Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Bối cảnh lịch sử và hành trình tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh
Thứ ba, 24 Tháng 9 2013 15:18
7140 Lượt xem

Bối cảnh lịch sử và hành trình tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh

(LLCT)- Cách đây hơn một thế kỷ, ngày 5-6-1911, từ bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc bước lên con tàu Amiran Latusơ Tơrêvin sang phương Tây, mang trong mình một khát vọng cháy bỏng tìm đường cứu nước khỏi ách thống trị thực dân phong kiến. Có thể nói, đây là sự kiện lịch sử quan trọng, là bước mở đầu để Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc trở thành lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam sau này. Sự kiện này có ý nghĩa và tầm vóc lớn lao đối với tiến trình giải phóng dân tộc Việt Nam.

1. Hướng tới chân trời mới

Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, sau khi hoàn thành bình định về quân sự, chúng thi hành chính sách “khai thác thuộc địa” hết sức tàn bạo đối với nước ta, gây ra sự biến động to lớn về chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam, làm thay đổi kết cấu giai cấp, đảo lộn cuộc sống mọi tầng lớp nhân dân. Việt Nam từ một nước phong kiến độc lập trở thành nước thuộc địa nửa phong kiến.

Dưới ách cai trị của thực dân Pháp, đời sống các tầng lớp nhân dân ngày càng bị bần cùng hoá. Mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và chế độ thuộc địa ngày một gay gắt, trở thành mâu thuẫn vừa cơ bản, vừa chủ yếu. Bên cạnh đó, mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ ngày càng gia tăng. Những mâu thuẫn trên trở thành lực cản kìm hãm sự phát triển của xã hội Việt Nam.

Đứng trước những mâu thuẫn dân tộc và giai cấp ngày càng gay gắt, nhiều phong trào đấu tranh chống Pháp và phong kiến tay sai nổ ra khắp nơi với nhiều xu hướng cứu nước khác nhau. Đó là các cuộc khởi nghĩa chống Pháp dưới ngọn cờ Cần vương; nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân diễn ra, điển hình là cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế dưới sự lãnh đạo của Hoàng Hoa Thám kéo dài hơn 30 năm; phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục... do các sỹ phu yêu nước chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh lãnh đạo. Đó là trang sử vẻ vang của dân tộc trên con đường đấu tranh giành độc lập. Mặc dù diễn ra rộng khắp cả nước, nhưng tất cả các cuộc đấu tranh đều thất bại. Có thể nói, "Trong suốt gần một thế kỷ thống trị của thực dân Pháp, phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam không ngừng phát triển, kẻ trước ngã, người sau đứng dậy. Nhưng tất cả những cuộc khởi nghĩa yêu nước ấy đã bị dìm trong máu. Những đám mây đen lại bao phủ đất nước Việt Nam"(1).

Hệ tư tưởng phong kiến và tư sản đã hoàn toàn bất lực trước nhiệm vụ lịch sử đặt ra là lãnh đạo toàn dân chống Pháp, giành lại độc lập dân tộc.

Vì vậy, đến đầu thế kỷ XX, việc tìm ra con đường cứu nước, giành lại độc lập dân tộc, mở đường cho đất nước phát triển, trở thành đòi hỏi khách quan, cấp bách của dân tộc Việt Nam.

Được sinh ra trong gia đình trí thức phong kiến có truyền thống yêu nước, Nguyễn Tất Thành sớm mang trong mình lòng yêu nước, thương dân và có tầm nhìn vượt xa những “lối mòn cứu nước” của các bậc tiền bối. Những năm tháng theo cha học hành, trong đó có thời gian sống gần Triều đình Huế đã làm cho Người thấy rõ hơn cuộc sống phụ thuộc, thấp hèn của giới quan chức phong kiến, tay sai. Từ cuộc sống quan trường lận đận, trắc trở của người cha, Nguyễn Tất Thành càng thấu hiểu ý nghĩa thực tế của câu: "Quan trường thị nô lệ, trung chi nô lệ, hựu nô lệ". Cho nên, sau khi ông Nguyễn Sinh Huy bị bãi chức (đầu năm 1910) và vào Nam Kỳ hành nghề bốc thuốc trị bệnh cứu người, còn Nguyễn Tất Thành càng nhận thức rõ hơn sự thối nát của chế độ quan trường. Thực tế này càng thôi thúc Người quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước. Trong tác phẩm Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Trần Dân Tiên đã viết: "Người thiếu niên ấy đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào. Lúc bấy giờ, Anh đã có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào. Anh tham gia công tác bí mật, nhận công việc liên lạc"(2).

Tuy nhiên, đi đâu và làm gì để tìm ra con đường cứu nước thành công luôn  là công việc hết sức khó khăn. Bởi lẽ, bọn thực dân bưng bít mọi thông tin, ngăn cản những tư tưởng tiên tiến, cấm du nhập sách báo tiến bộ hòng giam hãm dân ta trong vòng nô lệ. Người đã nói với nhà báo Liên Xô Ôxip Manđenxtam: "Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế... Nhưng trong những trường học cho người bản xứ, bọn Pháp dạy người như dạy con vẹt. Chúng giấu không cho người nước tôi xem sách báo. Không phải chỉ sách của các nhà văn mới, mà cả Rútxô và Môngtexkiơ cũng bị cấm. Vậy thì phải làm thế nào bây giờ? Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài"(3).

Trong quá trình xác định con đường cứu một dân tộc, lòng căm thù giặc và quyết tâm chưa đủ, mà còn phải lý giải được nguyên nhân thất bại của các bậc tiền bối, hiểu được điều kiện chủ quan và khách quan của bối cảnh lịch sử, trên cơ sở đó mà vạch ra hướng đi của con đường cũng như những yếu tố đảm bảo thắng lợi.

Trước thất bại liên tiếp về con đường cứu nước của các bậc tiền bối, Người nhận xét:

"Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương... Điều đó là sai lầm, chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương.

Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp. Điều đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”.

Cụ Hoàng Hoa Thám còn thực tế hơn, vì còn trực tiếp đấu tranh chống Pháp. Nhưng theo người ta kể thì Cụ còn mang nặng cốt cách phong kiến"(4).

Câu hỏi đặt ra cho dân tộc ta: Ai là người lãnh đạo thành công nhiệm vụ giải phóng dân tộc ở Việt Nam? đến lúc này vẫn chưa có lời giải.

Bối cảnh trên đây, sau này được Hồ Chí Minh nói rõ khi trả lời nhà văn Mỹ  Anna Luy Xtơrông: "Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ"(5)!?

Từ những trải nghiệm cuộc sống và với trí tuệ vượt trội, Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện ra mâu thuẫn giữa chế độ đàn áp bóc lột dã man của bọn thực dân ở Việt Nam với cái lý tưởng cao đẹp của nước Pháp: "Tự do - Bình đẳng - Bác ái", muốn biết cái gì bí mật ẩn náu ở nước Pháp xa xôi!. Người cho rằng: "Muốn đánh hổ thì phải vào hang hổ!".

Chính những nhận thức về bối cảnh đất nước và sự tìm hiểu của Nguyễn Tất Thành về nước Pháp đã thôi thúc Người đi tìm đường cứu nước. Đây không phải là hành động ngẫu nhiên, tự phát mà là sự lựa chọn sáng suốt, một quyết tâm lớn đáp ứng đòi hỏi khách quan của cách mạng Việt Nam. Quyết định sang phương Tây của Nguyễn Tất Thành cũng chính là phủ nhận về mặt ý thức nhà nước thực dân nửa phong kiến ở Việt Nam, là việc mở cửa ra thế giới để đón nhận những nhân tố mới của thời đại, tiếp thu lý luận tiên tiến, tích hợp tinh hoa văn hoá nhân loại để hình thành con đường cứu nước.

2.Nhận ra con đường sáng

Khi rời Tổ quốc, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc mặc dù có quyết tâm cao, nhưng sự hiểu biết về thế giới chưa nhiều. Từng bước một, vừa lao động kiếm sống, vừa học tập lý luận và hoạt động xã hội, Nguyễn Ái Quốc dần dần hiểu rõ bối cảnh của thế giới và xác định được hành trình con đường cứu nước. 

Trong hành trình cứu nước, lúc đầu Người làm nghề phụ bếp, rồi sau đó là công nhân trên tàu buôn Pháp. Nhờ đó, Người có dịp qua nhiều quốc gia như: Xingapo, Côlômbô, Aicập, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Angiêri, Tuynidi, Cônggô, Đahômây, Mỹ. Đầu năm 1913, Người từ Mỹ về Lơ Havơrơ, sau đó sang Anh. Tại đây, Người làm nghề đốt lò, quét tuyết, phục vụ khách sạn. Bất kỳ hoàn cảnh nào, Người thường xuyên chú ý tìm hiểu đời sống và gần gũi với người lao động. Người rất xúc động trước điều kiện sống cực khổ và bị đàn áp của người da đen. Sau những tháng năm trải nghiệm cuộc sống người dân thuộc địa làm thuê, Người dần dần nhận ra một điều: ở đâu cũng có người nghèo và sự giàu nghèo không phụ thuộc vào màu da, chủng tộc. Người lao động ở đâu cũng khổ cực và biết thương yêu nhau.

