Trang chủ    Thực tiễn    Một số giải pháp phát huy dân chủ ở cơ sở
Thứ hai, 25 Tháng 9 2017 11:34
378 Lượt xem

Một số giải pháp phát huy dân chủ ở cơ sở

(LLCT) - Thể hiện rõ bản chất tiến bộ của chế độ, ngay từ khi chính quyền cách mạng mới được thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã khẳng định quyền lực nhà nước là của nhân dân và nhấn mạnh việc thực thi dân chủ ở từng cấp, từng công việc và vận động toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu và có trách nhiệm thực thi quyền và nghĩa vụ trong vị thế của người làm chủ.

Kế thừa và tiếp nối quan điểm nhất quán đó, Báo cáo chính trị tại Đại hội XII (1-2016) đã dành mục XIII tập trung làm rõ tình hình, phương hướng, nhiệm vụ “phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân”, Đại hội khẳng định: “Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân... Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân, từ nêu sáng kiến, tham gia thảo luận, tranh luận đến giám sát quá trình thực hiện”(1). Đại hội nêu rõ một trong những nhiệm vụ trọng tâm là: “Tiếp tục thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở”(2).

1. Tình hình thực hiện dân chủ ở cơ sở hiện nay

Dân chủ luôn đi liền với cơ chế bảo đảm dân chủ, mà cơ chế này phải được luật hóa. Quan hệ pháp luật và dân chủ trong nhà nước pháp quyền biểu hiện ở chỗ, để thực thi dân chủ cần có pháp luật bảo đảm; pháp luật phải được xây dựng và thực hành trên cơ chế dân chủ, bình đẳng. Tiến trình dân chủ hóa xã hội cũng là quá trình xây dựng và hoàn thiện không ngừng của pháp luật. Dân chủ càng cao thì pháp luật càng chặt chẽ, khoa học. Để dân chủ cơ sở được phát huy và đi vào cuộc sống phải được cụ thể hóa và quy định trong hệ thống pháp luật. Pháp luật thực thi dân chủ cơ sở là sự cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng về vấn đề này, quy định các nội dung: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân hưởng thụ; quy định cách thức, phương pháp để người dân thể hiện quyền làm chủ.

Trong những năm qua, hướng về cơ sở, việc phát huy vai trò của người dân và cơ chế bảo đảm sự tham gia của nhân dân vào hoạt động quản lý xã hội đã đạt những bước tiến quan trọng. Tuy vậy, việc bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở vẫn còn những tồn tại, hạn chế, đó là:

Nhận thức về dân chủ ở một bộ phận cán bộ, người dân còn hạn chế

Một số người đồng nhất dân chủ với dân chủ XHCN theo nghĩa hoàn thiện, “kỳ vọng” đạt ngay một trình độ phát triển cao của dân chủ trong khi nhiều tiền đề khách quan và chủ quan chưa chín muồi. Một số khác lại “mơ hồ”, phiến diện về dân chủ, ngộ nhận nền dân chủ tư bản chủ nghĩa là giá trị đỉnh cao phải khuôn theo.

Các chủ trương, đường lối của Đảng về dân chủ ở cơ sở đã được thể chế hóa thành pháp luật và trở thành hành lang pháp lý buộc các tổ chức, cá nhân tuân theo. Tuy vậy, vẫn còn sự nhận thức tách rời, thậm chí đối lập giữa dân chủ và kỷ cương, pháp luật ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, nhân dân.

Dân chủ trong Đảng chưa được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc

Trong tư duy lý luận của Đảng ta, vấn đề không dừng lại ở quan niệm về dân chủ XHCN, mà điều quan trọng hơn là phải tiếp tục thực hành, phát huy dân chủ - nghĩa là phải tạo được bước chuyển biến căn bản từ nhận thức đến hành động. Để đạt được mục tiêu xây dựng xã hội thực sự dân chủ, Đại hội XII của Đảng xác định rõ: “Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân(3).

