Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị - ý nghĩa với Việt Nam hiện nay
Thứ ba, 06 Tháng 11 2018 16:37
116 Lượt xem

Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị - ý nghĩa với Việt Nam hiện nay

(LLCT) - Kinh tế và chính trị là hai lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội, có tác động trực tiếp đến những hoạt động cơ bản của con người cũng như quá trình phát triển của loài người. Do đó, khi nghiên cứu về quá trình vận động, phát triển của xã hội loài người, C.Mác và Ph.Ăngghen đã bàn đến khá nhiều vấn đề kinh tế, chính trị và mối quan hệ của chúng. Việc nghiên cứu quan điểm của C.Mácvà Ph.Ăngghenvề mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị là cơ sở phương pháp luận để xem xét việc giải quyết mối quan hệ này ở Việt Nam hiện nay.

1. Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị

C.Mác và Ph.Ăngghen không có một tác phẩm riêng nào bàn về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị. Các quan điểm lý luận về quan hệ giữa kinh tế và chính trị được các ông thể hiện trong nhiều tác phẩm khác nhau, được viết vào các thời kỳ khác nhau và được rút ra khi phân tích những sự kiện cụ thể khác nhau. Vì vậy, để hiểu đúng tinh thần, tư tưởng của các ông về vấn đề này, cần đặt chúng trong bối cảnh chung của toàn bộ học thuyết Mác.

Về khái niệm kinh tế: Theo C.Mác, muốn tồn tại, con người cần phải ăn, uống, mặc, ở, đi lại... Tất cả những hoạt động gián tiếp hoặc trực tiếp tạo ra những thứ thỏa mãn nhu cầu đó đều thuộc về kinh tế. Trong quá trình sản xuất, con người không thể tiến hành sản xuất một cách biệt lập, riêng lẻ, trái lại, muốn sản xuất, con người chẳng những phải có quan hệ với tự nhiên mà còn phải có quan hệ với nhau. “Người ta không thể sản xuất được, nếu không biết hợp tác với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau. Muốn sản xuất được, người ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau; và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là việc sản xuất, chỉ diễn ra trong khuôn khổ những mối liên hệ và quan hệ xã hội đó”(1). Khái niệm “kinh tế” theo quan điểm của C.Mác, chứa đựng trong nó cả những quan hệ giữa con người với tự nhiên và quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất vật chất. Do đó, kinh tế là toàn bộ hoạt động sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng của cải và những quan hệ giữa con người với con người, giữa con người và tự nhiên, giữa xã hội và tự nhiên.

Về khái niệm chính trị: C.Mác khẳng định: “Toàn bộ những quan hệ ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó”(2). Điều này cho thấy, chính trị được C.Mác xem xét dưới khía cạnh kiến trúc thượng tầng chính trị, trong đó bao hàm ý nghĩa quyền tác động, chi phối, thống trị của một giai cấp đối với toàn bộ xã hội. Nói cách khác, chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, giữa các quốc gia có liên quan đến vấn đề giành, giữ và sử dụng chính quyền nhà nước. Để làm sáng tỏ thêm điều này,Ph.Ăngghen khẳng định, nhà nước không phải là một quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào xã hội. Nó càng không phải là cái “hiện thực của ý niệm đạo đức”, là “hình ảnh và hiện thực của lý tính” như quan điểm Hêghen. Trái lại, nhà nước là sản phẩm của một xã hội đã phát triển tới một giai đoạn nhất định; nó là sự thể hiện rằng xã hội đó đang ở trong một mâu thuẫn không thể giải quyết được; rằng xã hội đó đã bị phân chia thành những mặt đối lập không thể điều hòa mà xã hội đó bất lực không sao loại bỏ được. Nhưng muốn cho những mặt đối lập đó, những giai cấp có lợi ích kinh tế mâu thuẫn đó, không đi đến chỗ tiêu diệt nhau và tiêu diệt luôn cả xã hội trong một cuộc đấu tranh vô ích, thì cần phải có một lực lượng cần thiết, tựa hồ như đứng trên xã hội, có nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho sự xung đột đó nằm trong vòng trật tự, và lực lượng đó nảy sinh ra từ xã hội, nhưng lại đứng lên trên xã hội và ngày càng xa rời xã hội. Đó chính là nhà nước(3).

Về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị: Trong những tác phẩm đầu tiên của mình như “Phê phán triết học pháp quyền của Hêghen”, “Hệ tư tưởng Đức”, “Gia đình thần thánh”… C.Mác và Ph.Ăngghen đã bác bỏ những quan niệm duy tâm, siêu hình về lịch sử nói chung, về vai trò của kinh tế đối với chính trị nói riêng. Theo các ông, trước hết con người phải có khả năng sống đã rồi mới có thể “làm ra lịch sử”. Nhưng muốn sống được thì trước hết cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa(4). Để có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo để mặc; con người phải lao động sản xuất để tạo ra những tư liệu nhằm thoả mãn những nhu cầu tối thiểu ấy. Đó chính là hành vi lịch sử đầu tiên: “Hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất trong những tư liệu để thỏa mãn những nhu cầu ấy, là việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất. Hơn nữa, đó là một hành vi lịch sử, một điều kiện cơ bản của mọi lịch sử mà (hiện nay cũng như hàng nghìn năm về trước) người ta phải thực hiện hàng ngày, hàng giờ, chỉ nhằm để duy trì đời sống con người”(5). Việc sản xuất ra đời sống của bản thân con người bằng lao động sản xuất tạo nên một quan hệ kép - quan hệ song trùng: một mặt là quan hệ tự nhiên và mặt khác là quan hệ xã hội. Theo C.Mác, những quan hệ ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội mà trên đó con người xây dựng lên kiến trúc thượng tầng, trong đó có thượng tầng về chính trị: “Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người ta có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tuỳ thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ. Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực, trên đó xây dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị”(6). Như vậy, kinh tế có vai trò quyết định chính trị.

Theo tinh thần đó của C.Mác, trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, Ph.Ăngghen đã phê phán quan điểm cho rằng chính trị quyết định kinh tế và dẫn chứng, phân tích bằng thí dụ cụ thể về bạo lực. Ph.Ăngghen khẳng định: bạo lực cũng do tình trạng kinh tế quyết định; tình trạng kinh tế tạo cho bạo lực những phương tiện để vũ trang; toàn bộ việc tổ chức và phương pháp chiến đấu của quân đội, thắng lợi và thất bại đều phụ thuộc vào những điều kiện vật chất, điều kiện kinh tế, vào nhân lực và vũ khí, nghĩa là vào chất lượng và số lượng của dân cư và cả kỹ thuật. Không phải chính trị mà là “không có ngoại lệ và không thương xót, sự phát triển kinh tế cứ tự mở đường đi cho nó” và do đó kinh tế luôn có vai trò quyết định đối với chính trị. Theo Ph.Ăngghen, “Phải tìm những nguyên nhân cuối cùng của tất cả những biến đổi xã hội và những đảo lộn chính trị không phải trong đầu óc người ta, không phải ở nhận thức ngày càng tăng thêm của người ta..., mà là trong những biến đổi của phương thức sản xuất và phương thức trao đổi; cần phải tìm những nguyên nhân đó không phải trong triết học, mà là trong kinh tế của thời đại tương ứng”(7).

Tóm lại, tất cả các yếu tố của chính trị, từ giai cấp và đấu tranh giai cấp, nhà nước, chính đảng và hoạt động nhà nước, đến những quan điểm chi phối các hoạt động đó đều có nguồn gốc từ kinh tế. Vì thế, cần phải lấy những quan hệ kinh tế và sự tiến triển của những quan hệ ấy để giải thích chính trị và lịch sử chính trị, chứ không phải ngược lại. Khẳng định này của Ph.Ăngghen là sự tiếp tục quan điểm của C.Mác trước đó về vai trò quyết định của kinh tế đối với chính trị. Điều đó cho thấy quan điểm duy vật triệt để của C.Mác và Ph.Ăngghen khi xem xét các vấn đề lịch sử, xã hội - điều mà các nhà triết học duy vật trước đó chưa có được.

Không chỉ khẳng định vai trò quyết định của kinh tế với chính trị; C.Mác và Ph.Ăngghen luôn nhấn mạnh tính độc lập tương đối và sự tác động trở lại của chính trị đối với kinh tế. Điều này trước hết được thể hiện ở chỗ, thắng lợi của chính trị là tiền đề, điều kiện tiên quyết cho phát triển kinh tế. Việc giành lấy lợi ích chính trị không có mục đích tự thân, mà chỉ là phương thức, phương tiện để đạt lợi ích kinh tế và củng cố lợi ích kinh tế. Nói cách khác, đấu tranh giành lợi ích chính trị cũng nhằm phục vụ cho việc giành lợi ích kinh tế, bảo vệ lợi ích kinh tế. Do đó, C.Mác đã cho rằng, trong cách mạng vô sản, để bảo đảm sự thống trị về mặt kinh tế của giai cấp công nhân, điều kiện đầu tiên là phải đập tan bộ máy nhà nước tư sản, thiết lập quyền lực nhà nước của giai cấp vô sản, vì “việc giải phóng giai cấp công nhân về mặt kinh tế là mục tiêu vĩ đại mà bất kỳ phong trào chính trị nào cũng đều phải phục tùng”(8). Tính độc lập tương đối của chính trị so với kinh tế còn được thể hiện ở chỗ, chính trị tạo môi trường chính trị - xã hội ổn định, đáp ứng những điều kiện cần thiết cho sự phát triển của kinh tế. Nói cách khác, chính trị lãnh đạo kinh tế, vạch hướng đi cho kinh tế, tạo những điều kiện chính trị, xã hội cho kinh tế phát triển. C.Mác khẳng định: “Tất cả các chính phủ, ngay cả những chính phủ chuyên chế nhất, xét đến cùng, chỉ là người thực hiện tính tất yếu kinh tế bắt nguồn từ tình hình đất nước... họ có thể đẩy nhanh hoặc làm chậm sự phát triển kinh tế cùng với những hệ quả về chính trị và pháp luật bắt nguồn từ sự phát triển kinh tế ấy”(9).

Như vậy, trên lập trường duy vật về lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phân tích cụ thể và thấu đáo mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trên cả hai mặt. Quan điểm đó tuy được C.Mác và Ph.Ăngghen đưa ra trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể nhưng nó là cơ sở lý luận quan trọng để Đảng ta xem xét, giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong giai đoạn hiện nay.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong giai đoạn hiện nay

Từ khi đổi mới (năm 1986) đến nay, trên cơ sở nhận thức chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, quan điểm của C.Mác vàPh.Ăngghen về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị nói riêng; Đảng ta đã chủ trương đổi mới toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có đổi mới cả kinh tế và chính trị. Qua hơn 30 năm đổi mới, trong cả nhận thức và thực tiễn giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam đã có nhiều biến chuyển theo hướng ngày càng sáng rõ, hợp lý hơn. Về quan điểm, Đảng ta chủ trương “Kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị”(10). Kế thừa tinh thần của các kỳ Đại hội trước, Đại hội XII (năm 2016) nhấn mạnh mục tiêu và nhiệm vụ phát triển đất nước trong 5 năm tới là: “đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ, có bước đi phù hợp trên các lĩnh vực, nhất là giữa kinh tế và chính trị”(11).

Khái niệm “đổi mới kinh tế” qua các Văn kiện của Đảng được hiểu là quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung, bao cấp chủ yếu dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và tập thể sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là bước chuyển từ nền kinh tế cơ bản là “khép kín” sang nền kinh tế “mở” đối với khu vực và thế giới, kết hợp tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái và từng bước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Khái niệm “đổi mới chính trị” qua các Văn kiện của Đảng được hiểu là quá trình đổi mới tư duy chính trị về chủ nghĩa xã hội; đổi mới cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị, trước hết là đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa nhằm giữ vững ổn định chính trị để xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ngày càng vững mạnh; thực hiện tốt nền dân chủ xã hội chủ nghĩa nhằm phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế - xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thực tiễn đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam sau hơn 30 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử.

Về đổi mới kinh tế, nhờ thực hiện chủ trương “lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm”, tập trung giải quyết những vấn đề cấp thiết của nhân dân về sản xuất và đời sống, giải phóng sức sản xuất, hình thành và phát huy vai trò của hệ thống động lực…, nước ta đã thoát khỏi tình trạng trì trệ và khủng hoảng về kinh tế - xã hội vốn kéo dài nhiều năm; hơn thế, còn tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, ổn định và liên tục, mở rộng các quan hệ hợp tác kinh tế với nhiều quốc gia và tổ chức kinh tế quốc tế…, tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với sự đa dạng của các hình thức sở hữu, các hình thức phân phối, trong đó lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, cũng như mô hình quản lý theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác lập và bước đầu vận hành thông suốt.

Về đổi mới chính trị, việc đổi mới về thể chế, tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động được thực hiện đồng bộ trong các cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức đoàn thể khác thuộc hệ thống chính trị theo hướng dân chủ hóa; khắc phục và loại bỏ cơ chế tập trung quan liêu, hành chính mệnh lệnh, xơ cứng, giáo điều, tách rời và cản trở sự phát triển của kinh tế. Đánh giá ảnh hưởng tích cực của đổi mới chính trị đối với kinh tế, Đảng ta khẳng định: “Những kết quả đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới tư duy, chính sách, pháp luật đến tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước tuy mới là bước đầu, song đã tạo nền tảng vững chắc cho đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh(12).

