: Việt Nam tiếp tục ủng hộ vai trò của Liên Hợp quốc trong cuộc đấu tranh giải trừ quân bị, chống chạy đua vũ trang, ngăn ngừa và giải quyết các tranh chấp, xung đột bằng biện pháp hòa bình, bảo vệ độc lập và quyền tự quyết của các dân tộc.Việt Nam tiếp tục mở rộng hình thức và quy mô các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp quốc.

Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phươngvề quốc phòng, an ninh mà nước ta là thành viên có trách nhiệm, trước hết là các cơ chế trong khuôn khổ ASEAN và do ASEAN làm chủ. Xây dựng và triển khai kế hoạch gia nhập các cơ chế đa phương khác vì lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam. Trong đó, tham gia các hoạt động hợp tác ở mức cao hơn, như hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp quốc, kiểm soát phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, diễn tập chung và các hoạt động nhân đạo..., đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; góp phần đưa quan hệ hợp tác quốc phòng, an ninh với các đối tác đi vào chiều sâu, ổn định, phát triển bền vững, vì lợi ích chung: gìn giữ nền hòa bình thế giới, vì sự tiến bộ xã hội.

Thông qua hội nhập quốc tế quốc phòng, an ninh để tăng cường, củng cố lòng tin chiến lược, duy trì môi trường hòa bình, hợp tác cùng phát triển, củng cố thế trận quốc phòng, an ninh của Việt Nam và các đối tác. Tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực khác, làm cho hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực khác trở thành một thể thống nhất trong chiến lược đối ngoại của quốc gia.

Triển khai thực hiện tốt ba khâu đột phátrong hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng, an ninh là: (a) Xây dựng, củng cố mối quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác, ổn định lâu dài, vững chắc, cùng phát triển; trước hết là quan hệ với Lào, Campuchia và Trung Quốc; (b) Chủ động, tích cực tham gia có hiệu quả hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp quốc theo chủ trương của Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; (c) Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ, chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ Quân đội nhân dân Việt Nam.

Kết hợp chặt chẽ các hoạt động thương mại quân sự, kinh tế quân sự, kỹ thuật quân sự và hợp tác công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh với các hoạt động hợp tác quốc phòng, an ninh thành một thể thống nhất. Xây dựng lực lượng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh cả trước mắt và lâu dài. Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phục vụ cho công tác đối ngoại quốc phòng, an ninh. Chỉ đạo chặt chẽ công tác bảo đảm an ninh, an toàn, bảo mật trong quá trình hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng.

Cùng với đối ngoại chung của cả nước, hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh góp phần xây dựng khối ASEAN vững mạnh, đồng thuận, bảo vệ và duy trì môi trường hòa bình, ổn địnhtrong khu vực và thế giới;nâng cao hình ảnh, uy tín, vị thế đất nước và Quân đội nhân dân Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Qua đó, tranh thủ được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Cùng với quan hệ, hợp tác quốc tế, hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh tạo ra nguồn lực đóng góp trực tiếp vào việc xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội, Công an; tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh của đất nước; nâng cao một bước trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành, tham mưu và tổ chức các hoạt động đối ngoại quốc phòng, an ninh của đội ngũ cán bộ đối ngoại quốc phòng, an ninh của Việt Nam.

_______________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 9-2017

Tài liệu tham khảo

1. ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016.

2. Quân đội nhân dân Việt Nam: Tài liệu hỏi - đáp Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ X, nhiệm kỳ 2015-2020, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015.

3. Bộ Quốc phòng: Sách trắng quốc phòng Việt Nam, Hà Nội, 2009.

4. TS. Đinh Thế Huynh, GS, TS. Phùng Hữu Phú, GS, TS. Lê Hữu Nghĩa, GS, TS. Vũ Văn Hiền, PG, TS. Nguyễn Viết Thông (Đồng Chủ biên): 30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016.

5. Đại tướng Ngô Xuân Lịch: Xây dựng Đảng bộ Quân đội ngang tầm nhiêm vụ mới, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2016.

Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Bá Dương

Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự, Bộ Quốc phòng

Các bài viết khác