Phương thức, cơ chế thực hành dân chủ XHCN là nhân dân thực hiện quyền làm chủ với phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Dưới nền dân chủ XHCN, nhân dân là chủ thể của quyền lực, là người thực hiện quyền lực. Nhân dân có quyền và được bảo đảm các điều kiện cần thiết để tham gia các hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Tuy nhiên, ở một số cơ sở đảng, tình trạng thiếu dân chủ trong Đảng vẫn còn và thường đi liền với phong cách lãnh đạo, quản lý độc đoán, chuyên quyền, thậm chí gia trưởng. Ngược lại, có tình trạng dân chủ không đi đôi với kỷ luật, kỷ cương, nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít; chấp hành nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước không nghiêm. Vẫn còn nhiều vi phạm trong việc thực hiện chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Chế độ trách nhiệm của người đứng đầu và tổ chức đảng, chính quyền quy định chưa rõ ràng, thực hiện chưa nghiêm dẫn đến tình trạng “tranh công đổ lỗi” - thành tích thì cá nhân nhận, khuyết điểm thì đổ cho tập thể.

Dân chủ trong cơ quan hành chính nhà nước chưa được thực hiện đầy đủ

Ngày 9-1-2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 04/2015/NĐ-CP về  thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập (có hiệu lực từ Nghị định 71/1998/NĐ-CP ngày 8-9-1998 ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan). Nghị định 04/2015/NĐ-CP qui định các nội dung cụ thể về vấn đề thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập (không quy định chung chung bằng khái niệm “cơ quan” như Nghị định 71/1998/NĐ-CP); đồng thời bổ sung cán bộ, công chức cấp xã là đối tượng áp dụng mới của Nghị định. Sự đổi mới này đã góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Quy chế dân chủ.

Theo Nghị định 04, thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan, đơn vị phải gắn liền với việc bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức đảng ở cơ quan, đơn vị, chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy vai trò của người đứng đầu và của các tổ chức đoàn thể quần chúng.

Các quy định pháp luật về thực hành dân chủ ở cơ quan nhà nước là cơ sở để phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo, động viên nguồn sức mạnh to lớn từ đội ngũ cán bộ, công chức, người lao động trong các cơ quan nhà nước đấu tranh, ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực.

Tuy nhiên trên thực tế, tình trạng dân chủ hình thức vẫn còn trong một số cơ quan, đơn vị khiến dân chủ không được phát huy, ảnh hưởng đến quyền lợi của một số bộ phận quần chúng, tính thống nhất của hệ thống quản lý nhà nước. Có lúc, có nơi, vấn đề dân chủ quá trớn, dân chủ cực đoan hay độc đoán chuyên quyền hoặc lợi dụng “dân chủ” để chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ, gây rối trật tự vẫn diễn ra. Vẫn còn những người lãnh đạo mang nặng tính quan liêu, gia trưởng, đặt mình lên trên tập thể, không muốn nằm trong sự kiểm soát của tổ chức; thiếu sâu sát thực tế, không lắng nghe quần chúng và cấp dưới. Nhiều đảng viên, cán bộ cấp dưới “xuôi chiều”, không dám thẳng thắn sử dụng quyền làm chủ của mình.

Nguyên nhân của những yếu kém, bất cập trên là do nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền còn hạn chế, chưa xác định được việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở là nhiệm vụ quan trọng trước mắt và lâu dài; chậm cụ thể hóa Quy chế dân chủ thành cơ chế giám sát của người dân ở cơ sở. Bên cạnh đó, sự chỉ đạo phối hợp của các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng còn chưa nhịp nhàng, đồng bộ; việc kiểm tra, giám sát, tổng kết rút kinh nghiệm chưa được quan tâm đúng mức.

Những sơ hở, thiếu đồng bộ của cơ chế chính sách cùng những khiếm khuyết trong phương thức lãnh đạo, nhất là quyền lực không đi cùng với cơ chế giám sát của người dân đã vô tình tạo lỗ hổng lớn trong thực hiện dân chủ cơ sở trên thực tế.

