Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay
Thứ tư, 09 Tháng 10 2013 14:08
1715 Lượt xem

Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay

(LLCT)- Cũng như các giai đoạn cách mạng trước đây, hiện nay công tác lý luận vô cùng cần thiết và có tầm quan trọng đặc biệt. Đó là vì thực tiễn cách mạng, sự phát triển xã hội nước ta cũng như các quá trình thế giới đang đặt ra cho lý luận hàng loạt vấn đề rất phức tạp, bức xúc và gay cấn.

Năm, mười năm tới đây sẽ là thời kỳ có ý nghĩa bước ngoặt trên con đường tiến lên của đất nước. Bên cạnh những thuận lợi, Đảng ta, nhân dân ta phải vượt qua nhiều khó khăn và thách thức. Để làm tròn sứ mệnh lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình ngang tầm với những đòi hỏi mới, Đảng cần tự đổi mới và tự chỉnh đốn, trước hết phải nâng cao trình độ trí tuệ, tính tiền phong về lý luận, bởi “chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong(1).

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nhấn mạnh; vấn đề quan trọng trước hết là phải tiếp tục đổi mới tư duy, nâng cao trí tuệ của Đảng lên một bước phát triển mới. Hơn lúc nào hết, muốn lãnh đạo công cuộc đổi mới đi đến thắng lợi, Đảng ta phải nâng cao trình độ hiểu biết và năng lực tổ chức thực tiễn, từ việc phát hiện và nắm vững quy luật vận động của đời sống xã hội ta, của bản thân Đảng, cho đến hiểu biết về thế giới, về thời đại.

Đảng làm giàu trí tuệ của mình bằng cách không ngừng nâng cao trình độ lý luận, nắm vững, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời không ngừng tổng kết kinh nghiệm thực tiễn sinh động. Phát triển công tác lý luận của Đảng bằng cách tổng kết thực tiễn, tổng kết những cái mới đang hằng ngày, hằng giờ nảy sinh trong đời sống đất nước và cả thế giới, tiếp thụ những thành quả trí tuệ của loài người, đó là phương hướng cơ bản để làm giàu trí tuệ của Đảng, để hoàn chỉnh và phát triển đường lối của Đảng.

I - THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ

Từ cuối những năm 70 đầu những năm 80, đặc biệt từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng đến nay, đã có những tiến bộ rất đáng kể trên lĩnh vực công tác lý luận. Đó là những bước tiến theo hướng đổi mới tư duy lý luận về CNXH và về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, khắc phục chủ nghĩa giáo điều, bệnh chủ quan duy ý chí, gắn bó lý luận với thực tiễn đất nước, đặc điểm dân tộc và với những đặc điểm của thế giới trong giai đoạn hiện nay.

Chuyển động đầu tiên trong đổi mới tư duy lý luận được đánh dấu bằng Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khoá IV (1979), một nghị quyết được mọi người nhớ rõ và thường nhắc đến với cái tên nôm na mà đúng thực chất: “nghị quyết làm cho sản xuất bung ra”. Nghị quyết Đại hội V của Đảng (3-1982) ghi thêm một bước tiến mới về tư duy lý luận, nhất là trên vấn đề cơ cấu kinh tế, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu. Với Đại hội VI của Đảng (12-1986) thì bước ngoặt căn bản đã được thực hiện. Đại hội VI đi vào lịch sử là “Đại hội đổi mới” - đổi mới toàn diện đời sống và hoạt động xã hội với bước đi thích hợp, lấy đổi mới tư duy lý luận làm tiền đề, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế.

Đi nhanh vào cuộc sống, tư duy mới của Đại hội VI chẳng những được thực tiễn chứng minh hoàn toàn đúng, mà còn được cụ thể hoá, phát triển, làm sâu sắc và nâng cao thêm bằng những kinh nghiệm mới, trên cơ sở đó hình thành những đường nét lớn xác định con đường quá độ lên CNXH ở nước ta và điều này được phản ánh tập trung trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế -xã hội đến năm 2000 được thông qua tại Đại hội VII của Đảng. Trong nỗ lực trí tuệ chung của toàn Đảng, có phần đóng góp xứng đáng của đội ngũ cán bộ lý luận và khoa học xã hội.

Được cổ vũ và chỉ đạo bởi tư duy mới của Đảng, nhiều cán bộ lý luận và khoa học xã hội hăng hái thâm nhập cuộc sống, đi vào những vấn đề nhận thức và thực tiễn gai góc, tham gia tích cực quá trình đổi mới tư duy, luận chứng khoa học cho đường lối đổi mới, kết hợp ngày càng chặt chẽ với các cơ quan chỉ đạo thực tiễn trong việc chuẩn bị và đề ra các chính sách. Đời sống tư tưởng - lý luận ở nước ta hơn hai thập kỷ qua rõ ràng có bước khởi sắc. Các luận văn khoa học, các bài báo, các công trình nghiên cứu lý luận xuất hiện ngày càng nhiều. Các hội thảo khoa học được mở ra liên tục đã nâng cao bầu không khí dân chủ, tự do tìm tòi, sáng tạo, thảo luận, tranh luận trong khoa học. Trên các diễn đàn và ấn phẩm khoa học xuất hiện nhiều ý kiến phong phú, đa dạng, thể hiện những cố gắng tìm tòi, đổi mới tư duy và phương pháp tiếp cận các vấn đề lý luận và thực tiễn, khắc phục và loại bỏ dần chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa kinh viện, bệnh hời hợt và lối suy nghĩ giản đơn, một chiều.

Tuy nhiên, những tiến bộ trên còn hết sức khiêm tốn. Hiện trạng lý luận còn bề bộn, ngổn ngang. Còn nhiều câu hỏi đặt ra đòi hỏi câu trả lời. Những gì đạt được còn rất ít so với những gì cần phải đạt. Lý luận chưa ra khỏi tình trạng lạc hậu, chậm trễ so với thực tiễn.

Điều dễ thấy là số lượng tạp chí lý luận, số công trình nghiên cứu của cá nhân và các tập thể khoa học không ít lắm, song rất ít công trình có trọng lượng khoa học lớn, gây được tiếng vang. Rất ít công trình dài hơi, nghiên cứu mỗi vấn đề thật đến nơi đến chốn. Điều đó nói lên trình độ khoa học của chúng ta còn hạn chế, các nhà khoa học có tầm cỡ rất ít, tiềm lực lý luận của chúng ta nói chung còn mỏng. Mỏng đến nỗi có vấn đề khi người này nói thì người khác hầu như không thể nói gì hơn; có trường hợp cần đấu tranh, phê phán thì chỉ được mấy bài là “hết vốn”. Trên nhiều vấn đề, sự phê phán cái cũ đã quá đủ song những đề xuất và kiến giải mới lại quá ít. Có tình hình trước đây anh em thường trách Đảng không sử dụng đội ngũ cán bộ lý luận vào quá trình chuẩn bị các chính sách; nhưng gần đây đơn đặt hàng xã hội được Đảng và các cơ quan thực tiễn gửi tới các cơ quan khoa học và các nhà khoa học không ít, song rất tiếc, sự đáp ứng của chúng ta xem ra khá chật vật. Đó là một bằng chứng về sự bất cập của đội ngũ lý luận, không thể nói khác.

Về tổng kết thực tiễn, chúng ta mới làm được quá ít. Chưa có sự quan tâm đúng mức từ phía các cấp uỷ đảng và lãnh đạo các ngành thực tiễn cũng như từ phía các cơ quan lý luận. Những việc có làm thì trình độ phân tích, tổng hợp và khái quát chưa cao, chưa đạt mức có thể từ tổng kết đưa ra được những dự báo cần thiết về các quá trình phát triển và đề xuất các giải pháp xác đáng.

Về đấu tranh trên mặt trận tư tưởng - lý luận, nhiều cơ quan khoa học và tập thể khoa học chưa đặt đúng tầm quan trọng của vấn đề, còn ngại đấu tranh, dung hoà, tránh né. Cũng đã tiến hành được vài đợt đấu tranh rất đáng hoan nghênh, song ở một số bài cần nâng cao hơn chất lượng và tính thuyết phục. Điều quan trọng nữa là cần tiến hành đấu tranh thường xuyên và với sự tham gia đông đảo hơn của đội ngũ cán bộ lý luận. Ở đây rất cần không chỉ trí tuệ mà cả dũng khí và niềm tin sắt đá.

Đánh giá thực trạng công tác lý luận không thể không đề cập đội ngũ cán bộ. Đội ngũ cán bộ lý luận của ta nói chung có phẩm chất chính trị tốt, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân. Mấy năm nay, đội ngũ này được bổ sung khá nhiều bằng những lực lượng trẻ, được đào tạo khá hệ thống. Tuy nhiên, tình trạng vẫn là đông nhưng không mạnh. Đó là do trong đào tạo có nhiều nhược điểm, từ khâu tuyển sinh đến nội dung chương trình, chất lượng giảng dạy; do những khuyết điểm trong các chính sách, chế độ sử dụng, bồi dưỡng, đãi ngộ, tạo những điều kiện cần thiết cho nghiên cứu khoa học, cho sự phát triển tài năng. Sự thiếu hoài bão lớn, thiếu say sưa và thiếu nỗ lực trí tuệ ở không ít cán bộ lý luận cũng là một nguyên nhân quan trọng. Hệ thống tổ chức nghiên cứu và quản lý công tác nghiên cứu vừa phân tán, vừa trùng lặp, thiếu sự phân công và phối hợp; chưa chú ý xây dựng các ngành khoa học trọng điểm và đội ngũ cán bộ đầu đàn; thiếu sự chỉ đạo tập trung thống nhất. Kinh phí đầu tư cho khoa học xã hội và nghiên cứu lý luận còn ít.

II- NHIỆM VỤ VÀ NHỮNG HƯỚNG NGHIÊN CỨU CHỦ YẾU

Nhiệm vụ công tác lý luận là phục vụ việc tiếp tục đổi mới tư duy, xây dựng luận cứ khoa học về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, về các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước; bồi dưỡng thế giới quan khoa học và nhân sinh quan cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, đặc biệt là lớp trẻ; tăng cường trận địa tư tưởng XHCN, củng cố niềm tin vào lý tưởng, phê phán những quan điểm lệch lạc, đấu tranh chống những trào lưu tư tưởng - lý luận sai trái và thù địch, góp phần bảo vệ sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân, bảo vệ Tổ quốc và CNXH; phát triển đội ngũ cán bộ lý luận với phẩm chất chính trị và trình độ khoa học cao đủ sức đáp ứng những yêu cầu nhiệm vụ trước mắt, đồng thời chuẩn bị tiềm lực lý luận cho bước phát triển sau này của đất nước.

Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay, cần đặc biệt nhấn mạnh: tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, đi sâu tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận một cách sáng tạo, trước hết là tổng kết có lý luận những kinh nghiệm cơ bản trong công cuộc đổi mới nhằm làm sáng tỏ hơn nữa căn cứ khoa học và thực tiễn của việc xây dựng mô hình về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam dưới ánh sáng Cương lĩnh mới (bổ sung và phát triển) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội được thông qua tại Đại hội XI của Đảng.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ nêu trên, công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay cần tập trung vào những hướng nghiên cứu chủ yếu sau đây:

- Khẳng định và làm rõ những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, làm rõ những vấn đề cần nhận thức lại, những vấn đề cần tiếp tục bổ sung, điều chỉnh và phát triển trên cơ sở tổng kết và khái quát những kinh nghiệm thực tiễn mới và những thành tựu của khoa học hiện đại. Nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đồng thời chú trọng nghiên cứu những tinh hoa trí tuệ của dân tộc. Đối với những học thuyết khác về xã hội (ngoài chủ nghĩa Mác - Lênin) cần được nghiên cứu trên quan điểm khách quan, biện chứng, có phê phán. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa giáo điều cũng như chống chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội dưới mọi màu sắc.

- Nghiên cứu những kinh nghiệm lịch sử hơn 70 năm của CNXH hiện thực, những bài học rút ra từ những cuộc cải tổ và sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Chú trọng nghiên cứu những vấn đề về thời đại, về CNTB hiện đại, về toàn cầu hóa và những biến đổi trong các quan hệ quốc tế, về trật tự thế giới mới, dự báo xu hướng phát triển của phong trào cánh tả, cộng sản và công nhân thế giới và khu vực trong những thập kỷ tới.

- Tiếp tục đi sâu nghiên cứu, phát triển và hoàn chỉnh hệ thống những luận cứ khoa học của sự lựa chọn con đường đi lên CNXH ở nước ta. Phát hiện những xu hướng, tính quy luật, các mâu thuẫn và động lực, hình thức và bước đi của con đường phát triển ấy. Làm rõ bản chất và những đặc trưng của mô hình CNXH ở Việt Nam. Trên những cơ sở đó, công tác lý luận góp phần làm sáng tỏ nền tảng và cơ sở khoa học của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 do Đại hội XI của Đảng đề ra.

- Trong các chương trình nghiên cứu phải đặc biệt quan tâm những vấn đề về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế, về kinh tế thị trường nhiều thành phần định hướng XHCN; về cơ cấu kinh tế đa sở hữu và vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước; về kinh tế tập thể; về vai trò kinh tế tư nhân và định hướng XHCN trong khu vực này, v.v.; về cơ chế quản lý kết hợp kế hoạch và thị trường; những vấn đề về chống lạm phát, về tài chính, tiền tệ, tín dụng, giá cả; về chế độ sở hữu và chế độ phân phối trong thời kỳ quá độ; về quan hệ giữa sở hữu với sử dụng tư liệu sản xuất và tổ chức quản lý sản xuất; về mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại; về cơ cấu xã hội và chính sách xã hội; về giai cấp và đấu tranh giữa “hai con đường” trong thời kỳ quá độ.

- Nghiên cứu làm rõ những quan điểm về đổi mới hệ thống chính trị; cụ thể hóa các hình thức quan hệ đúng đắn giữa Đảng, Nhà nước với các đoàn thể nhân dân; xây dựng nền dân chủ XHCN, trong đó trung tâm là vấn đề xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng lãnh đạo Nhà nước, xây dựng chính quyền của dân, do dân, vì dân, xây dựng nền pháp chế và sự quản lý xã hội bằng pháp luật.

- Nghiên cứu mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, giữa phát huy bản sắc văn hóa dân tộc với tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới, những vấn đề về phát huy nhân tố con người, về đạo đức, lối sống, tư tưởng, nghệ thuật, tôn giáo, dân tộc... trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần và mở rộng giao lưu quốc tế. Xây dựng cơ sở lý luận cho việc hình thành nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và con người Việt Nam trong thời đại mới.

- Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội ta, nâng cao giác ngộ lý tưởng và niềm tin cho đảng viên, đoàn viên thanh niên và nhân dân.

- Tiến hành thường xuyên cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận theo yêu cầu của sự nghiệp xây dựng CNXH và không ngừng đổi mới. Khắc phục chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa kinh nghiệm, bảo thủ, đồng thời chống chủ nghĩa cơ hội dưới mọi màu sắc và chủ nghĩa xét lại.

- Nghiên cứu lý luận phục vụ công tác quốc phòng, an ninh nhằm bảo vệ Tổ quốc, giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ; tăng cường ổn định chính trị, đánh thắng âm mưu và thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động.

III- PHƯƠNG CHÂM LỚN CHỈ ĐẠO HOẠT ĐỘNG LÝ LUẬN

Có ba phương châm lớn chỉ đạo hoạt động lý luận, ở đây đề cập mấy nội dung chủ yếu nhất:

1.Quán triệt bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện cho được sự thống nhất giữa tính khoa học với tính đảng, giữa khoa học với chính trị trong hoạt động lý luận.

 Một thời gian dài chúng ta dường như đồng nhất chính trị với lý luận. Trong cách mạng dân tộc dân chủ, sự đồng nhất này cố nhiên cũng không đúng, nhưng dù sao lúc ấy có lý do khách quan nhất định cho sự đồng nhất trên mức độ nào đó mà không gây tổn hại cho cả lý luận, cả chính trị. Vấn đề ở chỗ: đấu tranh chính trị, đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc khi cách mạng chưa có chính quyền tự nó có thể dựa trực tiếp vào những nguyên tắc lý luận cách mạng; ngược lại, từ những nguyên tắc lý luận cách mạng có thể trực tiếp giải quyết những vấn đề chính trị thực tiễn. Chẳng hạn, lý luận về tình thế cách mạng, về bạo lực cách mạng, về khởi nghĩa giành chính quyền, v.v. được trực tiếp rút ra từ thực tiễn chính trị và có thể được ứng dụng trực tiếp vào chính trị thực tiễn. Ta biết rằng, tuyệt đại bộ phận các văn phẩm của Lênin khó mà nói đó là văn kiện chính trị hay là tác phẩm lý luận. Đương nhiên, những cuốn như Bút ký triết học, Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, v.v. thì khỏi tranh cãi và tính lý luận của những tác phẩm ấy đã quá hiển nhiên.

Sang cách mạng XHCN, giữa lý luận khoa học với chính trị xây dựng CNXH vẫn có mối liên hệ bản chất, nhưng không phải bao giờ và trên bất cứ vấn đề gì cũng trực tiếp và dễ thấy như trước. Trong đấu tranh cách mạng khi chưa có chính quyền, cố nhiên sự vật và các quá trình cũng không hề đơn giản, nhưng dù sao chung quy lại vẫn chỉ là sự đối đầu giữa hai dòng lý luận cách mạng và phản cách mạng. Còn công cuộc xây dựng CNXH thì cực kỳ phức tạp, diễn ra trên mọi lĩnh vực đời sống và hoạt động xã hội. Đối tượng nhận thức và tác động ở đây là những hệ cấu trúc, những quá trình cực kỳ đa dạng và phức tạp, nhiều tầng nấc, là những quan hệ chằng chịt, muôn hình, muôn vẻ... Do đó, ở đây đòi hỏi phải tính đến không biết bao nhiêu là nhân tố có liên hệ; không biết bao nhiêu vòng khâu và cấp độ khác nhau của quá trình phân tích, tổng hợp mới đem lại được căn cứ khoa học cho một quyết định chính trị. Trong những điều kiện như vậy mà đồng nhất chính trị với lý luận khoa học thì thật tai hại - tai hại cho cả khoa học, cả chính trị.

Thế mà thói quen thời cách mạng dân tộc dân chủ còn trì kéo chúng ta một thời gian sau năm 1975. Hậu quả như thế nào thì mọi người đã rõ. Nhưng, thật là không đúng nếu từ cực nọ lại nhảy qua cực kia. Do đó, vấn đề đáng được bàn bạc cặn kẽ để đi tới nắm vững phương châm “kết hợp thống nhất tính khoa học với tính đảng, giữa khoa học với chính trị”.

Trước hết, cần nhất trí rằng cái lý luận, công tác lý luận mà chúng ta đang bàn ở đây, là lý luận cách mạng, lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta. Lý luận ấy là sự vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam mà chủ nghĩa Mác - Lênin thì mang đặc tính bản chất bên trong là sự thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng.

Lênin viết: “Sức hấp dẫn không gì cưỡng nổi đã lôi cuốn những người xã hội chủ nghĩa của tất cả các nước đi theo lý luận đó, chính là ở chỗ nó kết hợp tính chất khoa học chặt chẽ và cao độ (đó là đỉnh cao nhất của khoa học xã hội) với tinh thần cách mạng, và kết hợp không phải một cách ngẫu nhiên, không phải chỉ vì người sáng lập ra học thuyết ấy đã kết hợp trong bản thân mình những phẩm chất của nhà bác học và của nhà cách mạng, mà là kết hợp trong chính bản thân lý luận ấy, một sự kết hợp nội tại và khăng khít. Thật thế, nhiệm vụ của lý luận, mục đích của khoa học được nêu thẳng ra ở đây là giúp đỡ giai cấp những người bị áp bức trong cuộc đấu tranh kinh tế đang thực sự diễn ra”(2).

Như vậy, trong lý luận cách mạng mácxít không có sự đối lập giữa khoa học với chính trị, giữa khoa học với tính đảng; không có và tuyệt đối không có sự hy sinh cái này cho cái kia, trái lại có sự đòi hỏi lẫn nhau, làm tiền đề tồn tại cho nhau, thống nhất nội tại, khăng khít giữa hai cái tạo thành đặc tính bản chất vừa cách mạng vừa khoa học của lý luận. Ở đây khoa học càng được tiến hành một cách dũng cảm, vô tư và khách quan thì càng phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của giai cấp công nhân. Vì vậy, sẽ là chính trị sai lầm, đi ngược lại lợi ích và nguyện vọng của giai cấp công nhân khi chính trị bất chấp khoa học. Mặt khác, ở đây, cái quan điểm đòi “giải phóng khoa học khỏi chính trị” hoàn toàn không có cơ sở. Đơn giản là vì khoa học này là khoa học đấu tranh cách mạng. Lý luận này làm sao tách rời chính trị được? Cho nên, là người mácxít nếu đòi hỏi “phi chính trị hoá khoa học mácxít” thì khác nào họ tự phủ định mình khỏi tư cách người mácxít. Thực tiễn cách mạng và quá trình hoạt động lý luận đều chứng minh rằng khi lý luận tách rời chính trị, nó sẽ không còn là khoa học chân chính.

Đảng cần đến lý luận khoa học làm cơ sở cho đường lối chính trị, cũng như lý luận chỉ thực sự khoa học với định hướng chính trị đúng đắn của Đảng. Cả hai đòi hỏi đó đều có tầm quan trọng như nhau, đặc biệt trong giai đoạn phức tạp hiện nay. Và hai đòi hỏi đó là thống nhất - nó là biểu hiện quan trọng nhất của sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn.

2.Gắn chặt lý luận với thực tiễn, giữa yêu cầu trước mắt với nhiệm vụ lâu dài, giữa nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng.

Ai nấy đều biết, thống nhất lý luận với thực tiễn là nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và phương châm căn bản định hướng cho công tác lý luận. Thiết nghĩ, khỏi phải nói gì thêm về tầm quan trọng của phương châm này. Vấn đề là hiểu và vận dụng nó như thế nào trong tình hình hiện nay dưới ánh sáng những bài học kinh nghiệm đã tích luỹ được.

Hiện nay, một tình hình làm day dứt mọi người là giữa lý luận với thực tiễn còn khoảng cách. Khoảng cách này trước Đại hội VI của Đảng còn lớn hơn. Lúc đó, rõ ràng lý luận một đường mà cuộc sống đi một nẻo. Cuộc sống thực tế “ngoan cố và bướng bỉnh” cho đến cuối những năm 70 đã công khai cất lên tiếng nói của mình. Đã đến lúc nó không chịu được nữa những khuôn mẫu lý luận được áp đặt một cách duy ý chí. Cuộc sống “ập vào” phòng họp Hội nghị Trung ương 6 khoá IV (1979), đặt thẳng lên bàn chương trình nghị sự vấn đề số một là “những vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách”. Sự kiện này là một bài học thấm thía về sự cần thiết phải thống nhất lý luận với thực tiễn.

Sau đó, Khoán 100 mà ý nghĩa giải phóng lớn lao của nó được giới khoa học lập tức nắm bắt và soi rọi bằng ánh sáng lý luận với một niềm hứng khởi chưa từng thấy. Đặc biệt, chúng ta hãy nhớ lại bầu không khí xã hội - chính trị nặng nề trước Đại hội VI và ngay cả khi dự thảo lần đầu các văn kiện đưa xuống Đại hội vòng I các cấp song chưa làm ai thoả mãn. Nhưng sau đó, chỉ với “ba quan điểm lớn về kinh tế” đánh dấu bước ngoặt đổi mới tư duy, đã đủ làm thay đổi hẳn bầu không khí, mọi người phấn chấn hẳn lên, một luồng sinh khí mới tràn ngập từ trong Đảng đến ngoài nhân dân, từ dưới lên trên cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc và sau Đại hội. Niềm tin bước đầu được lấy lại. Tuy vậy, niềm tin chưa phải đã vững chắc mà còn ngập ngừng, khi lên khi xuống; đến Đại hội VII được củng cố thêm, nhưng cho đến nay vẫn chưa thể khẳng định lý tưởng và con đường XHCN đã thật sự chinh phục hoàn toàn khối óc và trái tim mọi tầng lớp xã hội. Một trong những nguyên nhân gốc rễ chính là giữa lý luận với thực tiễn vẫn còn khoảng cách, tuy khoảng cách này đã được thu hẹp rất nhiều so với trước Đại hội VI, trước Đổi mới.

Có thể nói toàn bộ nhiệm vụ đang đặt ra trước chúng ta hiện nay chung quy lại là phấn đấu san bằng hay thu hẹp tối đa khoảng cách đó. Điều này đòi hỏi lý luận phải gắn chặt hơn nữa với thực tiễn, còn thực tiễn phải được soi sáng và định hướng đúng đắn bằng lý luận khoa học; phải khắc phục chủ nghĩa bảo thủ, giáo điều và chủ nghĩa kinh nghiệm.

Trong công tác lý luận cần từ bỏ lối nghiên cứu một cách kinh viện, thuần tuý tư biện, chỉ biết giải thích khái niệm bằng khái niệm, chứng minh lý luận bằng lý luận, tức là hoàn toàn quanh quẩn trong vương quốc trừu tượng thuần tuý, như thế thì không sao đạt tới chân lý. Cần chống lối tư duy bắt chước, sao chép, rập khuôn, thoát ly thực tế, bất chấp những đặc điểm, truyền thống và điều kiện lịch sử - cụ thể của đất nước, của dân tộc. Không phải không có cơ sở khi gần đây có nhiều tiếng nói phê phán “chủ nghĩa giáo điều mới” là một khuynh hướng nhân danh đổi mới, chống bảo thủ, chống giáo điều, nhưng về thực chất nó không đưa ra được điều gì mới mà chẳng qua chỉ lặp lại nguyên xi hay gần như nguyên xi những gì có sẵn trong kho lý thuyết, thậm chí cả về ngôn từ của phương Tây hoặc của nước này, nước khác du nhập từ bên ngoài. Chống chủ nghĩa xét lại lúc này rất cần thiết, nếu không hơn thì không kém cần thiết so với chống chủ nghĩa giáo điều cả cũ lẫn mới.

Rất sai, nếu hiểu đơn giản giáo điều là do đọc quá nhiều sách. Thật ra bệnh giáo điều có nguồn gốc không chỉ ở chỗ thoát ly thực tế, thực tiễn, mà còn do đọc quá ít, do đọc không đến nơi đến chốn (trước hết là sách kinh điển Mác - Lênin), hoặc tuy có đọc, thậm chí đọc không ít, nhưng không thoát sách, nghĩa là kiến thức không được tiêu hoá nhuần nhuyễn, không gắn chặt với thực tế và phát triển với cuộc sống.

Tổng kết thực tiễnlà phương pháp căn bản trong hoạt động lý luận, là một phương pháp căn bản để khắc phục chủ nghĩa giáo điều, bảo thủ và cả chủ nghĩa kinh nghiệm, để thực hiện sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn. Lý luận, xét cho cùng, là từ thực tiễn mà đúc kết, khái quát lên. Không có thực tiễn và kinh nghiệm thực tiễn thì không có lý luận.

Quá trình đổi mới ở nước ta có đặc điểm là vừa làm, vừa tìm tòi, sáng tạo lý luận. Tất nhiên, khi bước vào sự nghiệp này, Đảng ta đã có những định hướng lớn. Từ những định hướng đó, phải bắt tay ngay vào giải quyết những vấn đề đã chín muồi, không thể chờ chuẩn bị xong xuôi về lý luận. Thật ra, đòi hỏi chuẩn bị đầy đủ trước về lý luận là không thực tế, bởi có những điều phải làm rồi mới biết, thậm chí có vấn đề phải trải qua vấp váp nhiều lần rồi mới đủ kinh nghiệm để đúc kết, khái quát về lý luận. Sẽ phải trả giá cho sự vội vã khái quát lý luận, vội vã đề ra phạm trù này, quy luật kia khi chưa có đủ căn cứ thực tiễn. Thật ra, nhiều vấn đề chính thực tiễn lại cung cấp câu trả lời cho ta trước cả lý luận. Khoán trong nông nghiệp là như thế. Vấn đề cơ chế một giá hay hai giá, một thị trường hay hai thị trường, vấn đề Nhà nước nắm hay không nắm độc quyền lương thực... đã mất bao năm tranh luận triền miên, bất phân thắng bại, song cuối cùng chính thực tiễn nửa cuối những năm 80 đã cung cấp câu trả lời dứt điểm.

Nhận thức như trên không làm giảm nhẹ vai trò và trách nhiệm của công tác lý luận, không phải để rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm. Vấn đề là không thể lấy tư biện thuần tuý thay cho kinh nghiệm thực tiễn. Vấn đề là phải hết sức coi trọng tổng kết thực tiễn - một phương pháp căn bản trong công tác lý luận.

Tổng kết thực tiễn là hết sức quan trọng đối với người chuyên làm lý luận. Càng quan trọng và phải trở thành thói quen hằng ngày đối với cán bộ lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn. Thực tiễn mà không có lý luận cũng chẳng hơn gì lý luận không có thực tiễn. Ph.Ăngghen nói: Không chỉ lý luận phải hướng về thực tiễn mà thực tiễn phải vươn tới lý luận. Chủ nghĩa kinh nghiêm không ít tai hại hơn chủ nghĩa giáo điều. Hơn nữa, có bệnh giáo điều - và rất dễ phạm - ở người kinh nghiệm chủ nghĩa, bởi nếu chỉ có tri thức kinh nghiệm hạn hẹp thì rất dễ mắc bệnh bắt chước, rập khuôn người khác. Đó chính là ranh giới tương đối, là chỗ chuyển hoá lẫn nhau giữa chủ nghĩa kinh nghiệm với chủ nghĩa giáo điều.

Đảng ta đang ở thời điểm mà việc tổng kết thực tiễn 25 năm đổi mới vẫn là vô cùng cần thiết. Tổng kết thực tiễn để phát triển, cụ thể hoá và hoàn chỉnh đường lối, chính sách; để tìm câu trả lời cho những vấn đề còn vướng mắc hoặc chưa sáng tỏ; để phát huy, nhân rộng những cái đúng, phát hiện, uốn nắn, sửa chữa những cái sai; để nâng cao trình độ lý luận và năng lực lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp đổi mới đầy khó khăn phức tạp, khi mà chủ nghĩa xã hội thế giới đang bị khủng hoảng nghiêm trọng cả về lý luận lẫn trong hiện thực. Thành công của sự nghiệp đổi mới, trên mức độ lớn, phụ thuộc vào khả năng và kết quả việc tổng kết thực tiễn, nâng lên trình độ lý luận. đó phải là một cuộc tổng kết công phu, sâu sắc với sự kết hợp chặt chẽ giữa giới lý luận, các cơ quan khoa học và các cấp uỷ, các ngành thực tiễn. Việc tổng kết cần được tiến hành không chỉ trên những vấn đề chung về con đường đi lên CNXH, mà cả trên từng lĩnh vực hoạt động cơ bản: kinh tế và xã hội, văn hoá và tư tưởng, hệ thống chính trị và dân chủ hoá đời sống xã hội, xây dựng Đảng, xây dựng nhà nước, mặt trận đoàn kết dân tộc và các đoàn thể nhân dân, v.v.. Đó phải là một cuộc tổng kết có quy mô lớn, bao gồm việc phân tích những kinh nghiệm cải tổ, cải cách ở các nước, thậm chí cả những bài học hơn 70 năm của CNXH ở Liên Xô trước kia. Những kinh nghiệm và bài học này không thể không được tính đến khi suy ngẫm, phân tích và tổng kết những kinh nghiệm đổi mới và con đường đi lên CNXH của bản thân nước ta.

Nhấn mạnh tổng kết thực tiễn không có nghĩa xem nhẹ nghiên cứu cơ bản, lý luận cơ bản. Càng tiếp cận với những vấn đề cụ thể càng phải có những quan điểm chung, cơ bản vững chắc. Lênin từng chỉ ra rằng, không thể giải quyết vấn đề riêng nếu trước đó không sáng tỏ những vấn đề chung. Tổng kết thực tiễn cụ thể đòi hỏi phải có

 

quan điểm nhìn nhận, phương pháp đánh giá, định hướng giải quyết các vấn đề; nghĩa là không thể thiếu vai trò của lý luận, của phương pháp luận chung.

Không thể trực tiếp đi ngay vào giải quyết và giải quyết đúng đắn các vấn đề thực tiễn nếu thiếu những hiểu biết cơ bản. Đến lượt mình, những kết quả nghiên cứu các vấn đề cụ thể, trước mắt là nguồn chất liệu không thể thiếu để từ đó đi tới những tri thức cơ bản và chung. Công tác lý luận chưa đáp ứng các nhu cầu thực tiễn nói lên sự yếu kém của chúng ta trên cả hai hướng nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Trình độ khoa học cơ bản hạn hẹp không những trở ngại lớn cho nghiên cứu ứng dụng, cho việc nghiên cứu đáp ứng các yêu cầu thực tiễn trước mắt, mà còn thiếu đi cái bàn đạp vững chắc để có thể vươn cao, đi xa trên con đường khoa học. Song, sẽ phạm sai lầm lớn, thoát ly thực tiễn, nếu coi nhẹ nghiên cứu ứng dụng. Vì vậy, cần nhấn mạnh phương châm gắn chặt lý luận với thực tiễn, kết hợp giữa yêu cầu trước mắt với nhiệm vụ lâu dài, giữa nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng.

3. Dân chủ hoá sinh hoạt lý luận

Như trên đã nói, trước đây có một thời ở ta lý luận gần như được đồng nhất với chính trị. Lý luận coi như đã được giải quyết tất cả ở đường lối, nghị quyết của Đảng, bài nói và viết của lãnh tụ; công tác lý luận chỉ còn lại nhiệm vụ đơn thuần là thuyết minh đường lối, nghị quyết. Điều đó lâu ngày tạo thành thói quen ỷ lại, thậm chí coi chân lý chỉ có thể phát ra từ một vài người, từ đó đi tới chỗ dựa dẫm vào sự “bao cấp tư duy” từ phía lãnh đạo, không thúc đẩy sự tìm tòi, khám phá, mà lẽ ra đó là chức năng đích thực, là lý do tồn tại chính yếu của khoa học lý luận. Lại cũng vì thế mà tạo ra một quan niệm quá đơn giản rằng, hễ nói gì hơi khác với lãnh đạo, với nghị quyết, là coi như sai phạm chính trị, có thể bị truy chụp đủ thứ... Đường lối đổi mới tư duy của Đảng cho phép và đòi hỏi chúng ta khắc phục sai lầm đơn giản đó, một sai lầm đã kìm hãm một thời phát triển tư duy lý luận của Đảng.

Ngày nay, chúng ta hiểu lý luận và chính trị không phải là một, giữa chúng có khoảng cách cần được phân biệt, dù rất tương đối. Điều đó mở ra không gian rộng lớn cho khoa học tìm tòi, sáng tạo, hình thành điều kiện thuận lợi để phát huy tiềm năng trí tuệ của đội ngũ lý luận. Tuy nhiên, như đã nói, sự khác biệt giữa lý luận (cách mạng) với chính trị chỉ có ý nghĩa tương đối. Vượt quá giới hạn đó, thậm chí đối lập hai mặt vốn gắn bó, phụ thuộc, nương tựa, thâm nhập vào nhau, thì rốt cuộc làm tổn hại nghiêm trọng cho cả lý luận, cả chính trị. Khoa học lý luận dưới chế độ ta mà đi chệch hướng chính trị của Đảng thì không còn là khoa học cách mạng. Mặt khác, chính trị của Đảng phải dựa chắc trên cơ sở khoa học. Muốn thế, Đảng phải hết sức coi trọng lý luận và công tác lý luận. Nó chính là công tác hàng đầu của bản thân Đảng, trước hết của Bộ Chính trị, của Ban Chấp hành Trung ương. Để làm được việc này, bản thân các đồng chí lãnh đạo cấp cao phải có trình độ lý luận nhất định và khả năng định hướng cho công tác lý luận trong phạm vi cần thiết. Điều hết sức quan trọng là Đảng phải xây dựng, sử dụng cho được đội ngũ lý luận của mình, và lãnh đạo lý luận một cách khoa học.

Khoa học phát triển có những đặc điểm riêng. Chẳng hạn, đã là nghiên cứu khoa học thì có thể có sai lầm. Nếu trong chính trị, sai lầm cũng đã khó tránh khỏi, thì trong tìm tòi khoa học, khả năng phạm sai lầm càng nhiều hơn, và điều đó không thể không cho phép. Nếu quy ngay những sai lầm đó vào lập trường chính trị, hậu quả có thể rất tai hại. Khoa học cần bầu không khí dân chủ, tự do tư tưởng, vì chỉ trong môi trường ấy, nhà khoa học mới dám có suy nghĩ độc lập và đi đến cùng sự tìm tòi, khám phá của mình. Lý luận, khoa học không thể phát triển, nếu tư tưởng không được giải phóng, nếu thiếu thảo luận, tranh luận. Đối với khoa học, chỉ có một quyền uy tối thượng - đó là chân lý khoa học, là sự phù hợp giữa lý luận với thực tiễn. Cả quyền lực hành chính lẫn ý kiến đa số, cả uy tín cá nhân lẫn sự phẫn nộ đạo đức, đều không giải quyết được vấn đề đúng sai trong khoa học, đều không thay thế được chân lý khách quan. Trong tranh luận khoa học thường thì người thấp kém về trình độ khoa học lại dễ phẫn nộ đạo đức, thích đao to búa lớn. Trái lại, người có tiềm năng khoa học lớn thì cởi mở, đầy lòng tự tin. Đối với họ, sự trầm tĩnh và lý lẽ là vũ khí chiến thắng. Đương nhiên, trong tranh luận đôi khi có thể nảy lửa, to tiếng. Điều đó hoàn toàn cho phép (dĩ nhiên, nếu không to tiếng vẫn hơn). Điều cốt yếu là trong mọi trường hợp đều phải vì khoa học, thật sự vì khoa học, không vì bất cứ động cơ gì khác và phải biết nghe lẽ phải, không bảo thủ ý kiến.

Trên địa hạt học thuật nước nhà, rất tiếc là thiếu truyền thống biện luận, tranh luận. Cần phải học tập tranh luận. Mấy năm nay chúng ta đang làm điều đó. Phải có được văn hoá tranh luận nếu muốn phát triển tư duy khoa học. Văn hoá tranh luận, đạo đức trong khoa học nói chung, đòi hỏi trước hết phải có tính trung thực, thật thà, trong sáng - trung thực, thật thà, trong sáng như chính sự thật, như bản thân chân lý khoa học. Sự giả dối, việc bóp méo sự thật vì những động cơ lắt léo, thói cơ hội lựa chiều, huênh hoang là những kẻ thù tệ hại nhất của khoa học. Để đi đến chân lý, nhà nghiên cứu phải rất mực vô tư, khách quan. Chỉ có thái độ thực sự cầu thị, nhìn thẳng vào sự thật, dám từ bỏ những nhận thức cũ sai lầm, biết nghe lẽ phải, không định kiến, hết sức khiêm tốn, tôn trọng lẫn nhau, v.v. mới có thể mở mang được kiến thức và đóng góp được gì đó cho khoa học. Tôi vẫn giữ ý kiến nên có Tạp chí “Tranh luận”, chỉ cần có sự tổ chức và quản lý chặt chẽ thích hợp, không gò bó cứng nhắc, cũng không quá rộng rãi thênh thang.

Người lãnh đạo phải biết nghe lời “trái tai”. Lãnh đạo khoa học càng phải như vậy. Phải lãnh đạo khoa học bằng thái độ và phương pháp khoa học, hơn nữa, bằng chính nội dung khoa học, nếu đó là người lãnh đạo trực tiếp các hoạt động khoa học. Giữa các nhà khoa học với nhau cũng nên khiêm tốn lắng nghe nhau. Không có lý do gì khi đòi hỏi cho được dân chủ với mình, nhưng chính mình lại không tôn trọng quyền dân chủ của người khác. Trong thảo luận, tranh luận khoa học, nhiều khi một ý mới manh nha nhưng có thể mở ra cả một hướng tìm tòi đầy triển vọng. Có khi một câu đặt ngược lại vấn đề cũng có thể khiến cho mọi người phải rà soát, chỉnh lý lại những nhận thức hay kết luận tưởng đã xong xuôi. Trong khi chưa ai có được ý kiến về một vấn đề hóc búa nào đó mà có người nêu được một ý táo bạo buộc mọi người phải suy nghĩ đã là đáng quý. Thậm chí trong ý kiến một người đầy rẫy những nội dung sai nhưng có một nhân tố đúng nào đó, cũng nên trân trọng. Ở đây cũng vậy, ta phải học tập Lênin. Lênin đã từng tỉ mỉ, công phu và trân trọng khi làm việc chắt lọc “cái nhân hợp lý” từ hệ thống triết học duy tâm cực kỳ thần bí và rối rắm của Hêghen. Người viết: Đầu tiên phải gạn lấy ở đó phép biện chứng duy vật, và gạn như vậy thì sẽ có đến 9/10 vỏ, bã; phải lọc lấy cái hạt chân lý sâu sắc trong cái vỏ thần bí của chủ nghĩa Hêghen. Nghĩa là phải biết “đãi cát tìm vàng”, đừng “vì chậu nước bẩn mà đổ cả đứa trẻ”. Thái độ và phương pháp đó là hết sức cần thiết đối với chúng ta trong thời buổi lý luận còn bề bộn, ngổn ngang này.

Từ sau Đại hội VI của Đảng, sinh hoạt lý luận đã có được không khí dân chủ, thể hiện rõ nhất là trong việc thảo luận các dự thảo văn kiện trình các Đại hội VII, VIII, IX, X và XI của Đảng. Nhưng, dường như đã thành quy luật, sau thời gian dài thiếu dân chủ, nay mở ra lại nảy sinh một xu hướng trượt sang dân chủ quá trớn. Đã có người hiểu dân chủ là có thể nói, viết, truyền bá bất cứ điều gì mình muốn, bất chấp điều đó đúng hay sai, có lợi hay hại gì cho sự nghiệp chung của nhân dân, của đất nước. Thậm chí có người lợi dụng dân chủ để gây rối, để chống CNXH, chống chủ nghĩa Mác - Lênin, đả kích sự lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc lịch sử dân tộc. Những hiện tượng đó không nhiều, nhưng không thể không uốn nắn, bác bỏ.

Đối với hoạt động lý luận (lý luận cách mạng mà chúng ta đang bàn ở đây và nhất là đối với cán bộ lý luận là đảng viên), dân chủ không thể tách rời tính đảng. Trong nghiên cứu, thảo luận, cần dân chủ và tự do tư tưởng tối đa, nhưng phải dựa trên lý tưởng, mục tiêu, con đường mà Đảng và nhân dân đã lựa chọn, nghị quyết Đảng đã thông qua. Lênin khẳng định: Nói đừng tranh luận nữa và chấm hết, là không đúng. Nhưng tranh luận về mặt lý luận là một chuyện, còn đường lối chính trị của Đảng, cuộc đấu tranh chính trị, lại là một chuyện khác. Chúng ta không phải là một câu lạc bộ tranh luận.

Ở đây, có vấn đề nên hay không nên cho phép tồn tại các trường phái trong khoa học lý luận Mác - Lênin? Nếu hiểu trường phái là cách tiếp cận khác nhau về cùng một vấn đề cụ thể nào đó của thực tiễn, những kết luận khác nhau do áp dụng phương pháp khảo sát và nghiên cứu khác nhau... thì có thể có trường phái. Còn nếu hiểu trường phái theo nghĩa triết học và lý luận về khoa học xã hội thì không thể có nhiều trường phái trong cùng một hệ tư tưởng Mác - Lênin. Giữa những người cộng sản, mácxít, yêu nước, vì dân, không thể có sự phân chia trường phái lý luận. Bởi vì, về lý luận, tất cả chúng ta thuộc cùng một trường phái duy nhất, không thể đa nguyên mà nhất nguyên - đó là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, con đường mà lịch sử dân tộc và nhân dân ta đã lựa chọn.

Với những học thuyết xã hội ngoài chủ nghĩa Mác - Lênin, lâu nay thái độ chúng ta có chỗ không đúng - mang tinh thần biệt phái, không đọc, không nghiên cứu, phủ nhận tất cả, cho dù trong những học thuyết đó có thể có những nhân tố hợp lý, những giá trị chung toàn nhân loại. Những yếu tố ấy nếu biết gạn đục khơi trong, biết hấp thụ một cách có phê phán, sẽ làm giàu thêm bản thân chủ nghĩa Mác, và chính như vậy mới đúng tinh thần và thực chất học thuyết của chúng ta. Chủ nghĩa Mác không nằm ngoài, bên lề, mà phát triển chính giữa dòng lịch sử tư tưởng loài người. Nó là kết tinh tất cả những tinh hoa tư tưởng đó. Đối với những học thuyết khác - ngoài chủ nghĩa Mác - Lênin - về xã hội, cần được nghiên cứu trên quan điểm khách quan, biện chứng, có phê phán.

Giữa những người mácxít cộng sản, do trình độ nắm và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin có khác nhau, do nguồn thông tin nhận được khác nhau, do tiềm lực khoa học khác nhau, sự hiểu biết thực tiễn khác nhau, và do sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể không giống nhau, mà những kết luận và kiến giải có thể rất khác nhau trên cùng một vấn đề nào đó. Điều đó là tự nhiên, không có gì đáng ngại. Ngược lại, tình trạng xuôi chiều, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh mới là nguy hiểm, đáng sợ; bởi đó là một triệu chứng bệnh hoạn không thể chấp nhận trong đời sống tư tưởng - lý luận. Không có tranh luận thì khoa học không thể phát triển. Song, không cứ phải thành các trường phái hẳn hoi để cãi cọ, phê phán lẫn nhau, mới thúc đẩy phát triển khoa học. Khác với khoa học tự nhiên, khoa học lý luận Mác - Lênin là khoa học chính trị, quan hệ trực tiếp đến số phận các giai cấp, dân tộc, triệu triệu con người, vì thế không thể bắt xã hội phải trả giá cho những “thử nghiệm” của các trường phái lý luận. Kinh nghiệm Liên Xô, Đông Âu trước đây, từ “công khai dân chủ, không có vùng cấm” đến “đa nguyên ý kiến”, đến “đa nguyên chính trị”, đến “đa đảng đối lập”, đến sụp đổ với “tư duy chính trị mới” của Goócbachốp. Bài học chết người ấy có đáng suy ngẫm không?

Thay vì nói đến “trường phái” hay “đa nguyên ý kiến” (đã không ích gì, mà còn có thể có hại cho khoa học Mác - Lênin và sự nghiệp của Đảng), điều có ý nghĩa cơ bản, là thực hiện dân chủ, tự do tư tưởng, phát huy cao độ khả năng đóng góp của các nhà khoa học, các tập thể khoa học, mở ra địa bàn rộng rãi nhất và bầu không khí thuận lợi nhất cho những nỗ lực trí tuệ, thả sức cống hiến vì lợi ích dân tộc, nhân dân. Dân chủ hay không dân chủ, không phải ở chỗ có hay không có trường phái đa nguyên mà ở chỗ có được tự do tư tưởng hay không, những tiềm năng khoa học có được phát huy hay không. Do quy mô rộng lớn, tính đa dạng và mức độ phức tạp của các vấn đề lý luận và thực tiễn hiện nay, công tác lý luận dứt khoát không thể chỉ dựa vào một số người hạn hẹp. Đã một thời, trên thực tế, phần nhiều công việc nghiên cứu khoa học chỉ tập trung vào một số đồng chí, thường lại là các đồng chí phụ trách quản lý không đầu tư được nhiều thời gian, công sức cho nghiên cứu, còn nhiều anh em khác, tham gia rụt rè, ngại phát biểu ý kiến khác với các đồng chí đi trước. Tình trạng ấy cần được triệt để xoá bỏ, bởi vì thiếu tự do dân chủ thì không thể có bước tiến thực tế nào trong khoa học.

IV - XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÝ LUẬN

Kết quả công tác lý luận phụ thuộc vào nhiều yếu tố: xác định phương hướng nghiên cứu, tổ chức và quản lý quá trình nghiên cứu, kinh phí đầu tư, điều kiện thông tin, các chế độ chính sách, v.v., mỗi yếu tố có vai trò riêng, không thể coi nhẹ bất cứ yếu tố nào. Thí dụ: hiện đang nổi cộm lên vấn đề ngân sách đầu tư cho nghiên cứu khoa học nói chung, đặc biệt cho khoa học xã hội, cho nghiên cứu lý luận; vấn đề quan tâm và đổi mới các chính sách đối với cán bộ khoa học, cán bộ lý luận,v.v.. Những vấn đề đó nếu không được giải quyết, thì rất khó nói đến sự phát triển công tác lý luận và khoa học xã hội. Trong tất cả các vấn đề liên quan, xét đến cùng, việc xây dựng cho được một đội ngũ cán bộ lý luận có phẩm chất chính trị vững vàng, có bản lĩnh khoa học cao, đó là vấn đề then chốt nhất.

Những năm qua, cán bộ khoa học được đào tạo không ít, cả đào tạo trong nước và đào tạo ở nước ngoài. Tuy nhiên, đáng quan tâm hơn cả là vấn đề chất lượng đào tạo. Cần tiến hành một cuộc tổng kết sâu sắc về công tác đào tạo cán bộ lý luận và khoa học xã hội tại các cơ quan cơ sở có chức năng đào tạo sau và trên đại học. Phải tổng kết từ khâu tuyển sinh để bảo đảm chọn đúng người có năng khiếu và triển vọng thành tài. Đặc biệt, phải xem lại và đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo. Đối với di sản kinh điển Mác - Lênin, cần được đi sâu, nắm chắc có hệ thống và nhuần nhuyễn hơn nữa trên quan điểm lịch sử và quan điểm phát triển sáng tạo gắn với những điều kiện hiện nay. Coi trọng hơn nữa các môn lịch sử tư tưởng, văn hóa dân tộc và lịch sử tư tưởng, văn hóa Đông, Tây. Các trào lưu tư tưởng ngoài chủ nghĩa Mác - Lênin, các học thuyết tư sản hiện đại cần được dành thời gian thích đáng hơn trong việc nghiên cứu và cần được nghiên cứu có phê phán. Trong chương trình nghiên cứu không coi nhẹ phê phán chủ nghĩa chống cộng, các trào lưu cơ hội và chủ nghĩa xét lại thời nay, phê phán chủ nghĩa giáo điều, rập khuôn, cả cũ lẫn mới.

Tất nhiên, mục tiêu của các luận án khoa học phần lớn phải tập trung vào giải quyết những vấn đề đặt ra từ thực tiễn cách mạng và con đường phát triển theo định hướng XHCN của nước ta, song, cán bộ lý luận phải có học vấn uyên bác. Thiếu cái nền rộng đó, thì khi giải quyết mỗi vấn đề cụ thể, không tránh khỏi thiển cận, hời hợt, sơ lược, giản đơn. Để có trình độ uyên bác, trường lớp giúp một phần, còn phần chính phải do quá trình tự học, tự đào tạo suốt cả đời của bản thân người cán bộ lý luận. Không thường xuyên tự học, tự nâng cao trình độ thì khó mà làm cán bộ lý luận.

Vấn đề sử dụng đội ngũ cán bộ lý luận cũng đang là vấn đề lớn. Trước hết là sử dụng tổ chức, chứ không chỉ từng cá nhân, mặc dù ở đây vai trò cá nhân từng nhà khoa học rất quan trọng. Gần đây các cơ quan khoa học được lôi cuốn ngày càng nhiều vào quá trình chuẩn bị các quyết định, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Đơn đặt hàng xã hội đến với các tập thể khoa học cũng không ít. Vấn đề bây giờ xem ra không phải ở chỗ được sử dụng hay không được sử dụng, mà ở khả năng đóng góp của đội ngũ lý luận và ở cách sử dụng thế nào để thu được những sản phẩm khoa học có chất lượng cao. Và điều này đụng cả đến vấn đề quản lý các chương trình đề tài nghiên cứu. Hiện đang triển khai hàng chục chương trình, hàng trăm đề tài về khoa học xã hội với ngân sách hàng chục tỷ đồng. Kết quả thực hiện như thế nào, có bảo đảm yêu cầu cao về chất lượng hay không, có bảo đảm vừa phục vụ lâu dài vừa đáp ứng kịp thời những yêu cầu trước mắt hay không, tất cả điều đó phụ thuộc vào khả năng tổ chức quản lý, sử dụng con người - cán bộ khoa học; và trách nhiệm trước hết là ở các ban chủ nhiệm chương trình, chủ nhiệm đề tài.

Về phần mình, người cán bộ khoa học đóng vai trò không gì thay thế được. Người cán bộ khoa học cần có kiến thức cơ bản vững chắc, hiểu biết sâu rộng môn khoa học mình theo đuổi, nắm chắc kiến thức liên ngành, thường xuyên tiếp cận những tri thức mới của thời đại và thực tiễn chính trị xã hội có liên quan. Lại còn phải có sự thôi thúc nội tâm, khát khao tìm tòi chân lý, có ước mơ và hoài bão lớn. Sản phẩm khoa học là con đẻ của chính mỗi người. Sẽ không có sáng tạo khoa học nào nếu như thiếu say sưa nghiên cứu, thiếu sự khổ công trăn trở, nhẫn nại và kiên trì vượt qua mọi trở ngại. Nhiều khi chỉ cần nản chí, dễ dãi một chút với bản thân, đã có thể bỏ dở hoặc làm giảm nghiêm trọng giá trị của một công trình thậm chí gần hoàn thành.

Không có nhân tố bên ngoài nào có thể thay thế cho nỗ lực chủ quan trong quá trình hoạt động tư duy của cá nhân nhà khoa học. Song, như thế không có nghĩa là nhà khoa học có thể tách khỏi môi trường tập thể khoa học mà mình sống và làm việc. Đây chủ yếu là môi trường tư tưởng và trí tuệ khoa học, phát huy sức sáng tạo, nơi trau dồi trình độ, rèn luyện phẩm chất. Một tập thể khoa học mà ở đó mỗi cá nhân sống một cách dễ chịu, thoải mái, tin cậy lẫn nhau, chân thành đồng chí; một tập thể rất nghiêm khắc trong nguyên tắc và trong những đòi hỏi, đánh giá phương diện khoa học, nhưng lại rất cởi mở, nhẹ nhàng, thoải mái, độ lượng trong ứng xử tình người - một tập thể như thế sẽ nhân sức mạnh của từng người lên gấp bội.

Thực tế cho thấy, tập thể khoa học nào tổ chức tốt, đoàn kết, thân ái, dân chủ, bình đẳng trong khoa học, thì ở đó có phong trào nghiên cứu khoa học tốt, cả tập thể như chắp cánh cho từng cá nhân. Còn đơn vị nào không được tổ chức tốt, thì cả tập thể, từng người đều giảm đáng kể sức mạnh và khả năng sáng tạo. ở nơi nào mà bầu không khí tâm lý không tốt, sa lầy vào những chuyện cá nhân không đâu, thì càng khó mà nói đến thành quả sáng tạo khoa học.

Phát huy trí tuệ tập thể, nhưng phải có những đầu đàn trong khoa học. Thiếu những cán bộ đầu đàn giỏi, thì trình độ chuyên môn của tập thể khó tránh khỏi giẫm chân tại chỗ, thấp mãi và thấp dần đi. Trong khoa học, không thể có chuyện “ba anh thợ da bằng Gia Cát Lượng”, không thể lấy số lượng bù cho chất lượng. Hiện nay, trên lĩnh vực lý luận, xem ra chúng ta chưa có mấy chuyên gia đầu ngành thật sự có tầm cỡ quốc gia, chứ chưa dám nói rộng hơn. Vì vậy, cần phấn đấu, bồi dưỡng cho được một số nhân tài, chuyên gia giỏi, từ trong mỗi tập thể khoa học lớn, nhỏ. Cần có chính sách và những biện pháp đặc biệt để mở một vài khoá đặc biệt đào tạo lớp cán bộ trẻ thật sự có triển vọng trở thành người tài làm đầu đàn trên một số lĩnh vực khoa học lý luận mũi nhọn.

Cần sớm đổi mới các chính sách đãi ngộ đối với cán bộ lý luận, cán bộ khoa học nói chung. Trong cải cách chế độ tiền lương, phải chăng nên từ bỏ quan điểm sắp xếp cán bộ khoa học theo khung bậc hành chính, bởi cách này chỉ khuyến khích người ta “làm quan” chứ không ai muốn làm khoa học.

Tăng cường cung cấp thông tin, mở rộng giao lưu quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ khoa học và các cơ quan khoa học tiếp cận rộng rãi và nhanh nhạy với những phát triển mới của thế giới, đó là điều kiện không thể thiếu trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ lý luận giỏi.

Những văn kiện Đại hội XI của Đảng với Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từ 2011-2020 đặt ra những đòi hỏi rất cao cho sự nghiệp đổi mới vì sự phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ, trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Trên mặt trận tư tưởng rộng lớn, công tác lý luận cố gắng phấn đấu làm tốt vai trò có tầm quan trọng then chốt của mình.

___________________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 10, 11-2011

(1)V.I.Lênin: Toàn tập, t.6, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.32.

(2) V.I. Lênin: Toàn tập, t.1, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.421.

GS Nguyễn Đức Bình

 

Các bài viết khác