Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp với việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam
Thứ năm, 24 Tháng 5 2018 16:10
570 Lượt xem

Thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp với việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam

(LLCT) - Năm 2018 thế giới và Việt Nam kỷ niệm 70 năm ngày Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền (1948-2018)(1). Trong bối cảnh cả nước đang tích cực triển khai Hiến pháp 2013 và hiện thực hóa Nghị quyết Đại hội XII trong đời sống xã hội, bài viết phân tích việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp, từ đó nêu ra giải pháp tiếp tục thực hiện tốt Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nhằm mục đích bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay.

1. Vấn đề bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người trong Chiến lược cải cách tư pháp

Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 đã khẳng định các quyền con người là các quyền tự nhiên, vốn có và không thể chuyển nhượng của các cá nhân. Nội dung của Tuyên ngôn khẳng định các quyền con người cơ bản, quyền chính trị, quyền kinh tế, bao gồm cả quyền chống lại sự phân biệt đối xử bất công dựa trên chủng tộc, tôn giáo hay giới tính, quyền được trả công thỏa đáng và không phân biệt đối xử trong các quan hệ kinh tế, quyền được hưởng mức sống đầy đủ. Giá trị của Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền mở rộng cánh cửa tư duy về một nhà nước nhân văn khi khẳng định các nhà nước cần “thừa nhận phẩm giá vốn có và các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại”(2). Như vậy, quyền con người có giá trị phổ quát với những đặc trưng cơ bản về tính phổ biến (universal)(3), tính không thể chuyển nhượng (inalienable)(4), tính không thể phân chia (indivisble)(5), tính liên hệ, phụ thuộc lẫn nhau (interrelated, interdependent)(6) đã tạo nên giá trị về niềm tin và sự thôi thúc thực hành nó ở mọi nơi trên trái đất.

Trong nỗ lực của nhà nước pháp quyền, việc xác định quyền tư pháp và kiểm soát quyền tư pháp ở Việt Nam không phải là ngoại lệ trong tiến trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền con người. Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” (Điều 3). Chiến lược cải cách tư pháp đã đề ra mục tiêu “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao”(7). Để thực hiện các mục tiêu, Chiến lược cải cách tư pháp đã xác định 8 nhiệm vụ, trong đó nhiệm vụ bảo đảm quyền con người, quyền công dân được đặt trong nhiệm vụ đầu tiên: coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội. Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm. Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Giảm bớt khung hình phạt tối đa quá cao trong một số loại tội phạm. Khắc phục tình trạng hình sự hóa quan hệ kinh tế, quan hệ dân sự và bỏ lọt tội phạm... “Hoàn thiện pháp luật dân sự, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khi tham gia giao dịch, thúc đẩy các quan hệ dân sự phát triển lành mạnh”... “Nghiên cứu thực hiện và phát triển các loại hình dịch vụ từ phía nhà nước để tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đổi mới thủ tục hành chính trong các cơ quan tư pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý; người dân chỉ nộp đơn đến tòa án, tòa án có trách nhiệm nhận và thụ lý đơn”... “tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng giữa công dân và cơ quan công quyền trước tòa án”. Để thực hiện tốt nhiệm vụ quan trọng này, Chiến lược cải cách tư pháp xác định phải đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp. Đồng thời, phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối với hoạt động tư pháp... Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên tập trung làm tốt công tác động viên nhân dân phát hiện những hạn chế, khuyết điểm trong hoạt động tư pháp, qua đó kiến nghị với các cơ quan tư pháp khắc phục, sửa chữa.

2. Những kết quả đáng kể của cải cách tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người

Thứ nhất, cải cách tư pháp luôn bảo đảm yêu cầu đặt dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng, bảo đảm sự ổn định chính trị, bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Quán triệt sự lãnh đạo của Đảng về cải cách tư pháp đối với việc xây dựng Hiến pháp thể hiện bằng thành tựu lập hiến khi thiết chế Tòa án và Viện kiểm sát được quy định ở hai điều khác nhau tại Hiến pháp năm 2013 song đều có mục đích là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân(8). Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định vị trí pháp lý của Viện Kiểm sát nhân dânlà cơ quan thực hiện quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp để tiếp tục phát huy những thành tựu đang có của Viện Kiểm sát nhân dân trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền cũng như bảo vệ quyền con người.

Thứ hai, tổ chức bộ máy cơ quan tư pháp được xây dựng theo tinh thần cải cách tư pháp bảo đảm các nguyên tắc pháp quyền, hướng đến bảo đảm trong quá trình hoạt động cán bộ tư pháp không bị ảnh hưởng và chi phối bởi các yếu tố hành chính.

Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 được ban hành quán triệt tinh thần cải cách tư pháp: “tổ chức hệ thống tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính”, nên quy định Tòa án nhân dân được tổ chức thành 4 cấp, theo thẩm quyền xét xử, bổ sung Tòa án nhân dân cấp cao(9) trong hệ thống Tòa án nhân dân. Viện Kiểm sát nhân dân được tổ chức thành 4 cấp phù hợp với hệ thống tổ chức Tòa án nhân dân. Có nhiều quy định mới như: tòa án có quyền yêu cầu Điều tra viên, Kiểm sát viên trình bày về các vấn đề có liên quan đến vụ án hình sự tại phiên tòa; phán quyết về vụ án trên cơ sở kết quả tranh tụng. Đây là khâu đột phá của cải cách tư pháp nhằm bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người dân trước tòa án. Công tác cải cách thủ tục hành chính tư pháp được chú trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý(10)... Vai trò, trách nhiệm của cơ quan công tố trong hoạt động điều tra được xác định rõ hơn; việc thực hành quyền công tố bắt đầu ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm.

Thứ ba, nhiều nội dung quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp, bộ luật, đạo luật đã có sự thống nhất với các quy định trong luật nhân quyền quốc tế, nội luật hóa Công ước của Liên Hợp quốc vào pháp luật quốc gia.

Hiến pháp năm 2013 đã có sự sửa đổi, bổ sung để chỉ rõ và đầy đủ hơn quyền con người, đó là: quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều 16), quyền không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình (Khoản 1, Điều 20), quyền bảo vệ bí mật riêng tư (Điều 21, Điều 22), tố tụng công bằng. Bộ luật Hình sự năm 2015 xác định phạm vi rộng hơn, với sự điều chỉnh, bảo vệ không chỉ giới hạn ở “các tội xâm phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân” mà còn bổ sung thêm “các tội xâm phạm quyền tự do của con người”. Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định quyền yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; tòa án không được từ chối yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng (Điều 4); Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Tố tụng hình sự được tiến hành theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật (Điều 9). Nguyên tắc suy đoán vô tội là nguyên tắc bảo vệ quyền con người một cách kinh điển nhất được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã ghi nhận giá trị của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (Điều 11 Khoản 1) và Công ước về quyền dân sự, chính trị năm 1966 (Khoản 2, Điều 14). Bộ luật Tố tụng hình sự có nhiều quy định bổ sung nhằm nội luật hóa Công ước của Liên Hợp quốc về chống tra tấn và những đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục mà Việt Nam vừa ký kết năm 2013. Quy định rõ và rộng hơn trước về hành vi bị cấm và cả chủ thể được bảo vệ khỏi bị tra tấn, truy bức, nhục hình, trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền nhằm phòng, chống sự vi phạm từ phía cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền, bổ sung thêm quy định về quyền của bị cáo, quyền của người bào chữa được yêu cầu triệu tập, bổ sung người làm chứng, người giám định để bảo đảm tốt hơn hiệu quả hoạt động tranh tụng ở phiên tòa. Bị can, bị cáo được quyền hỏi người làm chứng, người giám định, người bị hại về những tình tiết liên quan đến vụ án; các Luật Công chứng, Luật Luật sư, Luật Thi hành án dân sự, Luật Thi hành án hình sự, Luật Đặc xá, Luật Giám định tư pháp, Luật Lý lịch tư phápcũng được ban hành, bảo đảm đầy đủ hơn, chặt chẽ hơn quyền con người, quyền công dân.

Thứ tư, chủ trương xã hội hóa một số hoạt động tư pháp và bổ trợ tư pháp (công chứng, trợ giúp pháp lý, thí điểm chế định thừa phát lại) được thể chế hóa nhất quán, đáp ứng nhu cầu của người dân trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Vai trò của thừa phát lại được phát huy, góp phần tiết kiệm thời gian, chi phí của người dân và cơ quan nhà nước(11). Tổ chức giám định và đội ngũ giám định viên tư pháp được kiện toàn(12). Một số ngành, địa phương(13) đã ban hành quyết định, công bố danh sách tổ chức giám định và giám định viên tư pháp trên cổng thông tin điện tử của bộ, ngành, địa phương tạo thuận lợi cho các cơ quan trưng cầu giám định và những người có yêu cầu giám định. Việc chuyển đổi Phòng Công chứng thành Văn phòng công chứng tạo điều kiện xã hội hóa mạnh mẽ hoạt động công chứng, đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Hội nghề nghiệp của công chứng được thành lập ở nhiều tỉnh, thành phố bảo đảm chủ trương xã hội hóa, nhằm nâng cao chất lượng nghề công chứng, bảo đảm an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch, tiết kiệm thời gian, chi phí cho xã hội, người dân. Công tác trợ giúp pháp lý được đẩy mạnh xã hội hóa theo lộ trình, phù hợp với đặc thù từng vùng, miền, hỗ trợ các đối tượng chính sách và người nghèo trong việc tiếp cận công lý(14). Luật Trợ giúp pháp lý quy định trách nhiệm của nhà nước trong việc đưa ra chính sách thu hút các nguồn lực trợ giúp pháp lý để khích lệ sự tham gia nhiều hơn nữa của các lực lượng xã hội.

Thứ năm, công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và việc bắt, giam, giữ, cải tạo được thực hiện nghiêm minh, dân chủ, công bằng hơn, hạn chế được oan, sai, bỏ lọt tội phạm, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.

Tòa án tổ chức gần 5.500 phiên tòa rút kinh nghiệm theo tinh thần cải cách tư pháp(15). Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân và cơ quan điều tra đã chú trọng thực hiện nhiệm vụ chống oan, sai, chú trọng nắm thông tin về các vụ việc oan, sai, tập trung thanh tra, kiểm tra trong nội bộ ngành về các trường hợp có đơn khiếu nại, tố cáo về oan, sai, làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm và xử lý nghiêm cá nhân có sai phạm. Nhờ vậy, các trường hợp oan, sai trong tố tụng hình sự giảm mạnh(16).

Thứ sáu, kiểm soát quyền tư pháp được tăng cường nhằm bảo vệ tối đa quyền con người.

Ủy ban tư pháp của Quốc hội đã tiến hành giám sát chuyên đề về điều tra, truy tố, xét xử oan, sai; tiến hành phiên chất vấn đối với Chánh án Tòa ánh nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an về công tác tư pháp, qua đó tạo niềm tin cho người dân về công lý và hiệu quả của cải cách tư pháp. Mặt trận Tổ quốc đã tiến hành nhiều đoàn giám sát và thu thập ý kiến, kiến nghị của cử tri về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử nhằm tăng cường giám sát và phản biện xã hội đối với hoạt động tư pháp.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp còn một số tồn tại: “Việc triển khai một số nhiệm vụ cải cách tư pháp còn chậm; vẫn còn tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực, oan, sai, bỏ lọt tội phạm”(17). Hoạt động giám sát tư pháp của Quốc hội và Hội đồng nhân dân tuy có nhiều đổi mới nhưng chưa được thực hiện rộng khắp, nền nếp, còn mang tính hình thức; chính sách xã hội hóa chưa được quan tâm đúng mức. Những hạn chế nêu trên do cải cách tư pháp là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp; khối lượng công việc cải cách tư pháp rất lớn, đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ (về nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo yêu cầu về đội ngũ cán bộ và cơ sở vật chất) trong khi điều kiện kinh tế đất nước còn khó khăn. Mặt khác, tư tưởng bảo thủ, chậm đổi mới tư duy về tư pháp và cải cách tư pháp vẫn còn ở một bộ phận cán bộ, công chức.

3. Giải pháp tăng cường thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp nhằm bảo đảm quyền con người ở Việt Nam trong thời gian tới

Một là, chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến nội dung, mục đích của Chiến lược cải cách tư pháp cũng như các quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về công tác tư pháp.

Hai là, tòa án cần đẩy nhanh tiến độ, khắc phục việc giải quyết án chậm trễ do lỗi chủ quan, đồng thời nâng cao chất lượng xét xử, bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo đảm công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân; Làm tốt công tác hòa giải trong giải quyết vụ án dân sự và đối thoại trong giải quyết vụ án hành chính; chú trọng đào tạo kỹ năng cho đội ngũ thẩm phán; phòng, chống tiêu cực, tham nhũng, ứng dụng công nghệ thông tin, tăng cường tập huấn nghiệp vụ. Tiếp tục kiện toàn tổ chức cơ quan điều tra, thu gọn đầu mối, thực hiện các quy định về ghi âm, ghi hình để khắc phục tình trạng bức cung, nhục hình, bảo đảm quyền con người trong quá trình bị bắt, bị tạm giam, tạm giữ.

Ba là, nâng cao chất lượng ban hành thông tư, thông tư liên tịch, cụ thể hóa Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và sửa đổi Luật Giám định tư pháp, Luật Phòng chống tham nhũng.

Bốn là, tăng cường nghiên cứu, làm rõ mô hình và cách thức hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng: không can thiệp vào quá trình xét xử của tòa án, bảo đảm các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động tư pháp như độc lập trong xét xử, tranh tụng, bào chữa... và quyền tiếp cận thông tin, quyền tiếp cận công lý của người dân khi tham gia các quan hệ pháp luật tố tụng.

Năm là, đổi mới phương thức và hình thức giám sát hoạt động tư pháp, chú trọng giám sát của nhân dân, cơ quan dân cử gắn với nâng cao năng lực giám sát và bản lĩnh chính trị của chủ thể giám sát. Nâng cao chất lượng kiểm sát, hoạt động tư pháp của Viện Kiểm sát nhân dân để công lý và quyền con người được bảo vệ tối đa và thực hiện trong thực tế.

Như vậy, cải cách tư pháp trong thời gian tới cần phải thực chất hơn và quyết liệt hơn từ đổi mới nhận thức đến đổi mới về hành động, trong đó chú trọng tới việc nâng cao năng lực của đảng viên, cán bộ các cơ quan tư pháp, đổi mới phương thức hoạt động, bảo đảm tính khách quan, minh bạch trong hoạt động tư pháp đồng thời với việc quy định trách nhiệm cụ thể cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động tư pháp.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 1-2017

(1) “Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền” (Universal Declaration of Human Rights)được Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua ngày 10-12-1948. Bản Tuyên ngôn là nền tảng cho hai công ước cơ bản về quyền con người được Liên Hợp quốc thông qua năm 1966 (ICCPR và ICESCR - Việt Nam đã gia nhập vào năm 1982). Cũng như các văn kiện nhân quyền quốc tế trong nhiều lĩnh vực được thông qua sau đó, nhiều văn kiện của các tổ chức liên chính phủ ở nhiều khu vực cũng chịu ảnh hưởng về nội dung và có sự dẫn chiếu đến bản Tuyên ngôn này. Bản Tuyên ngôn, với 30 điều khoản ngắn gọn, rất hữu ích và tiện lợi cho mục đích giáo dục nhân quyền

(2)Lời nói đầu của Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền.

(3) Là những gì bẩm sinh, vốn có của con người và được áp dụng bình đẳng, không có sự phân biệt đối xử vì bất cứ lý do gì.

(4) Là sự khẳng định không một cá nhân, tổ chức nào có thể tước bỏ hay hạn chế một cách tuỳ tiện, trừ một số trường hợp khi người đó phạm tội.

(5) Các quyền có giá trị ngang nhau không quyền nào có giá trị cao hơn quyền nào

(6) Các quyền có liên quan đến nhau, quyền của cá nhân này liên quan đến việc thụ hưởng quyền của các cá nhân khác hoặc cả cộng đồng.

(7) Ban Chấp hành Trung ương : Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội, ngày 2-6-2005.

(8) Chỉ khác là đối với tòa án, nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân được đặt trước với bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích của tổ chức, cá nhân khác tại Điều 102, Khoản 3; Viện Kiểm sát nhân dân nhấn mạnh vai trò đầu tiên là bảo vệ pháp luật rồi đến bảo vệ quyền con người, quyền công dân sau đó mới là bảo vệ chế độ XHCN tại Điều 107, Khoản 3.

(9) Tòa án nhân dân cấp cao được thành lập ở 3 khu vực: miền Bắc tại Hà Nội; miền Trung tại Đà Nẵng và miền Nam tại thành phố Hồ Chí Minh.

(10) Tập trung vào việc đổi mới quy trình, thủ tục tiếp nhận và xử lý công việc và đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của tòa án thông qua việc nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, hoàn thiện hệ thống truyền hình trực tuyến trong toàn hệ thống, triển khai phần mềm ứng dụng mới nhằm thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về tố tụng, tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan, người dân tiếp cận cũng như giám sát các hoạt động của tòa án.

(11) Báo cáo số 352/BC-CP của Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 26-8-2017 về công tác thi hành án năm 2017: Các cơ quan thi hành án dân sự đã phối hợp với Thừa phát lại thực hiện tống đạt 66.390 văn bản và tổ chức thi hành án đối với 73 việc.

(12) Ở Trung ương có 4 tổ chức giám định tư pháp và Viện pháp y quốc gia, Viện pháp y tâm thần trung ương thuộc Bộ Y tế, Viện pháp y quân đội thuộc Bộ Quốc phòng và Viện khoa học hình sự thuộc Bộ công an; các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương có 56 trung tâm giám định pháp y, 05 trung tâm pháp y tâm thần khu vực. Điều chỉnh chức năng Phòng kỹ thuật hình sự công an cấp tỉnh chỉ thực hiện giám định pháp y tử thi, không thực hiện giám định pháp y về thương tích, đồng thời cho phép giám định viên thành lập các tổ chức giám định ngoài công lập (thuộc lĩnh vực ngân hàng, tài chính, văn hóa...).

(13) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, UBND thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bắc Giang, Quảng Nam, Kon tum, Phú Yên...

(14) Trợ giúp pháp lý là một chính sách bảo đảm quyền con người, quyền công dân và là một bộ phận của tổng thể các chính sách xóa đói, giảm nghèo, đền ơn, đáp nghĩa, chính sách dân tộc và ưu đãi xã hội của Đảng và Nhà nước ta. Nhiệm vụ này được giao cho ngành Tư pháp triển khai từ năm 1997 theo Quyết định số 734/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Luật Trợ giúp pháp lý lần đầu tiên được Quốc hội ban hành vào năm 2006 và qua 10 năm triển khai đã đạt được những thành quả đáng kể trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nghèo, đối tượng chính sách và các đối tượng yếu thế.

(15) Theo Báo cáo công tác năm 2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, trong năm 2017 ít nhất mỗi thẩm phán phải đăng ký thực hiện ít nhất 01 phiên tòa để tổ chức rút kinh nghiệm chung trong cơ quan, đơn vị.

(16) Theo Báo cáo số công tác năm 2017 của Viện trưởng Viện Kiểm sát tối cao trình Quốc hội, số bị can đình chỉ do không phạm tội giảm 57,4%; số bị cáo tòa án cấp sơ thẩm xét xử tuyên không phạm tội giảm 30,7%; số bản án sơ thẩm bị hủy để điều tra, xét xử lại giảm 4,9%); kịp thời phát hiện các bản án, quyết định của tòa án có vi phạm, thiếu sót, đã ban hành 2.701 kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm trong lĩnh vực hình sự, dân sự, hành chính và số kháng nghị được tòa án xét xử chấp nhận đều vượt chỉ tiêu của Nghị quyết 37 của Quốc hội.

(17) ĐCSVN:Văn kiện đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.174.

 

PGS, TS Trương Thị Hồng Hà

Văn phòng Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương

Các bài viết khác