Cuối năm 1917, Người từ Anh trở lại Pháp, vừa tiếp tục lao động kiếm sống, vừa tích cực tham gia hoạt động chính trị, xã hội. Người liên hệ chặt chẽ với công nhân Pháp, những đại biểu thuộc địa và những người Việt Nam yêu nước tại Pháp. Đây là thời kỳ hoạt động sôi nổi và có hiệu quả trong hành trình tìm thấy con đường cứu nước Việt Nam. Đầu năm 1919, Người vào Đảng Xã hội Pháp chỉ vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp: “Tự do, Bình đẳng, Bác ái(6). Giữa năm 1919, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi Bản yêu sách tám điểm của nhân dân An Nam tới Hội nghị các nước đế quốc họp tại Vécxây (Versailles). Mặc dù Yêu sách chỉ nêu những yêu cầu tối thiểu trong khuôn khổ cải cách, nhưng đã không nhận được câu trả lời. Từ thực tế ấy, Người kết luận: "Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình"(7) . Thực tế trên đã giúp Nguyễn Ái Quốc hiểu thêm bối cảnh khách quan mà hành trình cứu nước không thể bỏ qua.

Sự kiện cực kỳ quan trọng làm chuyển biến cơ bản nhận thức con đường cứu nước, giải phóng dân tộc của Người là khi đọc bảnSơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin đăng trên báo Nhân đạo (L’Humanité) tháng 7-1920. Luận cương đã mang lại cho Người ánh sáng về con đường cách mạng giải phóng dân tộc ở một nước thuộc địa. Khẳng định ý nghĩa to lớn của Luận cương trong hành trình tìm ra con đường cứu nước, Người viết: "Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: "Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta"(8). Cho đến cuối đời, Hồ Chí Minh càng trung thành với con đường độc lập dân tộc bao nhiêu, thì càng trung thành bấy nhiêu với những lý luận Lênin viết trong Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Điều này thể hiện rất rõ khi Người trả lời phỏng vấn nhà báo Pháp Sáclơ Phuốcniô: "Từ ngày Luận cương của Lênin đã hoàn toàn soi sáng cho tôi, tôi không còn chỉ  dự các cuộc họp của Đảng một cách thụ động nữa. Tôi lao vào cuộc chiến đấu, hăng hái bàn cãi, tiến công mạnh mẽ những kẻ chống lại Lênin và Quốc tế thứ ba"(9).

Sự kiện được đọc bản Sơ thảo những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin cùng với những hoạt động sát cánh với công nhân, trí thức Pháp và các đại biểu thuộc địa, đồng bào Việt Nam trên đất Pháp... đã tạo tiền đề quan trọng để Nguyễn Ái Quốc tích cực thảo luận và quyết định bỏ phiếu ủng hộ Đảng gia nhập Quốc tế thứ ba tại Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp họp tại thành phố Tua, tháng 12-1920. Nguyễn Ái Quốc đã trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên có nhiều đóng góp tích cực cho vấn đề giải phóng thuộc địa. Người đã tham gia dự thảo Nghị quyết về chủ nghĩa Cộng sản và các thuộc địaLời kêu gọi những người bản xứ ở các thuộc địa tại Đại hội lần thứ nhất (1921) và lần thứ hai (1922) Đảng Cộng sản Pháp.

Với những sự kiện trên đây, Nguyễn Ái Quốc đã từ người yêu nước trở thành người cộng sản chân chính. Đây cũng là mốc quan trọng đánh dấu việc Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước. Người đã hoàn thành sứ mạng Người tìm đường cho cách mạng Việt Nam.

Tìm ra con đường cứu nước đã khó, tiến hành tuyên truyền, vận động quần chúng và tổ chức thắng lợi đường lối ấy trên thực tế còn khó hơn nhiều. Vì trong suốt tiến trình thực tế hoá đường lối ấy, người lãnh đạo có quyết tâm chưa đủ mà còn phải đánh giá đúng tình hình, lựa chọn đúng thời điểm, địa bàn"đột nội" và phải tìm được những cộng sự có thực tế và kinh nghiệm vận động tổ chức quần chúng. Tháng 6-1923, trong thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc phác họa công việc của mình khi trở về Tổ quốc là: "Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập"(10).Tuy nhiên, con đường ấy còn nhiều gian truân. Người đã trải qua nhiều công việc, hoạt động ở nhiều quốc gia như nghiên cứu lý luận tại Trường Đại học Phương Đông, dự nhiều hội nghị quốc tế tại Liên Xô, làm cán bộ Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản và nhiều năm làm phiên dịch trong Phái bộ Bôrôđin tại Trung Quốc (1924-1927). Cũng trong thời gian này, tại Quảng Châu, Người đã thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên - Tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Giữa năm 1927, Người trở lại Liên Xô, thực hiện nhiệm vụ do Quốc tế Cộng sản giao ở Pháp, Bỉ, Đức, Thụy Sĩ, Italia rồi về Xiêm (Thái Lan), Trung Quốc. Đầu năm 1930 tại Hồng Kông (Trung Quốc), Người đã chủ trì Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Cũng tại đây, từ giữa năm 1931 đến năm 1933, Người bị thực dân Anh bắt giam. Đầu năm 1934, sau khi thoát tù, Người trở lại Liên Xô học Trường Quốc tế Lênin và làm nghiên cứu sinh tại Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa (thuộc Ban Phương Đông, Quốc tế Cộng sản).

Thành công nổi bật trong hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là nhận thức và giải quyết thỏa đáng mối quan hệ dân tộc và giai cấp - vấn đề quan trọng và nhạy cảm mà ngay Quốc tế Cộng sản cũng có lúc mắc sai lầm. Người rất chú ý đặc điểm và truyền thống dân tộc, nhưng không vì thế mà xa rời lập trường giai cấp. Những luận điểm sáng tạo về mối quan hệ giữa cách mạng vô sản ở chính quốc với cách mạng thuộc địa còn được thể hiện rõ trong nhiều bài báo, đặc biệt trong tham luận của Người được trình bày tại Đại hội V của Quốc tế Cộng sản năm 1924. Trong bối cảnh Quốc tế Cộng sản chịu ảnh hưởng sâu sắc của trào lưu "tả" khuynh, biệt phái từ sau khi Lênin qua đời (1924), nhất là sau Đại hội VI của Quốc tế Cộng sản (1928), Người vẫn kiên trì học tập lý luận và thường xuyên bắt liên lạc với Ban Chấp hành Trung ương Đảng ở trong nước, lập kế hoạch về nước thực thi con đường cứu nước, giải phóng dân tộc.

Nét đặc sắc nhất cuộc hành trình cứu nước 30 năm là không bao giờ Nguyễn Ái Quốc xa rời mục đích về nước cứu đồng bào. Khi ở Liên Xô dự Đại hội lần thứ VI Quốc tế Thanh niên, Người nói với nhà văn Liên Xô I. Êrenbua: "Tôi chỉ có một mong ước là sớm trở và Tổ quốc"(11). Khi hoạt động trong Bát lộ quân Trung Quốc, Người vẫn bí mật liên lạc với Ban lãnh đạo Đảng trong nước khẩn trương xây dựng căn cứ địa vùng biên giới Việt Trung. Cuối tháng 6-1940, ngay sau khi Pháp đầu hàng phátxít Đức, Người chỉ thị gấp cho đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp không đi học Trường Quân chính của Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Diên An nữa, mà cùng các đồng chí Phùng Chí Kiên, Vũ Anh đi Quế Lâm, Nam Ninh (Quảng Tây) hướng về Cao Bằng đón thời cơ mới. Đầu năm 1941, sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh kết thúc Hành trình cứu nước, trở về vùng rừng núi Cao Bằng - địa đầu Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo nhân dân ta thực hành đường lối cứu nước mới, mở ra giai đoạn mới trong công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam.

__________________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 6-2011

(1) Hồ Chí Minh:Toàn tập, t.9, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.314.

(2),(4),(6),(7) Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.12, 12, 41-42, 31.

(3),(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t1, Sđd, tr.477, 192.

(5) Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử, t.1, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006,  tr.41.

(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.127.

(9) Sđd, t.12, tr.471.

(11) Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử, Sđd, t.2, tr.63.

 

PGS,TSLê Văn Tích

Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh