Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Bảo vệ Hiến pháp góp phần bảo đảm sự bền vững của chế độ chính trị
Thứ ba, 27 Tháng 3 2018 17:55
1505 Lượt xem

Bảo vệ Hiến pháp góp phần bảo đảm sự bền vững của chế độ chính trị

(LLCT) - Bảo vệ Hiến pháp, bảo đảm sự tôn trọng, nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và xử lý các hành vi vi phạm Hiến pháp là một nội dung quan trọng của xây dựng nhà nước pháp quyền ở các nước trên thế giới.

1. Bảo vệ Hiến pháp có ý nghĩa chính trị pháp lý đặc biệt đối với chế độ chính trị của mỗi quốc gia

Thứ nhất,do Hiến pháp là văn bản xác định chế độ chính trị, phản ánh tổ chức chính trị của quốc gia đó. Mỗi quốc gia phải lựa chọn cho mình một chế độ chính trị phù hợp, sự phù hợp đó là điều kiện cho sự phát triển xã hội và từng con người. Nếu áp dụng một chế độ chính trị không phù hợp sẽ là rào cản kìm hãm sự phát triển xã hội. Để chế độ chính trị của quốc gia ổn định phải dựa trên nền tảng chính trị vững chắc và thống nhất của Hiến pháp. Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 xác định mô hình chế độ chính trị XHCN với các thành tố cơ bản: Chủ quyền Nhân dân, Nhà nước pháp quyền XHCN, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.

Thứ hai,về phương diện pháp lý, Hiến pháp là văn bản chứa đựng những quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội chủ đạo, nền tảng và quan trọng nhất của quốc gia. Hiến pháp năm 2013 điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản về: chế độ chính trị; quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội; tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước... Do đó, Hiến pháp là đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất, định hướng cho các văn bản quy phạm pháp luật khác.

Thứ ba,về phương diện xã hội, Hiến pháp ghi nhận và thể hiện những giá trị xã hội như: tự do, công lý, bình đẳng, dân chủ, nhân quyền... Đây là những giá trị mà toàn xã hội muốn hướng tới. Với vai trò và tính chất đặc biệt quan trọng như vậy, bảo vệ Hiến pháp chính là bảo vệ chủ quyền của nhân dân, vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, từ nền tảng pháp lý và những giá trị, cao quý nhất của xã hội. Thông qua đó, bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững chế độ chính trị của đất nước.

2. Nội dung của bảo vệ Hiến pháp

Bảo vệ Hiến pháp là tổng hợp các hoạt động được tiến hành bởi các cơ quan, cá nhân mà Hiến pháp quy định nhiệm vụ và quyền hạn nhằm bảo đảm sự tôn trọng và thi hành Hiến pháp, ngăn ngừa và xử lý mọi hành vi vi phạm Hiến pháp. Nội dung cụ thể gồm:

Giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà quốc gia ký kết hoặc gia nhập. Trên cơ sở hoạt động này, cơ quan có thẩm quyền bảo vệ Hiến pháp sẽ loại trừ, vô hiệu hóa các văn bản quy phạm pháp luật không phù hợp, trái với Hiến pháp hoặc đề nghị cơ quan nhất định phải ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo đúng thẩm quyền hiến định.

Giải thích Hiến pháp.Hiến pháp chứa đựng những nguyên tắc và khung pháp lý rất rộng, trừu tượng, ổn định trong thời gian dài, cần phải được giải thích chính thức của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền: “thông qua giải thích chính thức, nội dung và ý nghĩa của các quy định của Hiến pháp được hiểu một cách thống nhất, phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội cụ thể. Theo đó, Hiến pháp phát huy được vai trò của mình là nhân tố đảm bảo cho sự ổn định và phát triển của một chế độ chính trị - xã hội, là nền tảng pháp lý của một nhà nước dân chủ, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”(1).

Giải quyết khiếu kiện vi hiến (trong đó có cả khiếu kiện liên quan đến hành vi vi phạm quyền và tự do hiến định của công dân). Pháp luật một số nước quy định, quyền khởi kiện trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với những hành vi vi hiến. Cơ quan bảo vệ Hiến pháp ra phán quyết về tính hợp hiến hay không hợp hiến của hành vi bị khiếu kiện, buộc cơ quan hoặc cá nhân có liên quan phải thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi nào đó nhằm khôi phục lại trật tự hiến định, bảo đảm và bảo vệ quyền và tự do hiến định của công dân.

Xem xét tính hợp hiến của các cuộc bầu cử và trưng cầu ý dân. Bầu cử và bỏ phiếu trưng cầu ý dân là hai hình thức dân chủ hiến định, vì vậy, hoạt động bảo vệ Hiến pháp cũng bao hàm việc giám sát tính hợp hiến của các cuộc bầu cử và trưng cầu ý dân.

3. Một số biểu hiện vi hiến

Vi phạm Hiến pháp là những hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trái với quy định và tinh thần của Hiến pháp, vi phạm hiệu lực của Hiến pháp. Có các dạng vi hiến, như: ban hành các văn bản trái Hiến pháp hoặc tạo nguy cơ lạm quyền; vi phạm quyền và tự do của con người, của công dân; vi phạm do không thực hiện nghĩa vụ hiến định... Thời gian qua, một số văn bản không phù hợp, thậm chí trái với các quy định của Hiến pháp, vừa hạn chế, “cắt xén” quyền hiến định của công dân. Thí dụ: Thông tư số 02/2003/TT-BCA ngày 13-1-2003 của Bộ Công an quy định mỗi người được đăng ký 1 môtô hoặc xe máy là trái với quyền cơ bản của công dân được quy định tại Điều 58 của Hiến pháp năm 1992.

Trong quá trình xây dựng pháp luật của các bộ, ngành, có những vấn đề luật, pháp lệnh không giao quy định chi tiết nhưng cơ quan soạn thảo vẫn trình Chính phủ quy định chi tiết. Thí dụ, trong Nghị định số 65/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân có một số nội dung trong Luật này không giao nhưng Chính phủ vẫn quy định chi tiết như Điều 4 về thu nhập miễn thuế, Điều 6 về thu nhập tính thuế...

Theo Ủy ban pháp luật của Quốc hội khóa XIII, tính đến giữa năm 2013, trong 1.761 văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được Bộ Tư pháp thẩm định đã có 223 văn bản có dấu hiệu vi phạm về thẩm quyền, nội dung, hiệu lực(2).

4. Giải pháp tăng cường bảo vệ Hiến pháp

Để tăng cường bảo vệ Hiến pháp, bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững chế độ chính trị nước ta, trước hết cần quán triệt sâu sắc và cụ thể quan điểm và triển khai nhiệm vụ trọng tâm đã được xác định tại Đại hội XII: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị... Tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật”(3). Đồng thời, thể chế hóa và triển khai thực hiện quy định tại Điều 119 Hiến pháp năm 2013: “Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước và toàn thể Nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp. Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định”.

Để cụ thể hóa và triển khai thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ đó, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

Một là, tiếp tục hoàn thiện và tổ chức thực hiện các quy định về bảo vệ Hiến pháp của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội theo Hiến pháp năm 2013.Cụ thể là:

Xác định rõ tính chất, phạm vi, thẩm quyền giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Cần xác định Quốc hội có quyền “giám sát tối cao việc thi hành Hiến pháp”, Ủy ban Thường vụ Quốc hội “giám sát việc thi hành Hiến pháp”. Bên cạnh đó, cần bổ sung  tính hợp hiến của các văn bản do Quốc hội ban hành vào phạm vi giám sát của Quốc hội. Đây là hình thức giám sát sau, tức là giám sát văn bản do Quốc hội ban hành đã có hiệu lực pháp luật.

- Tiếp tục hoàn thiện tổ chức và hoạt động các cơ quan của Quốc hội trong giám sát việc thi hành Hiến pháp và tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật. Cụ thể là:

Thực hiện đầy đủ, nghiêm túccơ chế điều hành, phối hợp giữa các cơ quan của Quốc hội.

Áp dụng quy định về việc thành lập Ủy ban lâm thời, bảo đảm hoạt động của các tiểu ban, các tổ công tác giúp Quốc hội giám sát thi hành Hiến pháp.

Đẩy mạnh công tác tham mưu hoạt động giám sát thi hành Hiến pháp, giám sát văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành. Xây dựng và thực hiện cơ chế trách nhiệm pháp lý đối với những cơ quan, cá nhân chậm trễ trình các báo cáo ra Quốc hội nhằm bảo đảm thời gian và chất lượng của hoạt động thẩm tra các báo cáo; chú trọng các thông tin độc lập, khách quan từ các cơ quan thanh tra, kiểm toán.

Đổi mới hình thức xem xét báo cáo công tác, bổ sung nguồn lực cho hoạt động thẩm tra báo cáo; tăng cường hoạt động điều tra thực tế; bảo đảm tính toàn diện, khách quan, chính xác và kịp thời của cơ sở dữ liệu cung cấp cho Quốc hội. Các đại biểu Quốc hội cần tích cực, chủ động phân tích, tranh luận, đặc biệt là những vấn đề còn có sự khác nhau giữa báo cáo thẩm tra và báo cáo của cơ quan, cá nhân bị giám sát.

Xây dựng hệ thống “chuẩn mực” rõ ràng, đầy đủ cho các chủ thể tiến hành xem xét, phân tích, đưa ra nhận định, kết luận chính xác, khách quan.

- Triển khai thực hiện thẩm quyền giải thích Hiến pháp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Việc giải thích Hiến pháp phải bảo đảm các nguyên tắc: đúng với tinh thần, mục đích, yêu cầu, quan điểm chỉ đạo ban hành Hiến pháp; phù hợp với nội dung, ngôn ngữ của Hiến pháp; không được sửa đổi, bổ sung hoặc đặt ra quy định mới. Trình tự, thủ tục giải thích Hiến pháp phải căn cứ vào tính chất, nội dung của vấn đề cần được giải thích. Ủy ban Thường vụ Quốc hội giao Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội soạn thảo dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp; Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội thẩm tra về sự phù hợp của dự thảo; Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp.

Hai là, tổ chức thực hiện các quy định về bảo vệ Hiến pháp của Chủ tịch nước

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 88, Hiến pháp năm 2013, Chủ tịch nước có quyền đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét tính hợp hiến đối với pháp lệnh do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành. Để Chủ tịch nước thực hiện được hoạt động này cần đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động giúp việc cho Chủ tịch nước; bổ sung nhân sự, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Văn phòng Chủ tịch nước; chuyên môn hóa công tác tham mưu cho Chủ tịch nước xem xét tính hợp hiến của pháp lệnh.

Ba là, quy định chi tiết và tổ chức thực hiện các quy định về bảo vệ Hiến pháp của Chính phủ

Để Chính phủ thực hiện tốt việc kiểm tra tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật, cần lưu ý:

-Quy định rõ thời hạn tự kiểm tra và kiểm tra tính hợp hiến của văn bản theo thẩm quyền. Cần quy định rõ thời hạn, trách nhiệm tự kiểm tra sau khi văn bản được ký ban hành trong thời gian 5 - 10 ngày (tính từ ngày văn bản được ký ban hành). Trường hợp phát hiện văn bản có dấu hiệu trái Hiến pháp, phải xử lý ngay. Trường hợp không phát hiện văn bản trái Hiến pháp, cơ quan ban hành văn bản sẽ gửi văn bản cùng với kết quả tự kiểm tra cho cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản. Về thời hạn kiểm tra văn bản theo thẩm quyền, cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trong vòng 30 đến 40 ngày, trước khi văn bản đó có hiệu lực, tùy thuộc vào tính chất, mức độ phức tạp của văn bản, không phải chờ đến khi văn bản có hiệu lực thi hành mới tiến hành kiểm tra.

- Xác định rõ các hình thức xử lý văn bản trái Hiến pháp. Quy định hình thức đình chỉ việc thi hành toàn bộ hoặc một phần nội dung văn bản và hình thức bãi bỏ toàn bộ hoặc một phần nội dung văn bản trái Hiến pháp. Theo đó, hình thức đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản được áp dụng trong trường hợp nội dung trái Hiến pháp chưa được sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ kịp thời và nếu tiếp tục thực hiện thì có thể gây hậu quả nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Về thời hạn xử lý văn bản trái Hiến pháp, cần quy định cụ thể trong thời hạn tối đa không quá 2 ngày làm việc, khi xác định rõ văn bản có dấu hiệu trái Hiến pháp phải đình chỉ thi hành ngay (trừ trường hợp nếu tiếp tục thi hành thì có thể sẽ gây hậu quả nghiêm trọng thì phải thực hiện đình chỉ thi hành ngay); trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc, kể từ ngày bị đình chỉ thi hành, phải xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản trái Hiến pháp đó theo quy định.

Bốn là, triển khai thực hiện quy định về trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp của Tòa án Nhân dân và Viện Kiểm sát Nhân dân

Cần bổ sung vào Khoản 2, Điều 2, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân như sau: “Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN...”. Trong quá trình xét xử, Tòa án chú trọng việc phát hiện và kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Luật Tổ chức Viện Kiểm sát Nhân dân, cần bổ sung quy định: “Trong quá trình thực hiện quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện Kiểm sát phát hiện và kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức”.

Năm là, tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức về Hiến pháp và trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp của Nhân dân

Đổi mới tư duy pháp lý về Hiến pháp là một trong những biện pháp quan trọng để bảo đảm sự tôn trọng, thực hiện và bảo vệ Hiến pháp ở nước ta hiện nay. Để đạt được mục đích này, cần tiếp tục tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, nội dung của Hiến pháp. Đồng thời, cần thống nhất nhận thức về hiệu lực áp dụng trực tiếp của Hiến pháp. Trong Nhà nước pháp quyền XHCN, Hiến pháp không chỉ là văn bản mang tính chính trị mà còn là đạo luật thực định cơ bản chứa đựng những quy phạm có hiệu lực pháp lý, được áp dụng trực tiếp đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức và công dân.

Sáu là, nghiên cứu xây dựng Luật bảo vệ Hiến pháp

Khoản 2, Điều 119, Hiến pháp năm 2013 quy định: “...Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định”. Thể chế hoá quy định trên, Luật bảo vệ Hiến pháp quy định tổ chức và hoạt động của cơ quan chuyên trách bảo vệ Hiến pháp là Ủy ban Giám sát Hiến pháp.

Ủy ban Giám sát Hiến pháp là cơ quan do Quốc hội thành lập, có chức năng giám sát việc thi hành Hiến pháp của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Ủy ban Giám sát Hiến pháp là một ủy ban đặc biệt của Quốc hội, phải có những quy định đặc thù về tổ chức, hoạt động để bảo đảm tính độc lập nhất định so với Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước.

Các hoạt động kiểm tra, giám sát, xem xét hành vi vi phạm Hiến pháp được thực hiện bởi các tiểu ban chuyên trách của Ủy ban Giám sát Hiến pháp. Trên cơ sở báo cáo của các tiểu ban, Ủy ban họp toàn thể để xem xét thảo luận và biểu quyết để đưa ra quyết định cuối cùng. Các báo cáo của Ủy ban được thông qua khi đạt tỷ lệ biểu quyết theo đa số và sau đó được trình Quốc hội. Chủ tịch Ủy ban không tham gia biểu quyết nhưng có tiếng nói quyết định cuối cùng trong trường hợp số phiếu đồng ý và không đồng ý ngang nhau.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 10-2017

(1) Lê Hồng Hạnh: “Khả năng thực hiện việc trao thẩm quyền giải thích Hiến pháp cho Tòa án ở Việt Nam”, Tạp chíNghiên cứu Lập pháp, số18-2008, tr.5.

(2) Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Báo cáo số 2081/BC-UBPL13, ngày 21-10-2013.

(3) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, tr.175.

 

PGS, TS Tào Thị Quyên

Viện Nhà nước và pháp luật,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác