Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Vai trò của Nhà nước trong hội nhập quốc tế của Việt Nam
Thứ năm, 26 Tháng 7 2018 16:53
788 Lượt xem

Vai trò của Nhà nước trong hội nhập quốc tế của Việt Nam

(LLCT) - Phát huy vai trò Nhà nước nhằm tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam là một đòi hỏi khách quan, xuất phát từ những yêu cầu của thực tiễn sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong một thế giới luôn vận động và biến đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường như hiện nay, việc nhận thức đầy đủ, sâu sắc những yếu tố tác động tích cực và tiêu cực đến vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước trong hội nhập quốc tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Từ sau khi Bộ Chính trị ra Nghị quyết 07-NQ/TW (khóa IX) “Về hội nhập kinh tế quốc tế”, đất nước đã có sự khởi sắc trên con đường đổi mới toàn diện và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Đại hội X tiếp tục khẳng định quan điểm: “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”, đồng thời chủ trương “mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực khác”. Theo đó, quan hệ của nước ta với cộng đồng thế giới ngày càng mở rộng, Đại hội XI của Đảng nêu rõ: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”(1). Ngày 10-4-2013, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW Về hội nhập quốc tế. Đây là một văn kiện quan trọng, đánh dấu bước ngoặt của Việt Nam trong đẩy mạnh hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: “Nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu... Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác chiến lược và các nước lớn có vai trò quan trọng đối với phát triển và an ninh của đất nước, đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập vào thực chất”(2).

Hơn 30năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế. Đó là kết quả của quá trình Nhà nước triển khai, thực hiện nhất quán đường lối, chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng, với tinh thần chủ động, tích cực đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế. Chúng ta đã xây dựng đượcnhiều chủ trương, giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, kích thích các doanh nghiệp quan tâm đầu tư phát triển nguồn nhân lực, ứng dụng và sáng tạo công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý mới, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư, sản xuất, tạo ra một nền kinh tế có khả năng sáng tạo cao với nhiều sản phẩm mới, bảo đảm hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.Đồng thời, nhằm thu hút vốn và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài, Nhà nước đã xây dựng, bổ sung những đạo luật đáp ứng đòi hỏi của hội nhập kinh tế quốc tế,như: Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư... từng bước xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa đầu tư trong nước với đầu tư nước ngoài, xóa bỏ sự bất bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, đặc biệt giữa khu vực kinh tế nhà nước với khu vực kinh tế tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

Cho tới nay, Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược với 13 quốc gia và quan hệ đối tác toàn diện với 11 nước trên thế giới. Đặc biệt, năm 2013, Việt Nam đã hoàn thành việc xác lập các khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với tất cả 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc. Cùng với các mối quan hệ truyền thống, đặc biệt với các nước bạn láng giềng Lào, Campuchia, các nước trong Cộng đồng ASEAN, các khuôn khổ quan hệ này một mặt góp phần tích cực triển khai hiệu quả quan hệ hợp tác của Việt Nam với các nước trên thế giới; mặt khác tạo tiền đề quan trọng để thu hút các nguồn lực cho sự phát triển của nền kinh tế quốc gia. Theo số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), năm 2017 vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam đạt 35,88 tỷ USD, tăng 44,4 % so với cùng kỳ năm 2016 và tăng cao nhất trong 10 năm trở lại đây. Điều này cho thấy niềm tin và sự tín nhiệm của các nhà đầu tư quốc tế đối với sự cải thiện của môi trường đầu tư tại Việt Nam. Có được sự tin tưởng này là do vai trò của Nhà nước trong việc hoạch định và triển khai cácchính sách đúng đắn nhằm nâng cao hiệu quả của hội nhập quốc tế. Vai trò đó được thể hiện qua việc thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại của Nhà nước, mà cụ thể là: Xây dựng chiến lược và lộ trình hội nhập trên cơ sở nhận thức và dự báo chính xác các cơ hội và thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế; Điều chỉnh, tạo ra những điều kiện thuận lợi về thể chế, chính sách, pháp luật trong quá trình hội nhập; Quản lý, điều tiết nền kinh tế, phát huy nội lực kết hợp với tranh thủ ngoại lực; Đàm phán, ký kết và thực hiện các hiệp định, hợp đồng kinh tế - thương mại quốc tế và khu vực; Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái; Đấu tranh bảo vệchủ quyền quốc gia, nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế...

