Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Phát triển con người Việt Nam - Một số điểm nhấn về cơ sở lý luận và thực tiễn
Thứ ba, 24 Tháng 12 2019 15:09
314 Lượt xem

Phát triển con người Việt Nam - Một số điểm nhấn về cơ sở lý luận và thực tiễn

(LLCT) -  Việc xây dựng con người Việt Nam trong phát triển bền vững hiện nay cần được dựa trên trên cơ sở lý luận và thực tiễn chắc chắn. Đó là yêu cầu cấp bách khi đặt trong hoàn cảnh thế giới nói chung đang cho thấy rõ con người luôn luôn là trung tâm của sự phát triển. Thực tế cho thấy rằng, không phải lúc nào sự tăng trưởng về kinh tế là thuận chiều cùng sự phát triển con người. Bài viết tập trung làm rõ những điều kiện bảo đảm phát triển con người Việt Nam hiện nay; giải pháp khắc phục những tác động nghịch chiều và phát huy những tác động thuận chiều trong phát triển con người.

 

1. Một số điểm nhấn về cơ sở lý luận

Phát triển con người phải dựa trên cơ sở lý thuyết của sự phát triển, trong đó có vấn đề thời cơ bứt phá của sự vật. Con người là chủ thể sáng tạo văn hóa, đồng thời là sản phẩm của văn hóa do mình sáng tạo. Trong cấu trúc của văn hóa, con người là trung tâm, là chủ thể trong mọi hoạt động sống; là nhân tố quyết định cho sự tiến bộ hay sự thụt lùi của xã hội.

Lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, làm kim chỉ nam cho đường lối và chiến lược phát triển, Đảng Cộng sản (ĐCS) Việt Nam đã đề ra và lãnh đạo thực hiện đường lối và nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển con người Việt Nam. Đó là con người phát triển toàn diện về trí lực, thể lực, khả năng lao động, tính tích cực chính trị - xã hội; lý tưởng sống, lối sống, đạo đức và bản lĩnh chính trị...

Để có nguồn nhân lực chất lượng cao thì mỗi người lao động phải bảo đảm các yêu cầu cơ bản sau: (1) Có sức khỏe thể lực, sự dẻo dai và tâm lý tốt; (2) Trình độ về mọi mặt phải luôn luôn được nâng cao; (3) Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ luôn luôn được bảo đảm để hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ của mình; (4) Có văn hóa nghề nghiệp; (5) Có khả năng sáng tạo cao; (6) Có khả năng thích ứng với tình trạng nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng khan hiếm và sự sụt giảm các nguồn đầu tư tài chính; (7) Có phẩm chất đạo đức tốt.

Muốn cạnh tranh thì phải có sức mạnh, có thế mạnh, biết nắm lấy mọi cơ hội thuận lợi của Thiên - Địa - Nhân  để có được thế chân vạc Thời - Thế - Lực.  Con người Việt Nam trong cuộc sinh tồn và phát triển phải bằng sức mạnh cạnh tranh hun đúc từ sức mạnh nội tại kết hợp với yếu tố bên trong và bên ngoài, biến ngoại lực thành nội lực. Để làm được những công việc đó thì cần những con người có đủ phẩm chất và năng lực, đưa dân tộc tiến vào xã hội XHCS (giai đoạn thấp là xã hội XHCN), nơi mà con người được phát triển tự do, toàn diện. Theo C.Mác và Ph.Ăngghen: sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người.

Việt Nam đang đứng trước thời cơ lớn của sự phát triển. Thời cơ là tình huống cụ thể xảy ra trong một thời gian nhất định, nó chứa đựng những thuận lợi để đạt được mục tiêu một cách tốt nhất. Thời cơ có được do cả điều kiện khách quan và chủ quan. Con người có thể tích cực, chủ động tạo thời cơ đến. Thời cơ được chế định trong một khoảng thời gian nhất định, không kéo dài vô tận. Theo đó, thời cơ phát triển đất nước diễn ra trong khoảng 10 năm tới, với việc vượt qua bẫy thu nhập trung bình và đất nước về cơ bản chạm tới mức CNH, HĐH. Chính vì thế, trong hành động, nếu để vuột mất thời cơ thì bước tiến của một quốc gia có thể bị trả giá, chậm lại, tụt hậu trong dòng chảy chung của nhân loại, thậm chí bị dừng lại.

Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định, CNH, HĐH gắn với phát triển tri thức trong toàn cầu hóa là con đường tất yếu, trong đó, đặc biệt chú trọng vai trò của khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, tiếp tục coi đó là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng nhất. CNH, HĐH ở mỗi quốc gia cần phải có các nguồn lực phát triển, trong đó, nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết định trong sự phát triển bền vững của mọi quốc gia từ trước đến nay. Nếu một đất nước có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc, kỹ thuật hiện đại nhưng không có con người có phẩm chất đạo đức, có trình độ, có khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có khả năng đạt được sự phát triển như mong muốn. Thực tế lịch sử phát triển của các quốc gia trên thế giới cho thấy rất rõ điều này. Có nước nhiều cánh đồng phì nhiêu nhưng con người vẫn đói nghèo. Có nước nhiều mỏ kim cương, mỏ vàng nhưng vẫn lạc hậu, đói kém, v.v. Đây là bi kịch của các quốc gia - dân tộc bị nô dịch (ngoại xâm) hoặc do thiên tai tàn khốc, và con người (trong đó có giới lãnh đạo, cầm quyền) còn hạn chế về nhiều mặt. Ngược lại, có nước hầu như không có tài nguyên khoáng sản tự nhiên nào đáng kể, nhưng lại giàu có vì những nước đó có tài nguyên con người - đội ngũ có đức - tài, biết cách làm cho đất nước mạnh giàu bằng trí tuệ và nhân cách của mỗi cá nhân, bằng tài trí, bản lĩnh và tầm nhìn của những người cầm quyền, lãnh đạo, quản lý.

Hiện nay, xu thế toàn cầu hóa đang tác động mạnh mẽ tới các quốc gia trên thế giới, nhân loại đã bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, hàm lượng chất xám ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong mỗi sản phẩm làm ra, con người càng chứng tỏ vai trò quyết định của mình trong tiến trình phát triển của xã hội, của lịch sử nhân loại. CNH, HĐH trong toàn cầu hóa là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng nhằm phấn đấu sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, “tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức, lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu; huy động và phân bổ có hiệu quả mọi nguồn lực phát triển”(1).

Việt Nam đang và sẽ chịu tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa. Về kinh tế, có nhiều công ty nước ngoài vào đầu tư, thương mại phát triển xuyên biên giới. Việt Nam gia nhập các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực, đó là cơ hội phát triển của các ngành kinh tế, trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt. Toàn cầu hóa cũng làm cho sự phân hóa giàu nghèo cũng như sự chênh lệch về thu nhập, mức sống ngày càng tăng. Về tác động xã hội, toàn cầu hóa đã mang lại nhiều cơ hội cho Việt Nam giao lưu với các nước trên thế giới, mở rộng quan hệ kinh tế, chính trị, ngoại giao. Tuy nhiên, Việt Nam cũng giống như nhiều nước khác trên thế giới đang đứng trước những hiểm họa của thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường. Những tác động đó cùng với một số hiện tượng tiêu cực trong xã hội đã làm ảnh hưởng đến lòng tin của dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Về tác động văn hóa, cùng với việc phục hồi, phát huy các giá trị văn hóa, nền văn hóa Việt Nam có điều kiện tiếp thu các giá trị mới của nền văn hóa thế giới và ngày càng trở nên đa dạng, phong phú. Tuy nhiên, những hệ quả tiêu cực như: một số giá trị văn hóa truyền thống không được bảo tồn, gìn giữ; thay đổi nhanh chóng lối sống, tha hóa đạo đức, nhân cách cũng xuất hiện.

Cục diện chính trị thế giới thay đổi tác động đến nhiều vấn đề khác mà con người Việt Nam cần thích ứng. Thế giới hiện nay đang trong giai đoạn biến động và ẩn chứa nhiều yếu tố rủi ro khó lường. Mỗi nước hiện nay khi phát triển cần mở cửa, hội nhập, chủ yếu là kinh tế, nhưng cần chú ý nền tảng văn hóa theo nghĩa rộng nhất của khái niệm này. Mất cốt cách/bản sắc văn hóa dân tộc - quốc gia thì cũng đồng thời mất luôn dân tộc - quốc gia, mặc dù kinh tế phát triển vượt bậc.

Thế giới đang và sẽ trở nên bất an hơn bao giờ hết, khi tiếp tục có những sự xung đột dân tộc, khu vực, tôn giáo (ngay cả xung đột “anh em” cùng hệ tư tưởng...); ranh giới giữa chiến tranh chính nghĩa và phi nghĩa chuyển cực; giữa chủ quyền và nhân quyền; giữa sự can thiệp cần thiết của các tổ chức quốc tế với việc vi phạm bốn yếu tố quyền dân tộc cơ bản của mỗi quốc gia (độc lập - chủ quyền - thống nhất- toàn vẹn lãnh thổ) trở nên mong manh, khó phân biệt hơn bao giờ hết. Thế giới càng trở nên bất an hơn bởi chủ nghĩa khủng bố, nguy cơ tiềm tàng vũ khí hạt nhân.

Thế giới bị tàn phá bởi chính con người trong nỗ lực tìm mọi cách tăng trưởng kinh tế mà chưa chú ý đúng mức cũng như không giải quyết được các vấn đề khác, trong đó có vấn đề môi trường sinh thái để phát triển bền vững. Hội nghị Thượng đỉnh trái đất về môi trường và phát triển họp tại Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững họp tại Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi) năm 2002 đã xác định rằng, phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế); phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm); bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường, phòng chống nạn chặt phá rừng, khai thác hợp lý và sử dụng có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên hóa thạch). Những thỏa thuận đạt được tại Hội nghị Liên Hợp quốc về biến đổi khí hậu COP 21 Pari (Pháp, 2015) giữa 195 nước tham dự cho thấy tầm quan trọng của vấn đề phát triển bền vững khi trái đất nóng dần lên.

Hội nghị của Liên Hợp quốc về Môi trường và Phát triển họp ở Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992: Phát triển bền vững là một sự phát triển thoả mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm hại tới khả năng đáp ứng những nhu cầu của các thế hệ tương lai. Hiệp định Kyoto cũng phản ánh quan niệm đó. Hội nghị Copenhaghen (Đan Mạch, 2009) về biến đổi khí hậu bế tắc, gióng thêm một tiếng chuông cảnh báo nữa. Đó là mặt trái của sự tăng trưởng kinh: sự hủy diệt về môi trường sinh thái và sự hủy diệt từ sự thoái hóa đáng lo ngại của đạo đức con người.

Trong giai đoạn hiện nay, thời cơ, thách thức, nguy cơ có những nội dung, biểu hiện mới. Việt Nam bước vào một môi trường rộng mở hơn, đã gia nhập nhiều tổ chức quốc tế. Ở môi trường rộng lớn này, con người Việt Nam có thể phát triển nhanh hơn trước. Sau hơn 30 năm tiến hành đổi mới, thế và lực của Việt Nam đã mạnh lên nhiều, biểu hiện ở tốc độ tăng trưởng GDP hằng năm, quyết tâm đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển trong lãnh đạo của Đảng; trình độ, tư duy bắt nhịp kịp với tư duy phát triển của thế giới.

Thách thức, nguy cơ trong giai đoạn hiện nay cũng nằm trong thời cơ. Chưa bao giờ Việt Nam đứng trước những thuận lợi của Thiên - Địa - Nhân như hiện nay. Nếu bỏ lỡ thời cơ trong khoảng thời gian một, hai thập kỷ tới là Việt Nam tự hủy bỏ cái thế phát triển, và như vậy từ bỏ luôn cả Thời và Thế. Do vậy, rất có thể dẫn đến Lực cũng bị hạn chế đi rất nhiều và tụt hậu ngày càng xa.

Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước cho đến nay đã trải qua hơn 30 năm với 7 khóa Đại hội của Đảng. Trong giai đoạn hiện nay, càng thấy rõ hơn một điều rằng, sự nghiệp đổi mới đứng trước thời cơ, thách thức và nguy cơ lớn mà nếu Đảng ta biết nắm lấy thời cơ, vượt qua thách thức, đề phòng và khắc phục được nguy cơ, thì đất nước sẽ phát triển nhanh và bền vững. Điều này phụ thuộc vào chính yếu tố con người.

2. Một số điểm nhấn về thực tiễn

Thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng trong hơn 30 năm qua về đổi mới toàn diện đất nước, phát triển con người, con người Việt Nam không ngừng phát triển cả về thể lực, trí lực và tâm lực; có ý thức và khả năng làm chủ ngày càng cao; chỉ số HDI có xu hướng tăng đều và khá ổn định, cả về giá trị tuyệt đối và tương đối. Báo cáo phát triển con người năm 2013 của UNDP xếp Việt Nam vào danh sách hơn 40 quốc gia đang phát triển đạt được nhiều tiến bộ hơn cả về phát triển con người trong những thập niên gần đây. Song, trong bối cảnh hiện nay, nhân loại đã và đang có những bước tiến rất dài trong chiến lược và thực tiễn phát triển con người. Cùng với đó, sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, của xu thế hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức đòi hỏi chúng ta phải có sự phát triển nhanh về chất lượng con người Việt Nam để đáp ứng yêu cầu của phát triển bền vững.

Bên cạnh đó, việc xây dựng con người còn nhiều yếu kém, bất cập. Có thể thấy rõ ở mấy điểm: thể lực con người Việt Nam chưa tốt, mặt bằng dân trí chưa cao, trình độ chuyên môn và trình độ khoa học, kỹ thuật của người lao động thấp, tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm chưa cao; tính sáng tạo và khả năng thích ứng với những biến đổi mới trong lao động và cuộc sống chưa tốt; tinh thần học hỏi và chí tiến thủ còn yếu...

Nhiều vấn đề khác, như: sự chênh lệch về mức sống và điều kiện sống của người dân giữa các vùng, miền, các dân tộc, các bộ phận dân cư; tình trạng thất nghiệp; tình trạng mất dân chủ làm cho quyền của một bộ phận không nhỏ nhân dân bị vi phạm; sự yếu kém về y tế và công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng; sự yếu kém, bất cập trong giáo dục - đào tạo; nạn ô nhiễm môi trường, bệnh dịch; đặc biệt là sự xuống cấp về văn hóa, sự suy thoái về đạo đức, lối sống, nhân cách mà Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng đã khẳng định: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội có chiều hướng gia tăng”(2), “Tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn”(3)... Điều này đã và đang trở thành lực cản và là thách thức rất lớn cho sự nghiệp xây dựng, phát triển con người Việt Nam trong tình hình mới.

Sự suy thoái về chính trị, tư tưởng được biểu hiện ở sự suy giảm bản lĩnh chính trị, phai nhạt lý tưởng, bàng quan với các vấn đề xã hội; thái độ thờ ơ, vô trách nhiệm đối với sự nghiệp cách mạng, thấy việc đúng không tích cực ủng hộ, thấy tiêu cực cũng không dám đấu tranh. Đã có một bộ phận quần chúng dao động, hoài nghi về lý tưởng cách mạng, ủng hộ con đường đi lên CNTB. Nguy hại hơn là hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên bị chệch hướng, mất niềm tin vào chế độ, suy thoái về chính trị, tư tưởng, dẫn đến quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, vi phạm dân chủ... Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng ta nêu rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp. Nhiều tổ chức Đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao”(4).

