Trang chủ    Thực tiễn

Thực tiễn

Hoàn thiện thiết chế chủ tịch nước nhằm đảm bảo vai trò nguyên thủ quốc gia

(LLCT) - Chế định Chủ tịch nước (CTN) là một trong những nội dung quan trọng của Hiến pháp Việt Nam, quy định về nguyên thủ quốc gia - người đứng đầu Nhà nước, đại diện cho quốc gia về đối nội, đối ngoại. Ở nước ta, chế định CTN trong các bản Hiếp pháp cũng có sự khác biệt nhất định, tùy vào từng thời điểm lịch sử.

Vấn đề đặt ra từ các quy định về chính quyền địa phương

(LLCT) - Trong bối cảnh hiện nay, sửa đổi, bổ sung các quy định của Hiến pháp năm 1992 là tiền đề pháp lý quan trọng để đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương các cấp. Tuy nhiên, một số quy định tại Điều 115 và Điều 116 Chương IX của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 chưa hợp lý và khó có thể tạo điều kiện cho việc đổi mới cơ bản mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở nước ta hiện nay.  

Về chế định quyền làm việc

(LLCT) - Trong luật nhân quyền quốc tế, quyền làm việc được chế định chủ yếu trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (1948), Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR, năm 1966) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR, năm 1966). Các điều ước quốc tế, nhìn chung, xác định nội dung quyền làm việc của tất cả mọi người, không loại trừ ai. Sửa đổi Hiến pháp 1992 cần làm rõ chế định quyền làm việc này. 

Góp ý hoàn thiện quy định về tổ chức chính quyền địa phương

(LLCT)Dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã cố gắng thể hiện tư tưởng đổi mới, thiết kế mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính - lãnh thổ “phù hợp với đặc điểm của từng đơn vị hành chính lãnh thổ và phân cấp quản lý”. Tuy nhiên có thể thấy, ngoài tên Chương được thay đổi từ “Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân” sang “Chính quyền địa phương”, thêm từ lãnh thổ để có khái niệm “đơn vị hành chính lãnh thổ”, không quy định Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu và mệnh đề bổ sung vào Khoản 2 Điều 115 vừa nêu trên, còn nội dung các quy định của các điều trong Chương hầu như vẫn giữ nguyên. 

Lực lượng vũ trang nhân dân trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992

(LLCT) - Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam về chính trị, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam luôn luôn là nguyên tắc cơ bản, là nhân tố quyết định sự vững mạnh về chính trị của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.    

Một số ý kiến về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992

(LLCT) - Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 có nhiều điểm mới về nội dung và kết cấu cũng như kỹ thuật lập hiến. Việc sửa đổi, bổ sung đã đáp ứng được yêu cầu tiếp tục khẳng định và làm rõ hơn những nội dung cơ bản có tính bản chất của chế độ xã hội XHCN. Kết cấu của Dự thảo Hiến pháp có 11 chương 124 điều và trật tự sắp xếp các chương hợp lý, ngắn gọn, khái quát hơn. Tuy nhiên, đối chiếu với những nguyên tắc, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân cần chú ý một số vấn đề.   

Tổ chức chính quyền địa phương - kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam

(LLCT)Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (1994 và 2003) đã đặt cơ sở pháp lý cho việc xây dựng chính quyền địa phương nhằm hoàn thiện bộ máy nhà nước Việt Nam. Tuy nhiên, cách thức tổ chức chính quyền địa phương trong những năm qua vẫn còn một số điểm hạn chế nhất định. Xuất phát từ thực tế đó, với mục đích cung cấp những thông tin hữu ích góp phần hoàn thiện dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 và tiến tới xây dựng Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật hoạt động giám sát của HĐND các cấp, ngày 10-1-2013, Viện Nghiên cứu lập pháp đã phối hợp với Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tổ chức Hội thảo khoa học: “Tổ chức chính quyền địa phương - Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam” tại thành phố Cần Thơ. Dưới đây là một số nội dung chính của Hội thảo.

 

Cần khẳng định rõ vai trò của văn hóa – văn nghệ

(LLCT)- Sửa đổi Hiến pháp năm 1992 là một việc làm có ý nghĩa cấp thiết để điều chỉnh, thay đổi những điểm còn bất cập, hạn chế cho phù hợp với tình hình mới, bổ sung, phát triển những điều khoản mới, làm cơ sở pháp lý cho việc ban hành các đạo luật và là căn cứ quan trọng để các cơ quan chức năng và người dân thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình với Tổ quốc. 

Bổ sung, sửa đổi một số quy định về quyền con người trong Hiến pháp năm 1992

(LLCT) - Qua 20 năm thực hiện Hiến pháp năm 1992, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về bảo đảm quyền con người trên lĩnh vực dân sự, chính trị cũng như lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa. Hiện nay, đứng trước yêu cầu mới của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN với những tác động đa chiều của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, Hiến pháp năm 1992 cần được sửa đổi, bổ sung một số nội dung, quy định về quyền con người, phù hợp với quan điểm: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”(1).

Thực thi quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo Hiến pháp 1992 và đề xuất hướng sửa đổi, bổ sung

(LLCT) - Hiến pháp 1992 được thông qua trong bối cảnh đất nước đang trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo. Sau 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới và gần 20 năm thi hành các quy định của Hiến pháp về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trên thực tế, đã đạt được nhiều kết quả.

Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 về vấn đề tôn giáo

( LLCT) - Có thể thấyHiến pháp 1992 là bản Hiến pháp thoáng mở nhất trên lĩnh vực tôn giáo, vì vậy, theo tôi việc sửa chữa, bổ sung dù không nhiều, tuy nhiên, vẫn nên điều chỉnh cho phù hợp với quan điểm mới của Đảng về tôn giáo.

Góp ý kiến sửa đổi quy định về nhà nước

(LLCT) - Điều 2 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp ghi: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Từ nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn đặt ra vấn đề nhân dân và giai cấp trong nhân dân, giai cấp giữ vai trò nền tảng và đội ngũ giữ vai trò nền tảng cần được thể hiện như thế nào trong Hiến pháp.  

Vấn đề quyền hành pháp trong sửa đổi Hiến pháp Việt Nam

(LLCT) - Trong xã hội dân chủ, quyền lực nhà nước không phải tự nhiên có được hay do tước đoạt lẫn nhau, mà là do nhân dân ủy quyền cho nhà nước thực hiện. Như vậy nghĩa là quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Tuy nhiên nhân dân lại không trực tiếp thực hiện và khó có thể khẳng định rằng người được ủy quyền luôn luôn làm đúng những gì mà nhân dân mong muốn. Chính vì lý do này đã nảy sinh đòi hỏi phải có kiểm soát thực thi quyền lực thông qua cách thức phân chia các quyền và giao cho những cơ quan nhà nước khác nhau thay mặt nhân dân thực hiện.

 

Một số ý kiến sửa đổi, bổ sung chương IX "Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân" trong Hiến pháp nước ta

(LLCT)- Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN phải coi trọng hoạt động giám sát việc thực thi quyền lực nhà nước ở địa phương. Nếu bỏ HĐND thì nhân dân địa phương thực hiện quyền làm chủ, quyền giám sát thông qua cơ quan nào? Nếu bỏ HĐND thì đối với những vấn đề cụ thể của địa phương liệu Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp có bao quát được hết không và ý kiến giám sát, phản biện của nhân dân địa phương thể hiện ở đâu, lúc nào?

Nên sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 theo hướng nào?

(LLCT) - Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và giáo dục, Hiến pháp nước Việt Nam có chức năng thể chế hóa cương lĩnh, đường lối của Đảng thành luật cơ bản của đất nước. Song nếu "thể chế hóa" một cách giản đơn, bằng cách chép nguyên văn những quan điểm, phương châm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng vào Hiến pháp mà không xử lý thích đáng các mối quan hệ giữa nhà cầm quyền với nhân dân thì sẽ rơi vào tình trạng hiến pháp ngày càng dài mà vẫn thiếu tính pháp chế.

Trang 35 trong tổng số 38 trang.