Thực tiễn hội nhập kinh tế quốctế của Việt Nam những năm qua cho thấy, vai trò của Nhà nướcngày càng được thể hiện rõ và phát huy hiệu quả tích cực; tuy nhiên, cũng vẫn cònkhông ít những hạn chế và đặt ra những vấn đề mới đòi hỏi Nhà nước cần quan tâm, tháo gỡ. Đặc biệt, trong một thế giới luôn vận động và biến đổi nhanh chóng, khó lườngnhư hiện nay, thì việc nhận thức đầy đủ, sâu sắc những yếu tố tác động đến vai trò của Nhànướctrong việc tận dụng cơ hội, vượt qua thách thứctrong quá trình hội nhập quốc tế là hết sức cần thiết.

Những yếu tố tác động tích cực là:

Một là, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển của thế giới.

Những năm gần đây, nhân loại đã và đang chứng kiến những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều bất trắc, khó lường. Những căng thẳng, xung đột tôn giáo, sắc tộc, ly khai, chiến tranh cục bộ, tranh chấp lãnh thổ, bạo loạn chính trị, can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn sẽ diễn ra gay gắt; các yếu tố đe dọa an ninh phi truyền thống, tội phạm công nghệ cao trong các lĩnh vực tài chính - tiền tệ, điện tử - viễn thông, sinh học, môi trường... có xu hướng ngày càng gia tăng với tính chất phức tạp.

Tuy vậy, cục diện chính trị thế giới đa cực ngày càng rõ hơn; quan hệ quốc tế xuất hiện những điểm mới như: bên cạnh các nước lớn đóng vai trò chủ đạo thì các nước nhỏ ngày càng vươn lên khẳng định vị trí của mình; cùng với yếu tố chính trị, quân sự, yếu tố kinh tế bộc lộ rõ nét và ngày càng quan trọng; sự tập hợp lực lượng chính trị đan xen, lỏng lẻo, thậm chí tạm thời trên cơ sở lợi ích. Trong đó, các nước vừa lôi kéo, lợi dụng, vừa kiềm chế lẫn nhau. Hơn nữa,  thế giới đang phải đối mặt với những vấn đề toàn cầu: nghèo đói, dịch bệnh, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, chủ nghĩa khủng bố,... đòi hỏi phải cùng nhau giải quyết vì sự tồn vong của nhân loại. Chính vì vậy, trong quan hệ giữa các quốc gia tuy còn không ít những mâu thuẫn, nhưng đặc điểm nổi trội sẽ là một thế giới đa dạng, xu thế dân chủ hóa trong quan hệ quốc tế tiếp tục phát triển. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn thể hiện là xu thế chung của nhân loại ngày nay. Trong bối cảnh đó, Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định phương châm: “Đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Đó cũng là định hướng lớn để phát huy vai trò của Nhà nước ta trong hội nhập quốc tế, là điều kiện thuận lợi để chúng ta nắm bắt cơ hội và vượt qua mọi khó khăn, thách thức.

Hai là, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, đặc biệt là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) thúcđẩy nhanh quá trình toàn cầu hóavà hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Hiện nay, sự phát triển của khoa học - công nghệ, đặc biệt là sự xuất hiện của cuộc CMCN4.0đã làm biến đổi cả về quy mô và phương thức phát triển của nhân loại. Trong tương lai, nó sẽ trở thành một trong những yếu tố cơ bản thúc đẩy sự thống nhất của nền kinh tế thế giới.Với xu hướng phát triển dựa trên nền tảng tích hợp cao của hệ thống kết nối số hóa - vật lý - sinh học với sự đột phá của Internet vạn vật và Trí tuệ nhân tạo, cuộc cách mạng nàyđang làm thay đổi căn bản nền sản xuất của thế giới. Đặc điểm nổi bật của CMCN 4.0 là tận dụng một cách triệt để sức mạnh lan tỏa của số hóa và công nghệ thông tin. Làn sóng công nghệ mới này đang diễn ra với tốc độ khác nhau tại các quốc gia trên thế giớivàđang tạo ra sự tác động mạnh mẽ, ngày một gia tăng tới mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, dẫn đến việc thay đổi phương thức và lực lượng sản xuất của xã hội.

Việt Nam là quốc gia đang trong quá trình CNH, HĐHvà hội nhập quốc tế, cuộc CMCN 4.0 mở ra nhiều cơ hội trong việc nâng cao trình độ công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và cạnh tranh trong chuỗi sản phẩm; tạo ra sự thay đổi lớn trongkinh doanh dịch vụ; tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; giảm đáng kể chi phí giao dịch, vận chuyển; tạo cơ hội đầu tư hấp dẫn và đầy tiềm năng trong lĩnh vực công nghệ số và internet;đồng thời cũng là cơ hội lớn cho sản xuất công nghiệp với trình độ khoa học và công nghệ cao.

Xét từ góc độ phương thức sản xuất, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại sẽ tạo ra sự phát triển “chưa từng có” của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất cũng từng bước có sự biến đổi để thích ứng. Những thành tựu khoa học - công nghệ, nhất là ưu thế “vượt trội” của số hóa và công nghệ thông tin,nhanh chóng làm nên sự thay đổi to lớn trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội trên phạm vi toàn cầu.

Mỗi quốc gia, dân tộc đều cần có chiến lược phát triển khoa học - công nghệ gắn chặt với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế, tiếp thu những thành tựu khoa học - công nghệ. Từ đó, xuất hiện những nhu cầu và mức độ liên kết giữa các quốc gia dân tộc có sự khác nhau. Sự liên kết ban đầu chủ yếu là vì lợi ích kinh tế ấy ngày càng kéo theo sự liên kết của hàng loạt vấn đề không chỉ kinh tế đơn thuần mà còn là sự liên kết chính trị; liên kết về văn hóa, liên kết quốc phòng - an ninh,... mang tính phổ biến và không ngừng tăng lên. Như thế, khoa học - công nghệ làm cho hội nhập không chỉ diễn ra trong kinh tế mà “có sức lan tỏa” mạnh mẽ kéo theo hội nhập trên tất cả các lĩnh vực.

Ba là, công cuộc đổi mới đất nước ngày càng đi vào chiều sâu, tạo ra thế và lực mới của Việt Nam trong hội nhập quốc tế.

Sau hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, với đường lối, chủ trương phù hợp với quy luật khách quan, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được thực hiện theo từng bước đi cụ thể: Từ “tích cực” đến “chủ động và tích cực”, “nâng cao hiệu quả, đi vào chiều sâu”; từ “hội nhập kinh tế quốc tế” đến “hội nhập quốc tế” trên tất cả các lĩnh vực;... đã thu được nhiều thành tựu và vượt qua được những khó khăn, thách thức, tạo ra thế và lực, sức mạnh tổng hợp, tiền đề vững chắc cho sự phát triển trong thời gian tới.

Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế và tài chính toàn cầu, thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN vẫn từng bước được xây dựng và hoàn thiện, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, quy mô nền kinh tế từng bước tăng lên, môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện; quốc phòng, an ninh, đối ngoại được tăng cường, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ XHCN, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững; quan hệ kinh tế đối ngoại được mở rộng, góp phần tạo ra thế và lực mới của đất nước.

Trong những năm tới, có thể hội nhập quốc tế sẽ tiếp tục đặt ra những vấn đề mới, song, những thành tựu đã đạt được là những tiền đề quan trọng để Nhà nước Việt Nam tận dụng tốt những cơ hội và vượt qua mọi khó khăn, thách thức mới.

Những yếu tố tiêu cực là:

Một là, ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế và tài chính toàn cầu kéo dài, kéo theo nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng chậm và tiềm ẩn những nguy cơ bất ổn.

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới trầm trọng và kéo dài đã gây ra những hậu quả nặng nề đối với tất cả các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Hiện nay, mức độ ảnh hưởng đã giảm đáng kể nhưng diễn biến còn khá phức tạp. Hơn nữa, chủ nghĩa bảo hộ có xu hướng gia tăng dưới nhiều hình thức. Các nước phát triển, một mặt muốn đẩy nhanh quá trình tự do hóa để có cơ hội xâm nhập, chi phối... Mặt khác họ sẵn sàng dựng các rào cản bảo hộ hàng hóa của mình. Cạnh tranh về kinh tế, thương mại, tranh giành các nguồn tài nguyên, năng lượng, thị trường, công nghệ, nguồn vốn, nguồn nhân lực chất lượng cao,quá trình liên kết khu vực diễn ra mạnh mẽ, diễn biến phức tạp...làm cho cuộc đấu tranh giữa các nước phát triển và đang phát triển tiếp tục diễn ra gay gắt, trực tiếp tác động đến nước ta.

Thực tế chỉ ra rằng, do hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, kinh tế Việt Nam không thể nào đứng bên ngoài xu hướng chung của thời đại. Điều đó thể hiện rõ ở việc nền kinh tế Việt Nam đã có dấu hiệu phục hồi nhưng vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô của ta đã có những bước tiến đáng kể, nhưng rủi ro vẫn còn rất lớn. Nợ công của Việt Nam hiện nay là điều đáng lo ngại, trong khi hiệu quả kinh doanh của nhiều khu vực, nhất là khu vực doanh nghiệp nhà nước còn thấp, khu vực ngân hàng cần được tái cơ cấu,... Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế, Việt Nam đang ở trong giai đoạn phải lựa chọn giữa hai con đường: Tiếp tục chạy theo tăng trưởng hay duy trì sự ổn định?.

Bên cạnh đó, những vấn đề toàn cầu như: an ninh tài chính, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, nước biển dâng cao, thiên tai, dịch bệnh,... sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp làm cho những khó khăn, thách thức trong hội nhập quốc tế có thể trở nên trầm trọng hơn.

Hai là, tác động từmặt trái của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư là một trong những thách thức lớn đối với vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước.

Song song với những lợi ích do cuộc CMCN 4.0đem lại, Việt Nam cũng sẽ chịu những tác động tiêu cực từ cuộc cách mạng này, trước hết là áp lực đòi hỏi cần phải hoàn thiện các yếu tố nội sinh để thích nghi với điều kiện hội nhập mới. Bởi lẽ, nếu không bắt kịp nhịp độ phát triển của thế giới và khu vực, chúng tasẽ phải đối mặt với những thách thức như: sự tụt hậu về công nghệ, suy giảm sản xuất, kinh doanh; dư thừa lao động có kỹ năng và trình độ thấp dẫn tới gây phá vỡ thị trường lao động truyền thống, ảnh hưởng tới tình hình kinh tế - xã hội đất nước; mất an toàn, an ninh thông tin, xâm phạm bản quyền, thiếu hụt nguồn nhân lực trình độ cao. Thậm chí,còn xuất hiện ngày càng phổ biếnlàn sóng đẩy công nghệ lạc hậu từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển, chậm phát triển, trong đó có Việt Nam.

Do những thay đổi mang tính cách mạng về khoa học và công nghệ dẫn tới thay đổi mạnh mẽ về cơ cấu, mô hình kinh tế, hệ thống quản lý nhà nước, xã hội cũng như phương thức hoạt động của các doanh nghiệp. Cuộc CMCN 4.0 cũng mang đến những đòi hỏi mang tính tất yếu đối với các ngành nghề, lĩnh vực như: yêu cầu về đổi mới công nghệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin; đẩy mạnh khoa học phân tích,quản lý và xử lý dữ liệu lớn tạo ra tri thức mới, tạo lợi thế cạnh tranh; yêu cầu về đổi mới mô hình quản lý, sản xuất, tối ưu hóa mô hình kinh doanh, thiết lập chuỗi cung ứng và hậu cần thông minh trong mạng lưới giá trị toàn cầu và mô hình thuế quan;yêu cầu về hệ thống quản lý sở hữu trí tuệ,về bảo đảm an toàn, an ninh thông tin mạng,...

Có thể nhận thấy, trước sự tác động mạnh mẽ cả tích cực và tiêu cực của cuộc CMCN 4.0 thì việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả, phát huy vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay là vấn đề hết sức quan trọng, cấp thiết.

Ba là, sự chống phá của các thể lực thù địch ngày càng quyết liệt.

Lợi dụng những sơ hở trong quá trình thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế của Việt Nam, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ. Sự chống phá của chúng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, đối ngoại, an ninh, quốc phòng... Chúng không ngừng cổ vũ, tiếp tay cho các phần tử phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước công khai chống lại đường lối đổi mới của Ðảng, Nhà nước ta, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta; ráo riết tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chính sách của Ðảng, pháp luật của Nhà nước; vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền; kích động tư tưởng ly khai; gây nghi ngờ, chia rẽ trong nội bộ, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Ðảng, Nhà nước và chế độ XHCN; kích động, tập hợp lực lượng, tìm cách thành lập các tổ chức chính trị đối lập, chuẩn bị điều kiện tiến hành cuộc “cách mạng màu” nhằm thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam.

Những thành tựu to lớn mà Việt Namđạt được trong hội nhập quốc tế những năm qua là kết quả của cả một quá trình thực hiện nhất quán đường lối, chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa với chủ trương chủ động và tích cực hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và thế giới. Thực tiễn đó đã chứng minh vai trò quan trọng của Nhà nước sẵn sàng chấp nhận “cuộc chơi” trong “làng toàn cầu” không chỉ lĩnh vực kinh tế như những năm đầu đất nước thực hiện công cuộc đổi mới, mà thực hiện hội nhập trên tất cả các lĩnh vực văn hóa, ngoại giao, quốc phòng, an ninh...Để tiếp tục phát huy vai trò của Nhà nước trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, nâng cao năng lực dự báo của Nhà nước.

Dự báo kịp thời, chính xác thời cơ và thách thức cũng như diễn biến của các nhân tố tác động sẽ là cơ sở để Nhà nước giải quyết thành công các tình huống nảy sinhtrong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Do đó, Nhà nước cần:

+ Bảo đảm cơ chế tài chính cho công tác dự báo hoạt động mạnh và hiệu quả. Nhà nước đầu tư kinh phí, khuyến khích, huy động các nguồn vốn khác nhau để đầu tư cơ sở vật chất, trang, thiết bị, hệ thống thông tin và công cụ, phương tiện phục vụ tốt công tác phân tích, dự báo.

+ Nâng cao chất lượng cán bộ làm công tác dự báo bằng việc đẩy mạnhđào tạo chuyên môn hóa.

+ Mở rộng hợp tác quốc tế về công tác dự báo. Nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi nhất để các cơ quan, đơn vị làm công tác dự báo có cơ hội giao lưu, học hỏi kinh nghiệm từ các nước tiên tiến, nhằm nâng cao trình độ phân tích, xử lý thông tin của cán bộ làm công tác dự báo. Đồng thời, đẩy mạnh hoạt động hợp tác giữa nước ta với các nước bạn để có thêm cái nhìn đa dạng về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội khu vực và thế giới.

Hai là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về hội nhập quốc tế.

Sự tham gia của nhân dân là yếu tố quan trọng nhất quyết định sự thành bại của quá trìnhhội nhập quốc tế. Bởi vậy, cùng với việc Nhà nước ta xây dựng một chiến lược tổng thể, các bước đi phù hợp, một cơ chế dự báo hiệu quảthì cần đẩy mạnh công tác phổ biến, tuyên truyền sâu rộng đến nhân dân mọi vùng miền trong cả nước.

Nội dung tuyên truyền cần làm rõ những thuận lợi, khó khăn, thời cơ và thách thức, về luật pháp quốc tế, về bảo vệ độc lập, chủ quyền và những nội dung quan trọng liên quan đếnvấn đề hội nhập của Việt Nam. Cần nhận thức rõ đối tượng, vùng miền, thời gian để lựa chọn nội dung, sử dụng cách thức tuyên truyền cho phù hợp.

Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước với cơ cấu hợp lý, đủ về số lượng, tốt về chất lượng, đáp ứng được yêu cầu của hội nhập quốc tế.

Để xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế,Nhà nước cần:

+ Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao bản lĩnh của đội ngũ cán bộ, giúp họ tự tin, dám đương đầu với những khó khăn, thách thức; thực hiện tốt quản lý cán bộ, quán triệt một cách sâu sắc để mỗi cán bộ, đảng viên nắm vững chủ trương, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về hội nhập quốc tế; không chủ quan, nóng vội, theo đuổi những lợi ích cá nhân, lợi ích trước mắt mà lơ là, mất cảnh giác, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo chủ chốt, đối với cấp ủy và người đứng đầu cơ quan, đơn vị.

+Thực hiện tốt các khâu: quy hoạch; đào tạo, bồi dưỡng; bố trí, sử dụng cán bộ và chính sách đối với cán bộ. Trong quy hoạch cán bộ cần coi trọng những người có phẩm chất và năng lực, đủ tiêu chuẩn của chức danh cán bộ; tiếp tục hoàn thiện thông qua đào tạo, bồi dưỡng gắn với bố trí, sử dụng cán bộ đã qua rèn luyện và thử thách trong thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác.

+Coi trọng xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở các cấp, các ngành; tiếp tục đổi mới phong cách lãnh đạo, phương pháp ra nghị quyết, kế hoạch theo hướng ngắn, gọn, thiết thực, mang tính khả thi cao, xác định khâu trọng tâm, trọng điểm để tổ chức thực hiện. Khơi dậy lòng nhiệt thành, sức sáng tạo, sự cống hiến và sự đoàn kết của đội ngũ cán bộ và nhân dân.

+Thực hiện phân cấp, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ cho các ngành, các cấp trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Tập trung thực hiện các biện pháp phòng, chống “bệnh” quan liêu, tham nhũng, lãng phí một cách hiệu quả. Thực hiện tốt chế độ công khai, minh bạch về kinh tế, tài chính trong các cơ quan hành chính, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước cũng như các dự án đầu tư, xây dựng cơ bản, mua sắm từ ngân sách nhà nước.

Đồng thời, Nhà nước cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách chính sách tiền lương, thu nhập, chính sách đãi ngộ, chính sách nhà ở,... nâng cao đời sống của cán bộ, công chức, viên chức; khuyến khích, nêu gương những cá nhân tiêu biểu, liêm khiết, trong sạch trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và hội nhập quốc tế.

Bốn là,nâng cao hiệu quả, hiệu lực của bộ máy nhà nước, đổi mới phương thức quản lý nhằm phát huy mọi nguồn lực trong quá trình hội nhập.

Đối với Việt Nam, quá trình hội nhập quốc tế đang diễn ra ngày càng sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã và đang đặt ra những nhiệm vụ mới hết sức nặng nề, cơ hội và thách thức đan xen, tác động qua lại lẫn nhau. Để thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ đó, việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước, đổi mới toàn diện phương thức quản lý nhằm phát huy sức mạnh mọi nguồn lực bên trong và nguồn lực bên ngoài càng trở nên quan trọng. Với ý nghĩa đó, Nhà nước cần tiếp tục:

+Rà soát lại các thủ tục hành chính, từng bước loại bỏ các thủ tục không còn phù hợp; đẩy nhanh tiến độ ra quyết định của các cơ quan nhà nước; thực hiện công khai, minh bạch mọi chính sách, cơ chế quản lý, quy trình tác nghiệp, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và nhân dân giám sát việc thực hiện của các cơ quan nhà nước.

+ Quy định rõ ràng trách nhiệm, thời gian xử lý công việc của từng cơ quan, ban ngành, từng cá nhân, doanh nghiệp để hạn chế được tình trạng gây phiền hà, sách nhiễu đối với người dân, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư tại Việt Nam.

Thực hiện tốt những nội dung nêu trên sẽ tạo ra bước tiến quan trọng,căn bản phát huy vai trò của Nhà nước, tận dụng được cơ hội, đẩy lùi và vượt qua thách thức, đưa hội nhập quốc tế của Việt Nam gặt hái những thành công.

Năm là, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật về hội nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm lợi ích quốc gia dân tộc và phù hợp với những quy định và luật pháp quốc tế.

So với nhiều nước, Việt Nam hội nhập quốc tế muộn hơn và với một nền kinh tế đang phát triển, quy mô nhỏ bé, sức cạnh tranh yếu, dễ bị tổn thương dưới những tác động bất lợi từ bên ngoài,... Trong khi đó, cạnh tranh hàng hóa và thương mại ngày càng khốc liệt. Để hàng hóa và doanh nghiệp Việt Nam không bị “thua thiệt ngay trên sân nhà”; tạo môi trường pháp lý thuận lợi để Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế và giải quyết tốt cơ hội và thách thức tronghội nhập kinh tế quốc tế, việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về hội nhập kinh tế quốc tế cần thực hiện tốt một số nội dung sau:

+Kịp thời rà soát, ban hành, sửa đổi và bổ sung hệ thống pháp luật về hội nhập kinh tế quốc tế đáp ứng yêu cầu và tạo điều kiện tiếp tục phát huy vai trò của Nhà nước.

+ Tìm hiểu các văn bản luật pháp quốc tế có liên quan đến quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; đồng thời nghiên cứu học hỏi những quy định luật pháp tiên tiến của các nước phát triển đểhoàn thiện pháp luật Việt Nam.

+ Xử lý nghiêm những hành vi vi phạm chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc, xâm phạm đến lợi ích nhà nước, doanh nghiệp và người lao động; đề cao kỷ luật, kỷ cương trong các hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Kết luận, với quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước và toàn dântalà tiếp tục đưa đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng, toàn diện vào nền kinh tế thế giới, dù trong điều kiện, hoàn cảnh nào, Nhà nước ta vẫn luôn phát huy vai trò của một nhà nước pháp quyền XHCN; nắm vững và thực hiện tốt quan điểm của Đảng là kiên quyết giữ vững độc lập, tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, vững bước tiến lên CNXH, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

_______________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 4-2017

(1) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.235-236.

(2) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.35.

 

TS Đinh Nguyễn An

Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam

 

Các bài viết khác