Những giá trị văn hóa, đạo đức lối sống tốt đẹp của dân tộc và con người Việt Nam có nhiều thay đổi, nảy sinh các vấn đề phản giá trị: chủ nghĩa thực dụng; khát vọng cá nhân được đẩy lên cao, dẫn đến lối sống phi nhân tính; tôn sùng tiện nghi vật chất, đồng tiền. Điều này phản ánh bức tranh đạo đức xã hội đang có nguy cơ suy thoái nghiêm trọng. Một bộ phận trong đó có không ít cán bộ, đảng viên, thanh, thiếu niên sống sa đọa, trụy lạc, coi thường chuẩn mực xã hội; vướng vào các tệ nạn xã hội.

Xu hướng xem thường, phủ nhận các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ vẫn tồn tại. Từ Đại hội VI, Đảng ta đã nhận định: trong xã hội ta đang diễn ra cuộc đấu tranh giữa hai lối sống. Một là, lối sống có lý tưởng, lành mạnh, trung thực, sống bằng lao động của mình, có ý thức tôn trọng và bảo vệ của công, chăm lo lợi ích của tập thể và đất nước. Hai là, lối sống thực dụng, dối trá, ích kỷ, ăn bám, chạy theo đồng tiền. Nhiều người xa rời lý tưởng và đạo đức cách mạng, xa rời các giá trị dân tộc, đề cao tư tưởng thực dụng, cá nhân chủ nghĩa, bất chấp đạo lý và pháp lý. Hội nghị Trung ương 5 Khóa VIII đã đánh giá thực trạng đạo đức, lối sống ở nước ta còn: “Tệ sùng bái nước ngoài, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc”(5). Điều đáng báo động là thực trạng này chưa được ngăn chặn và có chiều hướng gia tăng trong điều kiện mức sống chung của xã hội đã được nâng lên.

Thói quen sản xuất nhỏ, manh mún, tính ỷ lại, tính cục bộ địa phương, chủ nghĩa kinh nghiệm, coi thường pháp luật... còn phổ biến. Hằng số nông dân, nông nghiệp, nông thôn của văn hóa Việt Nam đã quy định những đặc trưng về lối sống, về quan niệm phẩm chất và năng lực của mỗi cá nhân và cộng đồng.

Môi trường văn hóa - xã hội trải qua những biến động mạnh mẽ, to lớn kéo theo nhiều xáo trộn về hệ giá trị, thang giá trị về phẩm chất và năng lực giữa các thế hệ. Những chuẩn mực cũ bị phá bỏ, trong khi giá trị mới chưa được hình thành; cùng với đó là sự tác động của những tiêu cực trong nước và ngoài nước làm lệch lạc những giá trị đạo đức, lối sống truyền thống. Chiến lược xây dựng con người và sự quản lý của Nhà nước về các lĩnh vực văn hóa - xã hội, giáo dục - đào tạo... còn nhiều hạn chế, thiếu bền vững, thiếu tính đồng bộ và liên thông đã làm hạn chế nguồn lực và hiệu quả xây dựng con người Việt Nam. Đó còn là hệ quả của tính chất bảo thủ, trì trệ của thói quen xấu - với tư cách là một dạng ý thức xã hội. Nước ta đi lên CNXH từ một nước nông nghiệp lậc hậu, từng là thuộc địa của thực dân, lại trải qua chiến tranh lâu dài, con người Việt Nam bên cạnh những đức tính, phẩm chất tốt vẫn còn nhiều thói quen xấu: chủ nghĩa cơ hội, bè phái; hám danh; thiếu ý thức tuân thủ pháp luật; lãng phí; khả năng làm việc tập thể chưa cao... Rõ ràng, để tạo dựng được diện mạo con người Việt Nam cho phát triển bền vững, sáng tạo và bao trùm rất cần tiến hành đồng bộ các chương trình, mục tiêu cụ thể, lâu dài.

___________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 8-2019

(1), (3) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.90, 22.

(2) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014, tr.44.

(4) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.22.

(5) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.46.

GS, TS MẠCH QUANG THẮNG

          Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác