Trang chủ    Quốc tế    Đổi mới công tác quản lý xã hội ở Trung Quốc
Thứ năm, 22 Tháng 5 2014 14:37
2630 Lượt xem

Đổi mới công tác quản lý xã hội ở Trung Quốc

(LLCT) - Trong hơn 30 năm cải cách và đổi mới, Trung Quốc đã đạt được những thành tựu chưa từng có. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế 8,5 - 9%/năm, Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế thứ hai thế giới, dự trữ ngoại tệ đạt 3.500 tỷ USD, đời sống vật chất và tinh thần của phần lớn nhân dân không ngừng tăng lên. Trung Quốc đang phấn đấu xây dựng một xã hội phát triển hài hòa: hài hòa giữa con người và tự nhiên, hài hoà giữa con người với xã hội và giữa con người với con người. Để đạt được mục tiêu chiến lược này, có rất nhiều vấn đề liên quan đến hoạt động quản lý xã hội cần phải giải quyết.

Khi nghiên cứu về kinh tế thị trường, các nhà lý luận Trung Quốc đã khẳng định: “Cơ chế thị trường có thể vận hành trong điều kiện các nước xã hội chủ nghĩa” và từ đó Trung Quốc đã xây dựng thể chế kinh tế thị trường XHCN. Trong nhiều năm lại đây, thể chế kinh tế thị trường XHCN Trung Quốc đã và đang hình thành, phát triển và đạt hiệu quả. Tuy vậy, khi chuyển sang thể chế kinh tế thị trường thì chức năng quản lý của Chính phủ đã thay đổi rất nhiều. Từ là cơ quan trực tiếp điều hành nền kinh tế, Chính phủ đã đóng vai trò là cơ quan giám sát và điều tiết; bao gồm: Điều tiết kinh tế, giám sát thị trường quản lý xã hội và phục vụ công cộng. Như vậy, một trong bốn chức năng quan trọng của Chính phủ là quản lý xã hội.

Khi đưa ra lý luận về phát triển xã hội hài hoà, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nêu ra một số nét chính của xã hội đó là:

(1). Một xã hội công bằng; (2). Một xã hội dân chủ; (3). Một xã hội tràn đầy sức sống; (4). Một xã hội đáng tin cậy; (5). Một xã hội yên ổn có trật tự; (6). Một xã hội trong đó con người sống hài hoà với tự nhiên.

Cùng với những thay đổi trong xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của Trung Quốc, Đảng và Nhà nước Trung Quốc đang không ngừng soạn thảo chính sách, đưa ra các bước tiến hành trong công tác tăng cường và đổi mới quản lý xã hội. Nhưng so sánh với xây dựng kinh tế và cải cách cơ chế kinh tế, công tác quản lý xã hội phát triển tương đối chậm. Đặc biệt là Trung Quốc đang đối mặt với sự chuyển đổi kép trong cơ chế và kết cấu: đối mặt với công nghiệp hoá, thị trường hóa, đô thị hóa, thông tin hóa và toàn cầu hóa; đang cùng lúc tiến hành đẩy nhanh sự chuyển đổi trong cơ chế kinh tế, kết cấu xã hội biến động, cục diện lợi ích có những điều chỉnh mạnh mẽ, tư tưởng quan niệm thay đổi sâu sắc.

Quản lý xã hội ở Trung Quốc đang nổi lên trở thành vấn đề trung tâm trong chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế-xã hội theo “Quy hoạch 5 năm lần thứ 12” (2011 - 2015). Điều này cho thấy, vấn đề quản lý xã hội được Đảng Cộng sản Trung Quốc đặt ra như một nhiệm vụ quan trọng trong công tác lãnh đạo xã hội của Đảng.

1. Nội dung hoạt động quản lý xã hội

Cùng với cải cách mở cửa, xã hội Trung Quốc đã có nhiều thay đổi. Mặc dù kinh tế đã tăng trưởng cao, thu nhập và đời sống kinh tế đã được nâng lên nhưng lại xuất hiện rất nhiều vấn đề xã hội bức xúc liên quan đến cuộc sống của con người cần được giải quyết.

- Các nguồn lực và tài nguyên phân bố không đều giữa các khu vực và bị sử dụng lãng phí, không hiệu quả.

- Sự phân tầng, phân hoá và phân cực xã hội ngày càng sâu sắc. Từ chỗ Trung Quốc chỉ có 2 giai 1 tầng (giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức) đã xuất hiện nhiều giai tầng xã hội (10 giai tầng xã hội).

- Cục diện lợi ích trong xã hội Trung Quốc đang thay đổi: Có một bộ phận nhân dân được hưởng lợi nhiều hơn từ cải cách, tuy nhiên vẫn còn bộ phận khác được hưởng lợi ít hơn. Phân hoá giàu nghèo ngày càng sâu sắc.

- Quan niệm truyền thống và quan niệm hiện đại đan xen nhau. Sự chuyển đổi xã hội của Trung Quốc là “sự đan xen song chuyển”, tức xã hội chuyển đổi và thể chế chuyển đổi đan xen với nhau. Một mặt, vừa cần hoàn thành nhiệm vụ chuyển đổi xã hội, từ xã hội truyền thống đi lên xã hội hiện đại, từ xã hội nông thôn đi lên xã hội công nghiệp; đồng thời, còn cần đối mặt với vấn đề cải cách thể chế, tức từ kinh tế kế hoạch chuyển sang kinh tế thị trường.

- Chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường cũng làm xuất hiện nhiều sự chồng chéo trong cơ chế quản lý kinh tế và quản lý xã hội. Hiện nay, Trung Quốc đã xuất hiệnsự thay đổi chế độ sở hữu gắn liền xuất hiện chủ thể kinh tế mới. Tốc độ phân hoá tầng lớp xã hội nhanh hơn, số lượng lớn lĩnh vực quản lý xã hội mới xuất hiện như tổ chức kinh tế mới, tổ chức xã hội mới. Trong những tổ chức kinh tế phi nhà nước tồn tại vấn đề coi nhẹ các quyền lợi hợp pháp và chăm sóc nhân đạo cho nhân công; trong các tổ chức xã hội cùng tồn tại những sự việc vi phạm kỷ cương pháp luật. Vì vậy, trong tình hình các quần thể xã hội và tổ chức xã hội mới không ngừng xuất hiện tại Trung Quốc, nếu không tiến hành tổ chức và quản lý có hiệu quả, vận hành xã hội rất dễ xuất hiện trạng thái mất trật tự. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết tăng cường và hoàn thiện quản lý các tổ chức kinh tế và tổ chức xã hội phi nhà nước, đẩy mạnh tổ chức xã hội phát triển lành mạnh có tổ chức. Đồng thời, cùng với sự giảm dần của cơ chế kế hoạch, việc lấy nhà nước làm cơ sở cho cơ chế an sinh xã hội cũng đang dần giải thể, đặt ra yêu cầu xây dựng một tổ chức quản lý xã hội mới, nghĩa là cần tăng cường và hoàn thiện hệ thống quản lý và dịch vụ xã hội cơ sở. Cùng với nền kinh tế thị trường không ngừng được hoàn thiện, ý thức về kinh tế thị trường của người dân tăng cao rõ rệt, quan niệm về mở cửa, cạnh tranh, hiệu quả và lợi ích đã đi vào lòng người, nhưng cũng xuất hiện hiện tượng theo đuổi lợi ích vật chất, thậm chí tiến hành cạnh tranh không từ thủ đoạn.

- Số người sống ở thành thị đạt 51,2%. Trung Quốc là nước nông nghiệp đang chuyển thành nước công nghiệp. Tuy nhiên, sức ép việc làm tăng, mâu thuẫn chủ thợ bắt đầu thể hiện. Trong thời gian tới, mâu thuẫn tính kết cấu việc làm của Trung Quốc sẽ trở nên nổi cộm, ba mâu thuẫn lớn: sinh viên thanh niên tìm việc làm, lao động dư thừa nông thôn chuyển đổi việc làm và nhân viên thất nghiệp tái làm việc sẽ ngày càng gay gắt. Tính đến cuối năm 2011, tỷ lệ thất nghiệp đăng ký ở đô thị của Trung Quốc là 4,1%, nếu cộng thêm hàng loạt người “thất nghiệp ngầm”, tỷ lệ này sẽ cao hơn. Đồng thời, hiện tượng xâm phạm lợi ích hợp pháp người lao động ngày càng cao, đấu tranh của người lao động có xu thế tăng mạnh, mâu thuẫn trong quan hệ lao động nổi lên. 

- Đô thị hoá diễn ra với tốc độ nhanh chóng đang gây ra nhiều vấn đề xã hội nan giải. Với 260 triệu dân từ nông thôn di chuyển ra thành thị. Do đặc tính của quá trình xã hội chuyển đổi tại Trung Quốc, cơ cấu xã hội nhị nguyên vẫn chưa hoàn toàn bị phá bỏ, ngược lại, về mặt khách quan, nó đã diễn biến thành “xã hội tam nguyên”, giữa nông thôn và thành thị đã xuất hiện nhóm quần thể mới có thân phận nông dân - công nhân, những người này không phải nông dân bởi họ đã thoát ly khỏi đất đai nông nghiệp, nhưng cũng không phải là người thành phố bởi họ đang sống ở vùng đệm giữa thành phố và nông thôn, không có hộ khẩu thành phố và cách sinh hoạt thành thị. Mặc dù tiến trình đô thị hóa ở các nước khác trên thế giới cũng cần giảm bớt nông dân, tăng thêm thị dân, nhưng Trung Quốc vẫn chưa làm được điều này và cho ra đời một nhóm nông dân - công nhân.

- Xã hội Trung Quốc từ xã hội khép kín thành xã hội mở. Quá trình quốc tế  hoá toàn cầu hoá với sự giao thoa và va đập giữa các nền văn hoá, các hệ tư tưởng cũng đòi hỏi phải đổi mới quản lý xã hội. Tổng thể thực lực nền kinh tế tăng trưởng rõ rệt, năm 2010 tổng thể thực lực của Trung Quốc vượt qua Nhật Bản, trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới. Nhưng đằng sau sự phát triển kinh tế, Trung Quốc phải trả những cái giá khá đắt như: công nhân bị sa thải thất nghiệp, ô nhiễm môi trường, tài nguyên cạn kiệt và sự cố trong an toàn sản xuất xảy ra thường xuyên. Những vấn đề xung đột chủ và thợ, tranh chấp lao động không ngừng gia tăng. Những sự cố trong an toàn sản xuất như sập hầm lò, sập cầu diễn ra thường xuyên. Gây ra những tổn thất to lớn về sức khoẻ và tính mạng của nhân dân, điều này cũng đưa ra một thách thức nghiêm trọng mới đối với công tác quản lý xã hội của Trung Quốc.

-  Phát triển kinh tế càng mạnh, càng xuất hiện nhiều nhu cầu xã hội mới. Khi kinh tế phát triển thì ngoài nhu cầu thiết yếu như ăn mặc, ở, đi lại... thì con người còn có nhiều nhu cầu khác như: nhu cầu an sinh, yêu thương, khẳng định và thực hiện các giá trị của mình, đòi hỏi phải được đáp ứng. Do vậy, quản lý kinh tế là hướng tới việc thực hiện hợp lý lợi ích cá nhân còn quản lý xã hội là hướng vào lợi ích chung của xã hội.

Tất cả những vấn đề nêu trên đòi hỏi phải đổi mới hoạt động quản lý xã hội. Tập trung theo tinh thần vì chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Đảng Cộng sản Trung Quốc đặc biệt chú trọng công tác quản lý xã hội, khẳng định, quản lý xã hội có hiệu quả liên quan đến địa vị cầm quyền của Đảng, đến ổn định lâu dài của xã hội, đến an cư lạc nghiệp của nhân dân... Khái niệm quản lý xã hội được hiểulà hoạt động của Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội nhằm thúc đẩy hệ thống xã hội vận động và phát triển nhịp nhàng bằng các biện pháp hành chính, giáo dục tư tưởng đạo đức, xây dựng các quy phạm xã hội.

Như vậy, chủ thể của quản lý xã hội là các tổ chức Đảng, các cơ quan Nhà nước và các tổ chức xã hội. Phương tiện của quản lý xã hội là hệ thống pháp luật, các quy phạm xã hội, công tác giáo dục quần chúng và các nguồn lực mà Nhà nước đầu tư. Đối tượng của quản lý xã hội là con người, công việc. Cơ chế của quản lý xã hội là các cấp uỷ Đảng lãnh đạo, cơ quan Nhà nước quản lý và các tổ chức xã hội tham dự. Các hình thức quản lý xã hội đa dạng; có 3 nhóm chính: (1). Sử dụng biện pháp hành chính; (2). Giáo dục tư tưởng, đạo đức; (3). Xây dựng các quy phạm bắt buộc và không bắt buộc để các tổ chức xã hội và người dân theo đó mà hành động.

2. Những nội dung cơ bản của đổi mới quản lý xã hội ở Trung Quốc

Từ yêu cầu thực tiễn đã quy định nội dung cơ bản của đổi mới quản lý xã hội ở Trung Quốc là chuyển đổi vai trò và chức năng quản lý xã hội của Chính phủ. Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, các cơ quan nhà nước đã bao biện các công việc quản lý từ hoạt động kinh tế đến các hoạt động sinh hoạt của cá nhân. Ngày nay, các quan hệ giữa Chính phủ và thị trường đã có nhiều thay đổi. Nhưng chức năng kinh doanh đã trả lại cho các đơn vị tổ chức doanh nghiệp kinh tế thực hiện. Rất nhiều chức năng quản lý xã hội đã chuyển giao cho các tổ chức xã hội thực hiện theo ba nguyên tắc:

+ Miễn là những công việc mà doanh nghiệp và thị trường làm tốt thì giao cho doanh nghiệp và thị trường.

+ Miễn là những công việc giao cho tổ chức xã hội làm tốt thì giao cho tổ chức xã hội.

+ Miễn là những công việc quản lý xã hội mà tổ chức cơ sở làm được thì giao cho tổ chức cơ sở.

Chính phủ chỉ còn lại những chức năng mang tính vĩ mô như xác định chính sách và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Trên cơ sở nhận thức sâu sắc các quy luật xã hội, các quan hệ kinh tế - xã hội ở phạm vi toàn quốc và quan hệ quốc tế, Chính phủ nêu ra những mục tiêu, quan điểm và các chính sách phát triển. Sau đó các ban ngành sẽ thể chế hoá chính sách, chiến lược bằng các pháp luật và các văn bản pháp quy. Các tổ chức xã hội hoạt động theo sự hướng dẫn của các cơ quan làm chức năng quản lý nhà nước về xã hội. Chức năng chính của Chính phủ là giám sát các hoạt động của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Các cơ quan ban ngành trong hệ thống chính trị đều tham dự vào hoạt động quản lý xã hội.

Để thực hiện đổi mới quản lý xã hội, cơ cấu của Quốc hội và của Chính phủ cũng đã thay đổi, trong đó có sự phân công rõ rệt, theo hướng giảm chức năng và quyền hạn của Chính phủ, đã hình thành một cơ chế hợp tác giữa Chính phủ và các tổ chức xã hội. Những việc nào Chính phủ làm tốt thì để Chính phủ làm, những việc mà tổ chức xã hội làm tốt thì để tổ chức xã hội làm. Các hoạt động dịch vụ công cộng cũng được xã hội hoá ở một mức độ nhất định. Nhà nước gia tăng đầu tư và định hướng để nâng cao hoạt động dịch vụ công. Các tổ chức xã hội tham gia một số hoạt động dịch vụ đã làm cho hoạt động này ngày càng có hiệu quả hơn. Vì có nhiều tổ chức xã hội cùng tham dự dịch vụ công nên hạn chế được sự độc quyền.

Với chủ trương lấy các đơn vị cơ sở làm nòng cốt trong quản lý xã hội và trong các hoạt động dịch vụ công, Trung Quốc xây dựng các tổ chức cơ sở, phát huy dân chủ ở cơ sở, phát huy sự sáng tạo ở cơ sở là định hướng lớn trong đổi mới quản lý xã hội. Chính phủ gia tăng đầu tư để xây dựng các khu dân cư. Tổ chức cơ sở ở phường, xã (làng) quản lý rất nhiều các hoạt động như quản lý nhân khẩu, các hoạt động công ích.

Các tổ chức quản lý xã hội ở Trung Quốc hiện nay là tổ chức phi chính phủ và phi lợi nhuận. Hoạt động của các tổ chức này không phải là hoạt động hành chính, cũng không phải là tổ chức đối lập với Chính phủ. Nó ra đời để thực hiện các hoạt động công ích. Nhiều tổ chức xã hội ra đời vừa góp phần quản lý xã hội vừa góp phần thực hiện các dịch vụ công. Các hoạt động công ích của các tổ chức này nhằm đáp ứng những nhu cầu đa tầng của nhân dân, đặc biệt là nhu cầu của những nhóm dân cư đặc thù. Đối với nhiều nhóm xã hội đặc thù, nhu cầu của họ có khác biệt và đa dạng nên Chính phủ không thể đáp ứng hết được. Mỗi tổ chức xã hội ra đời đều có tôn chỉ, mục đích và điều lệ hoạt động. Dù hình thức rất đa dạng nhưng đều nhằm ba mục tiêu là: (1). Tham gia quản lý xã hội; (2). Tham gia các hoạt động dịch vụ công; (3). Tham gia đáp ứng các nhu cầu của các nhóm dân cư đặc thù. Hiện nay ở Trung Quốc đã hình thành 460 nghìn tổ chức xã hội nhưng mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu quản lý xã hội và dịch vụ công. Theo kinh nghiệm của các nước phát triển, thường cứ 10 triệu dân phải có 50 tổ chức xã hội.

Ở Trung Quốc hiện nay mỗi tổ chức xã hội phải chịu sự quản lý của một cơ quan hành chính nào đó hoặc một cơ quan hành chính nào đó bảo lãnh mới được hoạt động. Điều này gây khó cho việc hình thành các tổ chức xã hội. Riêng ở Thâm Quyến đã cho phép các tổ chức xã hội tự đăng ký hoạt động. Tổ chức xã hội chỉ cần đăng ký ở cơ quan dân chính là có thể được tham gia hoạt động. Hiện nay, Trung Quốc đang làm thí điểm ở 35 địa phương về các hình thức tổ chức xã hội. Nếu thí điểm này thành công thì mô hình sẽ được nhân rộng.

Đồng thời, ở tầm  quản lý xã hội vĩ mô, Trung Quốc nhấn mạnh đến tính đồng bộ và hệ thống: Uỷ ban quản lý tổng hợp; Chính phủ có Văn phòng tổng hợp về quản lý xã hội. Bộ Dân chính đóng vai trò đầu tư xây dựng hạ tầng để hỗ trợ cho hoạt động quản lý xã hội.

3. Một số kinh nghiệm từ đổi mới quản lý xã hội ở Trung Quốc

Một là, quản lý xã hội thuộc hoạt động quản lý và phục vụ của cơ quan sự vụ công cộng chính quyền, ngoài các tổ chức chính trị và xã hội của Nhà nước. Mục đích của quản lý xã hội là thông qua sự thỏa thuận, điều chỉnh lợi ích xã hội, hóa giải mâu thuẫn xã hội để thúc đẩy xã hội phát triển hài hòa, có trật tự

Hai là, sự sáng tạo, đổi mới trong quản lý xã hội do Đảng cầm quyền phát huy vai trò then chốt. Do vậy, cần làm tốt việc thiết kế thượng tầng về quản lý xã hội, tức là vạch ra quy hoạch tổng thể cho quản lý xã hội, thông qua quy hoạch để xác định biên giới, nội dung và khung của quản lý.

Ba là, các hoạt động quản lý xã hội của Trung Quốc không xuất phát từ ý chí chủ quan hoặc từ lý thuyết mà bắt đầu từ hiện thực cuộc sống. Cuộc sống đặt ra vấn đề gì thì nghiên cứu để giải quyết.

Bốn là, cách thức giải quyết các vấn đề quản lý xã hội đều phải dựa vào các căn cứ khoa học. Đại hội XVIII Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nêu quan điểm:  Phát triển dựa trên  khoa học. Hầu như các vấn đề xã hội đều được soi rọi bởi những tư tưởng khoa học mới nhất của nhân loại và  được giải quyết trên cơ sở những kết quả nghiên cứu  khoa học mới nhất.

Năm là, phát huy cao độ vai trò của các tổ chức xã hội trên cơ sở sự định hướng và hỗ trợ mọi mặt của chính quyền các cấp.

Sáu là, hết sức thận trọng, vừa làm vừa nghiên cứu tổng kết để tránh những rủi ro.

Bảy là, mọi hoạt động quản lý xã hội và cải cách quản lý xã hội đều hướng đến việc nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, vì nhân dân và để mọi người dân đều được hưởng lợi từ cải cách, đổi mới. Nói cho cùng là quản lý và phục vụ con người, hạt nhân của nó cần thể hiện lấy dân làm gốc, coi quản lý xã hội thuộc về dịch vụ xã hội.

Tám là, học tập kinh nghiệm nước ngoài với một tinh thần cầu thị, tránh giáo điều máy móc; vận dụng kinh nghiệm bằng thí điểm có tổng kết. Làm thí điểm ở một số nơi để tìm ra các phương pháp phù hợp nhất.

Những kinh nghiệm về hoạt động quản lý xã hội ở Trung Quốc có thể nghiên cứu để vận dụng vào điều kiện của Việt Nam hiện nay bởi vì giữa hai nước có rất nhiều điểm tương đồng. Việc kết hợp cơ sở lý luận với quan điểm thực tiễn trong hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước là cách làm rất hiệu quả. Thiết nghĩ, hoạt động nghiên cứu khoa học ở Việt Nam cần quan tâm nghiên cứu lĩnh vực quản lý xã hội, tạo ra sản phẩm khoa học phục vụ trực tiếp việc hoạch định chính sách.

___________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 11-2013

1. Phùng Thị Huệ (2010): “Mô hình phát triển xã hội và quản lý xã hội của Trung Quốc và một số nước Đông Á - kinh nghiệm và ý nghĩa đối với Việt Nam” KX.02.11/06-10.

2. TTXVN: “Những thách thức lớn của Đảng Cộng sản Trung Quốc”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 30-6-2011.

 

PGS,TS Lê Ngọc Tòng

Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

 

 

Các bài viết khác