Trang chủ    Thực tiễn    Phát triển doanh nghiệp xã hội ở nước ta hiện nay
Thứ tư, 20 Tháng 1 2016 16:38
2312 Lượt xem

Phát triển doanh nghiệp xã hội ở nước ta hiện nay

(LLCT) - Hiện nay, doanh nghiệp xã hội (DNXH) ở nước ta ngày càng có vai trò quan trọng, góp phần giải quyết hiệu quả, bền vững các vấn đề xã hội. Tuy nhiên, còn không ít những hạn chế, bất cập cần tháo gỡ, đặc biệt là về cơ chế, chính sách, khung khổ pháp luật cho sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này.

Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) quy định về DNXH như sau:DNXH là các doanh nghiệp được mở ra để giải quyết các vấn đề của xã hội theo phương thức kinh doanh, lợi nhuận được tái đầu tư để giải quyết các vấn đề xã hội mà doanh nghiệp hướng tới. DNXH có những đặc điểm sau: (1) trực tiếp giải quyết các vấn đề xã hội thông qua hàng hóa, dịch vụ và hỗ trợ những người gặp khó khăn bằng cách tuyển dụng họ vào làm việc cho doanh nghiệp. (2) Tạo nguồn thu đáng kể từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, giống với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nhưng mục đích là để bù đắp chi phí và hướng tới các giá trị xã hội chứ không vì tối đa hóa lợi nhuận. DNXH phải có hoạt động sản xuất kinh doanh, đây là thế mạnh so với các tổ chức phi chính phủ, từ thiện chỉ đơn thuần nhận tài trợ và thực hiện các chương trình xã hội. DNXH phải cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp truyền thống trong cùng một lĩnh vực, cung cấp hàng hóa và dịch vụ có chất lượng tốt với giá cạnh tranh. (3) Đặt mục tiêu xã hội lên hàng đầu, lấy mục tiêu xã hội làm tối thượng ngay từ khi thành lập và được tuyên bố một cách công khai, rõ ràng, minh bạch.

Một số ý kiến cho rằng, doanh nghiệp truyền thống cũng có hiệu quả xã hội tích cực, tạo ra sản phẩm phục vụ đời sống, tạo việc làm nhưng khác ở chỗ doanh nghiệp truyền thống tìm đến các giải pháp xã hội như một công cụ để đạt lợi nhuận cho chủ sở hữu, ngược lại DNXH sử dụng hình thức kinh doanh như một công cụ để đạt mục tiêu xã hội. DNXH đòi hỏi phải được tái phân phối trở lại cho tổ chức và hoạt động của cộng đồng.

Ở Việt Nam, Nhà nước chưa đủ nguồn lực để giải quyết tất cả những vấn đề xã hội. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (năm 2013) cho thấy, Việt Nam đã đạt tiến bộ đáng kể trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo. Tỷ lệ đói nghèo giảm từ 60% xuống còn 20,7% trong vòng 20 năm(1). Tuy nhiên, với tỷ lệ 20,7% dân số đói nghèo vẫn là một con số cao. Sau khi Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình, nhiều tổ chức phi chính phủ, các nguồn viện trợ ODA sẽ rút dần khỏi Việt Nam. Vì vậy, việc phát triển các DNXH là rất cần thiết để tăng cường các nguồn lực cho giải quyết các vấn đề xã hội.

DNXH lấy hoạt động kinh doanh và sự gia tăng nguồn vốn ban đầu là phương tiện để thực hiện các mục tiêu xã hội, do đó nguồn lực để giải quyết các vấn đề xã hội cũng như quy mô đối tượng hưởng lợi không ngừng được mở rộng. DNXH luôn hướng tới một giải pháp xã hội bền vững, đối tượng hưởng lợi được đào tạo thành nghề, có việc làm ổn định và một sinh kế lâu bền để có thể tự lập. Vì vậy, các vấn đề xã hội được giải quyết một cách bền vững.

Trong những năm qua, các DNXH ở Việt Nam đã có bước phát triển. Số lượng các DNXH theo ước tính khoảng hơn 200 doanh nghiệp.Theo điều tra do GSIP, Hội đồng Anh và Spark thực hiện năm 2011, các DNXH ở Việt Nam được mở ra dưới nhiều hình thức như trung tâm, câu lạc bộ, hiệp hội, công ty, hợp tác xã, trong đó trung tâm là hình thức phổ biến nhất do lợi thế về thủ tục pháp lý, những hỗ trợ về thuế và nguồn vốn. Về hiệu quả kinh tế, các DNXH hoạt động như các doanh nghiệp khác. Xét về góc độ tài chính, các doanh nghiệp đã tạo ra tổng thu nhập là 255 tỷ đồng, với lợi nhuận là 64,5 tỷ đồng; tổng vốn lưu động là 816 tỷ đồng, tăng gấp 4 lần so với vốn điều lệ là 204 tỷ đồng. Về cơ cấu vốn, nguồn vốn sở hữu chiếm 20%, nguồn vốn từ tài trợ khoảng 5% và lợi nhuận sau thuế chiếm gần 45%(2). Từ đó, tác động xã hội của DNXH ngày càng mở rộng. Song bên cạnh những thành quả đạt được, nhìn chung, các DNXH còn có quy mô nhỏ, hiệu quả hoạt động kinh tế chưa cao, khả năng giải quyết các vấn đề xã hội còn thấp.

Do nhận thức của xã hội còn chưa đầy đủ về vị trí, vai trò của DNXH dẫn đến các DNXH gặp khó khăn trong quá trình hoạt động. Trong nhận thức của cộng đồng luôn có sự phân biệt rạch ròi giữa các hoạt động thương mại vì mục đích lợi nhuận và các hoạt động xã hội, phi lợi nhuận. DNXH thường bị hiểu sai và hoài nghi về mục tiêu xã hội khi vận hành dưới hình thức doanh nghiệp, là những rào cản nhất định đối với DNXH khi làm việc với các bên liên quan, làm gia tăng chi phí về thời gian, nguồn lực, cơ hội và hạn chế khả năng tạo tác động tích cực, bền vững. Thái độ thiếu nhiệt tình trong quá trình hợp tác với cơ quan chính quyền địa phương là rất phổ biến với DNXH. Tình trạng thiếu hụt nhận thức còn diễn ra ngay trong nội bộ khối các tổ chức tình nguyện. Các tổ chức này thường e ngại khi hợp tác với các công ty do sợ bị mang tiếng thương mại hóa. Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) nêu khái niệm DNXH nhưng chưa có những quy định cụ thể về tiêu chí xem xét và công nhận các tổ chức, doanh nghiệp là DNXH.

Do chưa có khung khổ pháp lý dành riêng cho DNXH nên việc thành lập và hoạt động gặp nhiều khó khăn. Nếu thành lập theo hình thức các tổ chức xã hội, thì gặp khó khăn cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, nhưng nếu thành lập doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp thì không được ưu đãi trong việc thực hiện các mục tiêu xã hội. Vì vậy, thường phải lập thành 2 tổ chức tồn tại song song, một doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh và một tổ chức xã hội. Nhánh kinh doanh trong các DNXH vẫn phải nộp thuế bình thường ngay cả khi lợi nhuận của họ được tái phân bổ hoàn toàn sang nhánh xã hội trong cùng một tổ chức. Ngoài ra, khi nhận các khoản tài trợ, DNXH vừa phải đáp ứng song song chính sách tài chính, báo cáo và hệ thống tài chính từ cả hai phía nhà tài trợ và các quy định quản lý của Nhà nước. Hai hệ thống này có nhiều điểm khác biệt, chồng chéo dẫn tới lãng phí về nhân lực để thực hiện.

Các DNXH thiếu vốn và yếu kém trong khả năng tiếp cận các nguồn tài chính do thiếu những chính sách hỗ trợ từ phía Nhà nước. Nguồn tài chính gồm vốn khởi sự doanh nghiệp và vốn phát triển doanh nghiệp. Các DNXH Việt Nam còn khá non trẻ, được thành lập chủ yếu từ ý tưởng mang tính cá nhân, vốn đầu tư ban đầu thường là quy mô nhỏ. Theo khảo sát, DNXH Việt Nam năm 2011, vốn tự có chiếm 20,3%, vốn tích lũy từ các hoạt động sản xuất kinh doanh 45,5%, tài trợ 5,3%, các nguồn vốn khác (vay ngân hàng, bạn bè gia đình) chiếm 28,8%. Trong khi đó, quy định về các doanh nghiệp nhận tài trợ phi thương mại không rõ ràng. Sự hạn chế về nguồn vốn đang ảnh hưởng không nhỏ tới tính bền vững, khả năng duy trì tác động tích cực đối với cộng đồng của các doanh nghiệp này.

Các DNXH phải cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp khác, trong khi nhiều DNXH lại tuyển dụng những người lao động kém may mắn, đối tượng khuyết tật,... nên chất lượng lao động thấp, do các điều kiện về học vấn, tinh thần và sức khỏe. Chi phí bồi dưỡng, đào tạo và huấn luyện kỹ năng làm việc, chăm sóc cho nhóm đối tượng này của DNXH cao hơn so với chi phí đầu tư cho nhân sự của các doanh nghiệp khác.

Để thúc đẩy phát triển DNXH ở Việt Nam, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Thứ nhất, cần nâng cao nhận thức xã hội về loại hình DNXH, qua các chiến dịch truyền thông, hội thảo, hội nghị về DNXH. Sự hiểu biết đầy đủ và tham gia tích cực của cộng đồng sẽ giúp các DNXH phát triển mạnh hơn.

Thứ hai, xây dựng một khung khổ pháp lý dành riêng cho DNXH và hoạt động của DNXH. Nghị định của Chính phủ về DNXH là cần thiết cho quá trình thể chế hóa DNXH, chuẩn bị cho bước luật hóa lĩnh vực này ở giai đoạn sau. Xác định khái niệm, tiêu chí và những quy định về DNXH trong các văn bản luật chính là sự công nhận của Nhà nước, xã hội để DNXH có thể hoạt động một cách chính danh.

Thứ ba, hoàn thiện các chính sách khuyến khích, ưu đãi và hỗ trợ DNXH. Nhà nước cần có chính sách ưu đãi cho một số lĩnh vực nhất định. Trước mắt, cần có những chính sách hỗ trợ trực tiếp các DNXH để gia tăng số lượng và giúp các DNXH đi vào hoạt động ổn định, thí dụ như tổ chức các cuộc thi tìm kiếm sáng kiến DNXH để tìm ra những doanh nhân xã hội và dự án tiềm năng được tài trợ vốn khởi nghiệp ban đầu. Hỗ trợ tài chính trực tiếp cho các DNXH để mở rộng phạm vi tác động thông qua quá trình tuyển chọn, phân loại, theo dõi và đánh giá sát sao. Về lâu dài, Nhà nước có thể thực hiện các chính sách hỗ trợ gián tiếp để phát triển nguồn tài chính bền vững cho DNXH, cần thành lập Quỹ phát triển DNXH, miễn, giảm thuế DNXH trong một số lĩnh vực được khuyến khích. Cần thực hiện công khai đấu thầu cạnh tranh để DNXH có thể tham gia cung cấp các sản phẩm và dịch vụ công ích. Ban hành quy định các cơ quan, tổ chức khu vực công ưu tiên các sản phẩm, dịch vụ của DNXH khi thực hiện mua sắm công hoặc thuê ngoài. Phát triển các chương trình đào tạo DNXH, nâng cao năng lực, kỹ năng quản lý doanh nghiệp, tài chính, nhân sự... thông qua các khóa đào tạo ngắn hạn cho các DNXH, hỗ trợ một phần chi phí đào tạo lao động cho các DNXH tuyển dụng các đối tượng yếu thế trong xã hội ở giai đoạn đầu.

Sự phát triển của DNXH sẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội theo hướng văn minh, tiến bộ, phù hợp với định hướng XHCN ở nước ta, vì vậy đây không chỉ là xu thế chung của thế giới mà còn rất cần thiết ở Việt Nam. Kinh nghiệm thế giới chỉ ra rằng vai trò của Nhà nước với hệ thống pháp luật và chính sách là những điều kiện thiết yếu để các DNXH phát triển. Vì vậy, Nhà nước cần sớm hoàn thiện pháp luật và chính sách để gia tăng tác động xã hội của các DNXH ở Việt Nam.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 3-2015

(1) Ngân hàng Thế giới: Báo cáo đánh giá nghèo Việt Nam 2012 - Khởi đầu tốt nhưng chưa phải đã hoàn thành: thành tựu ấn tượng của Việt Nam trong giảm nghèo và những thách thức mới, 2012,  tr.7.

(2) Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương: Báo cáo nghiên cứu Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam, khái niệm, bối cảnh và chính sách,  Hà Nội, 2012, tr.53.

 

 

ThS Hà Thị Thùy Dương

Học viện Chính trị Khu vực IV

Các bài viết khác