2. Một số kiến nghị và giải pháp

Thứ nhất, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trình độ hiểu biết của cán bộ, đảng viên và nhân dân về dân chủ

Muốn thực hiện quyền làm chủ thì trước tiên nhân dân phải hiểu biết đúng đắn, đầy đủ về các quyền tự do dân chủ ở cơ sở của mình. Đó là quyền được biết những công việc mà chính quyền có trách nhiệm phải công khai, quyền được bàn và quyết định trực tiếp, biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định đối với những vấn đề liên quan đến lợi ích của nhân dân, quyền giám sát các công việc của chính quyền... Pháp luật về dân chủ ở cơ sở cũng quy định các hình thức thực hiện các quyền dân chủ của nhân dân. Nâng cao nhận thức của nhân dân về tầm quan trọng của việc thực thi, phát huy dân chủ ở cơ sở, để từ hiểu rõ ý nghĩa, vai trò, người dân sẽ chủ động và tích cực thực thi, sử dụng các quyền dân chủ và đấu tranh bảo vệ quyền dân chủ; học dân chủ,  nâng cao trình độ hiểu biết về dân chủ, đồng thời phấn đấu, rèn luyện phương pháp thực hành dân chủ và có bản lĩnh thực hành dân chủ. Có như vậy nhân dân mới thực hiện quyền làm chủ thực sự, tránh tình trạng dân chủ chung chung, dân chủ hình thức, đó chính là từ “pháp luật trên giấy tờ” trở thành “pháp luật trong hành động”.

Chỉ khi nào người dân biết sử dụng và phát huy các quyền dân chủ thì các lợi ích của Nhà nước, cộng đồng, các quyền và lợi ích của mỗi người dân mới được bảo đảm. Đây cũng là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả của thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Cán bộ, công chức, đảng viên là lực lượng tham gia trực tiếp vào quá trình thực thi dân chủ tại cơ sở, do vậy công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, cấp ủy và chính quyền có ý nghĩa to lớn, góp phần quyết định thực thi dân chủ ở cơ sở.

Trước hết cần bồi dưỡng phong cách quần chúng, thực hành dân chủ theo tư tưởng, phong cách dân chủ Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra khái niệm về dân chủ bằng những diễn đạt ngắn gọn: “Dân là chủ”, “Dân làm chủ”, “Dân là gốc”, “Nước ta là nước dân chủ”, “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”, và vai trò “Dân chủ là cái chìa khóa vạn năng”. Thực hiện tư tưởng của Người, chính quyền phải giúp cho nhân dân có năng lực làm chủ, biết hưởng quyền làm chủ, biết dùng quyền làm chủ và tạo điều kiện về cơ chế, chính sách, pháp luật có để người dân thể hiện quyền làm chủ.

Thứ hai, đích cuối cùng của thực hiện dân chủ cơ sở là góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho người dân

Thực hiện Quy chế dân chủ không phải vì bản thân quy chế đó hay vì sự ổn định xã hội nhất thời, mà đích cuối cùng là bảo đảm cho nhân dân có cuộc sống ấm no hơn, tiến bộ hơn. Do vậy, để đạt được mục đích đó cần hướng vào: Tạo điều kiện thuận lợi và giúp các nhà đầu tư, doanh nghiệp triển khai các dự án tại địa phương; xây dựng và mở rộng nhiều mô hình xây dựng nông thôn mới thiết thực, hiệu quả; đẩy mạnh xã hội hóa và nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường; thực hiện có hiệu quả các giải pháp bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, an ninh - trật tự.

Thứ ba, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện những cơ chế bảo đảm dân chủ trong đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Đảng phải là tấm gương về dân chủ trong tổ chức và hoạt động của mình

Cần tiếp tục nghiên cứu về lý luận và thực tiễn để làm rõ trong điều kiện một Đảng Cộng sản duy nhất cầm quyền vẫn phát huy được dân chủ thực sự, vẫn giữ vững được sự lãnh đạo của Đảng, Đảng trong sạch, vững mạnh; cán bộ, đảng viên không rơi vào suy thoái, xa rời quần chúng. Phải dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, “dựa vào dân để sửa chính sách”, “sửa cán bộ” như Hồ Chí Minh đã chỉ ra. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng phải được thảo luận trong Đảng và đưa ra toàn dân thảo luận rộng rãi trước khi Đảng quyết định.

Để có dân chủ rộng rãi trong Đảng, điều cốt yếu là nhận thức đúng đắn và thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ. Mọi đảng viên được quyền bàn bạc, thảo luận và quyết định mọi công việc của Đảng - từ những công việc cụ thể của tổ chức đảng cơ sở đến những vấn đề lớn như xây dựng đường lối. Đảng viên có quyền tranh luận, nêu ý kiến của riêng mình và có quyền bảo lưu ý kiến lên cấp lãnh đạo cao nhất. Đảng phải khuyến khích thảo luận, tranh luận với những ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau để đi đến thống nhất về quan điểm nhưng khi đã thành nghị quyết của tập thể thì mọi đảng viên phải tôn trọng, nói và làm theo nghị quyết. Bên cạnh đó, mọi cấp ủy đảng phải thực sự lắng nghe ý kiến của cấp dưới và đảng viên, biết tổng hợp trí tuệ và sáng kiến, kinh nghiệm công tác phong phú của đảng viên.

Cần xây dựng Quy chế dân chủ của Đảng đồng thời với việc đẩy mạnh quá trình tự đổi mới, tự chỉnh đốn trong Đảng. Đảng phải là tấm gương tiêu biểu nhất về dân chủ trong tổ chức và hoạt động của mình thông qua việc tiếp tục thực hiện tốt quy định của Bộ Chính trị khóa XI, ngày 25-4-2015, “Về dân chủ trong nghiên cứu lý luận chính trị trong các cơ quan đảng, nhà nước” nhằm bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong Đảng được tự do sáng tạo, độc lập suy nghĩ, kiến nghị, được tôn trọng, tiếp thu ý kiến, vận dụng, sử dụng kết quả nghiên cứu trong các hoạt động nghiên cứu lý luận chính trị, phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành.

Bên cạnh đó, để tăng cường và nâng cao quyền giám sát của người dân, cần xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với Đảng. Chẳng hạn, nhân dân được giám sát những nội dung gì, phản ánh cho ai, bằng hình thức nào, cơ chế phản hồi như thế nào... nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.

Đồng thời, cần tiến hành thể chế hóa quyền và trách nhiệm của Đảng trong xã hội; thể chế hóa quan hệ giữa Đảng và các thiết chế chính trị - xã hội. Theo đó, cần tiến hành đẩy mạnh dân chủ hóa trong công tác cán bộ; cải tiến công tác bầu cử; đồng thời hoàn thiện cơ chế dân chủ trong các cuộc bầu cử. Bầu cử cấp ủy, ban thường vụ, bí thư, phó bí thư và bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân cần có số dư. Đồng thời, cần khuyến khích những người có đức, có tài ra ứng cử, hướng đến việc bầu cử nên qua tranh cử. Cơ cấu đại biểu trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước phải lấy tiêu chuẩn làm đầu.

Mở rộng quyền dân chủ ở cơ sở, áp dụng hình thức toàn dân bầu trực tiếp Chủ tịch Ủy ban nhân dân ở cấp xã (phường, thị trấn). Ủy ban kiểm tra do Đại hội Đảng cùng cấp bầu thay cho cấp ủy bầu như hiện nay, tiến tới bí thư và thường vụ cấp ủy cũng do đại hội cùng cấp bầu. Thực hiện dân chủ trong việc nhận xét, đánh giá cán bộ, xây dựng quy trình nhận xét, đánh giá cán bộ một cách dân chủ.

Mặt khác, cần nâng cao chất lượng các hình thức thực hiện dân chủ (dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện). Nghiên cứu, xây dựng và ban hành các luật về trưng cầu ý dân, luật biểu tình, luật về hội, luật về tiếp cận thông tin để tạo cơ sở pháp lý giải quyết những vấn đề bức xúc của nhân dân trong xã hội.  

Thứ tư, nâng cao hiệu quả hoạt động của chế độ thực hành dân chủ trong các cơ quan, đơn vị nhằm phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức, viên chức và nâng cao vai trò của người đứng đầu cơ quan, đơn vị

Phát huy dân chủ trong cơ quan, đơn vị có vai trò hết sức quan trọng góp phần để cơ quan, đơn vị hoàn thành nhiệm vụ, xây dựng khối đại đoàn kết, thống nhất trong cơ quan, đơn vị; từ đó góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là công bộc của nhân dân, có đủ phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, làm việc có năng suất, chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển và đổi mới của đất nước. Xuất phát từ thực trạng vấn đề dân chủ trong các cơ quan, đơn vị hiện nay; để nâng cao chất lượng của chế độ thực hành dân chủ, trước hết cần đổi mới cơ bản về hệ thống chính trị ở các cấp chính quyền cơ sở. Do đó để nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở cần: đổi mới tổ chức và phương thức lãnh đạo của Đảng; đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước ở chính quyền cơ sở; đổi mới và kiện toàn các đoàn thể chính trị - xã hội.

Cần tiếp tục bồi dưỡng và nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, để cán bộ, công chức cấp xã thực sự là “công bộc của nhân dân”, làm việc cũng phải vì lợi ích của nhân dân và Nhà nước, góp phần xây dựng niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Cần tăng cường công tác kiểm tra, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; tăng cường công tác giáo dục rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạnh của cán bộ, đảng viên; thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trẻ hóa đội ngũ cán bộ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở. Có chính sách, chế độ ưu đãi thực sự để thu hút người trẻ tuổi, có trình độ chuyên môn về công tác tại xã, phường, thị trấn.

Trong hệ thống các cơ quan, đơn vị, Công đoàn cơ sở là một tổ chức đóng vai trò rất quan trọng trong vấn đề thực hiện quy chế dân chủ. Phát huy vai trò của các tổ chức Công đoàn cơ sở vừa là mục tiêu, vừa là động lực quan trọng của quá trình xây dựng một nền dân chủ vững mạnh, trong sạch, góp phần quan trọng trong việc tạo ra môi trường làm việc minh bạch, thân thiện, đoàn kết, chuyên nghiệp và hiệu quả trong các cơ quan, tổ chức.

Theo đó, mỗi cơ quan, đơn vị cần nêu cao ý thức, trách nhiệm trong vấn đề thực hiện tốt quy chế dân chủ ở đơn vị mình, phù hợp với hoàn cảnh và tình hình thực tiễn, đặc biệt là các nội dung liên quan tới quản lý tài chính tài sản, đào tạo, thi đua khen thưởng, chính sách cán bộ... Những nội dung này phải được tập thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của cơ quan, đơn vị thảo luận và cho ý kiến. Đồng thời, các cấp Công đoàn phải thường xuyên phối hợp với các cơ quan, đơn vị tổ chức quán triệt ý nghĩa, nội dung quy chế dân chủ ở cơ sở cho cán bộ, công chức, viên chức; nhất là thông qua các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền, nâng cao nhận thức, tuyên dương các gương cá nhân tiêu biểu trong vấn đề thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở cơ quan, đơn vị đó.

Mặt khác, mỗi cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan, đơn vị phải luôn nhận thức được rằng việc triển khai Quy chế dân chủ ở cơ sở là một nội dung công tác thường xuyên, có ý nghĩa quan trọng trong việc phát huy quyền làm chủ của mình; góp phần đẩy lùi tình trạng quan liêu, cửa quyền trong bộ máy quản lý của cơ quan, đơn vị nhằm xây dựng cơ sở Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh và thực hiện tốt công tác cải cách hành chính.

______________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 4-2017

(1), (2), (3)  ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.169, 169, 38.

 

TS LƯU NGỌC TỐ TÂM

 Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Các bài viết khác