Như vậy, với việc kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị, nước ta vừa thúc đẩy được nền kinh tế của đất nước phát triển theo quy luật khách quan, vừa tạo nên sự năng động, tích cực trong tư duy, tư tưởng và đời sống tinh thần nói chung của xã hội, làm cho con người được thực sự tự do và có điều kiện phát huy tính chủ động, sáng tạo của mình. Hai quá trình đó có quan hệ biện chứng với nhau, tạo nên sức mạnh giúp chúng ta có cơ sở thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước.

Bên cạnh những thành tựu đạt được, quá trình đổi mới đất nước nói chung và đổi mới kinh tế, chính trị ở nước ta nói riêng vẫn còn những bất cập, hạn chế. Đại hội XII của Đảng đã chỉ rõ: “Nền kinh tế chủ yếu vẫn phát triển theo chiều rộng, tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố về vốn, tài nguyên, lao động trình độ thấp, chưa dựa vào tri thức và khoa học công nghệ, thiếu nhiều lao động có kỹ năng”(13). Ngoài ra, đổi mới chính trị còn chậm và hiệu quả còn thấp: “Tổ chức bộ máy của Đảng và toàn hệ thống chính trị còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc; chức năng, nhiệm vụ ở một số tổ chức còn chồng chéo; hiệu lực, hiệu quả hoạt động của nhiều tổ chức trong hệ thống chính trị chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ,... Việc kiện toàn tổ chức, bộ máy các cơ quan, tổ chức nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội gắn với tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức kết quả còn thấp. Số lượng cán bộ, công chức không những không giảm mà lại tăng...”(14).

Để tiếp tục đổi mới kinh tế và chính trị có hiệu quả, cần vận dụng một số nguyên tắc có tính phương pháp luận như sau:

Thứ nhất, nhận thức đúng vấn đề có tính quy luật là mọi sự biến đổi của chính trị đều là sự phản ánh sự biến đổi của kinh tế, do kinh tế quyết định. Vì vậy, phải xuất phát từ đổi mới kinh tế mà tiến tới đổi mới chính trị; hay nói cách khác, phải xuất phát từ thực tiễn xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà đổi mới chính trị cho phù hợp. Đồng thời, cũng cần tích cực đổi mới chính trị, phát huy vai trò định hướng, dẫn dắt của chính trị đối với kinh tế thông qua các cơ chế, chính sách phù hợp. Tuy nhiên, chính trị là lĩnh vực nhạy cảm và phức tạp nên đổi mới chính trị phải thận trọng, có bước đi phù hợp, tiến hành từng bước.

Thứ hai, đặt mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong các mối quan hệ khác của quá trình đổi mới. Ở Đại hội XII, Đảng ta đã coi kinh tế và chính trị là một trong chín mối quan hệ cơ bản của quá trình đổi mới. Tuy các mối quan hệ có nội dung, bản chất khác nhau song chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Do đó, cần kết hợp hài hòa việc giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị với các mối quan hệ khác. Vì kinh tế và chính trị là hai lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội nên giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là điều kiện giải quyết các mối quan hệ khác. Do vậy, “trong thời kỳ đổi mới cần giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị theo hướng thiết lập và hoàn thiện thể chế kinh tế - chính trị - xã hội thống nhất, hài hòa; xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại, đầy đủ, hội nhập quốc tế; xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, phù hợp, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; phát huy đầy đủ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thông qua nâng cao chất lượng chế độ dân chủ đại diện và ngày càng coi trọng các hình thức dân chủ trực tiếp”(15).

Thứ ba, cần giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị gắn với điều kiện lịch sử - cụ thể. Không phải ngẫu nhiên mà trong suốt 30 năm đổi mới, quan điểm về đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị từng bước được điều chỉnh cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử nhất định. Sự vận động của thực tiễn ở mỗi giai đoạn đã đặt ra cho Đảng ta yêu cầu phải có những điều chỉnh cho phù hợp. Trong giai đoạn hiện nay, giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị cần được đặt trong bối cảnh mới - tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0. Từ đó, có những chủ trương, chính sách cho phù hợp với đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị.

_________________

(1)Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen:  Toàn tập, t.6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr. 552.

(2) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr. 15.

(3) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr. 252-253.

(4), (5), (6) Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen:  Toàn tập, t. 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr. 40, 40, 14-15.

(7) C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, t.20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 371.

(8) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.16, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.24.

(9) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.38, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.488.

(10) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 1996, tr.71.

(11), (13), (14) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.193-194, 84, 193-194.

(12) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr. 38.

 

TS Lê Thị Chiên

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh