Trang chủ    Thực tiễn    Hiện đại hóa nền hành chính nhà nước đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Thứ hai, 23 Tháng 10 2017 15:27
2659 Lượt xem

Hiện đại hóa nền hành chính nhà nước đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

(LLCT) - Trải qua một thời gian dài được áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới, mô hình hành chính công truyền thống đã bộc lộ những hạn chế nhất định như tính quan liêu, cứng nhắc của hệ thống hành chính cồng kềnh, nhiều tầng nấc, hiệu quả quản lý thấp. Trong bối cảnh đó, để khắc phục những khiếm khuyết, các lý thuyết và thực tiễn hành chính nhà nước không ngừng được hoàn thiện, định hình ra mục tiêu và các đặc trưng của hành chính nhà nước hiện đại.

1. Đặc trưng hành chính nhà nước hiện đại(1)

Thứ nhất, bảo đảm tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong các hoạt động của Chính phủ. Trong hành chính nhà nước, trách nhiệm giải trình là khả năng yêu cầu các công chức nhà nước phải chịu trách nhiệm về hoạt động của mình. Trách nhiệm giải trình bao gồm hai thành tố: (i) khả năng giải đáp; (ii) chịu trách nhiệm về hậu quả xảy ra. Các công chức phải giải đáp theo định kỳ những vấn đề liên quan đến việc họ đã sử dụng thẩm quyền của mình như thế nào, đã sử dụng các nguồn lực ra sao và đạt được những kết quả gì. Các tổ chức chính quyền cần dự báo được hậu quả sẽ xảy ra trong mỗi hoạt động của mình và chịu trách nhiệm về các hậu quả này.

Thứ hai, sự tham gia của các chủ thể trong xã hội vào hoạt động hành chính nhà nước. Sự tham gia của công dân dưới nhiều hình thức khác nhau vào hoạt động thực thi quyền lực nhà nước là yếu tố cơ bản bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, tạo khả năng kiểm soát thực tế các hoạt động của chính phủ. Sự tham gia của các tổ chức và cá nhân vào hoạt động của hành chính nhà nước phải được mở rộng đối với tất cả các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương. Các tổ chức và công dân có thể tham gia vào hoạt động của chính phủ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.

Thứ ba, tính dự đoán được của hành chính nhà nước. Tính dự đoán được là sản phẩm của một hệ thống luật pháp và các quy định rõ ràng, cụ thể và được công khai hóa, đồng thời được tuân thủ một cách thống nhất và có hiệu quả. Tính dự đoán được đòi hỏi chính phủ phải xây dựng các quy định pháp luật rõ ràng đối với các dịch vụ công do chính phủ cung cấp, cũng như đối với hoạt động của khu vực tư nhằm hướng dẫn họ trong sản xuất, tiếp thị, quyết định đầu tư.

Thứ tư, tính công bằng. Hành chính nhà nước phải bảo đảm sự phục vụ công bằng, bình đẳng cho mọi đối tượng khác nhau trong xã hội, không phân biệt giai cấp, dân tộc tôn giáo. Hành chính nhà nước cần phải tính đến nhu cầu của các nhóm thiểu số và người nghèo, các nhóm bị thiệt thòi trong xã hội, có như vậy chính quyền mới có thể duy trì sự phát triển một cách bền vững, mới tránh được mâu thuẫn xã hội.

Thứ năm, tính thích ứng linh hoạt với sự phát triển. Chính phủ cần có năng lực quản lý sự phát triển. Sự thay đổi có thể diễn ra bên trong hệ thống chính trị mỗi quốc gia, hoặc do sự tác động của môi trường bên ngoài. Sự thích ứng linh hoạt của chính phủ trong bối cảnh hiện tại đòi hỏi việc áp dụng cơ chế thị trường và các phương pháp quản lý hiện đại của khu vực tư như cạnh tranh, đấu thầu, so sánh chi phí và lợi ích, coi công dân là khách hàng, quản lý theo kết quả... để làm cho nền hành chính trở nên năng động, đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của công dân.

Thứ sáu, tính hiệu lực và hiệu quả. Hiệu lực của hành chính nhà nước là sự thực hiện đúng, có kết quả chức năng quản lý của bộ máy hành chính để đạt được các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. Hiệu quả hành chính nhà nước là kết quả quản lý đạt được của bộ máy hành chính trong sự tương quan với mức độ chi phí các nguồn lực. Trong điều kiện hiện nay, khi công dân quan tâm ngày càng nhiều đến việc chính phủ sử dụng các khoản thuế mà họ đóng góp như thế nào, các chính phủ đều phải kiểm soát chi tiêu, phân bổ và sử dụng hợp lý các nguồn lực tài chính để tạo ra những đầu ra mong muốn.

Mối quan hệ giữa hiện đại hóa nền hành chính nhà nước với chính phủ kiến tạo

Chính phủ kiến tạo đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển bền vững của các quốc gia. Ở các nền kinh tế phát triển trên thế giới thường kết hợp “bàn tay vô hình”, tức quá trình tự vận động “theo quy luật” của nền kinh tế thị trường và “bàn tay hữu hình” - sự can thiệp, định hướng “hợp quy luật” của nhà nước, chính phủ. Chính phủ kiến tạo phát triển phải cân bằng hai yếu tố “bàn tay vô hình” và “bàn tay hữu hình”. Chính phủ sử dụng các công cụ kinh tế, chính sách, “lợi thế” để tổ chức thị trường sao cho khuyến khích được mọi cá nhân và tổ chức tham gia vào phát triển kinh tế - xã hội.

Mục tiêu cao nhất của hành chính nhà nước hiện đại là nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của người dân. Công dân được coi như khách hàng của nền hành chính. Nhà nước có trách nhiệm phục vụ tốt nhất nhu cầu của công dân. Việc thỏa mãn nhu cầu của công dân đòi hỏi hành chính nhà nước phải chuyển từ “cai trị” sang “phục vụ”, phải trở nên năng động, có hiệu lực, hiệu quả, cung cấp đầy đủ các dịch vụ với chất lượng cao, nhanh chóng, công chức có thái độ phục vụ tận tâm và công bằng... Nhiều nước trên thế giới đã xây dựng các Hiến chương khách hàng, ban hành các bộ tiêu chuẩn về dịch vụ, thiết lập cơ chế tiếp nhận và xử lý phản hồi của các công dân, tổ chức, đánh giá mức độ hài lòng của người dân... để từ đó đề xuất các giải pháp cải cách hành chính nhà nước. Chính vì vậy, có thể khẳng định rằng, hiện đại hóa nền hành chính nhà nước chính là giải pháp, là “cứu cánh” tốt nhất để hiện thực hóa chủ trương xây dựng Chính phủ kiến tạo phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân.

2. Thực trạng và giải pháp hiện đại hóa nền hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Thời gian qua, Chính phủ và các bộ, ngành đã tổ chức nhiều cuộc họp, giao ban trực tuyến với các địa phương; các cơ quan hành chính đã tổ chức được nhiều cuộc đối thoại trực tuyến với doanh nghiệp, thông qua đó đã tạo nên thông tin hai chiều, phản ánh kịp thời, nâng cao hiệu quả chỉ đạo, điều hành hệ thống hành chính nhà nước, tiết kiệm kinh phí, thời gian và nâng cao hiệu quả, hiệu lực điều hành, bước đầu hình thành hệ thống thông tin điện tử của Chính phủ, bao gồm: Trung tâm tích hợp dữ liệu của các bộ, các tỉnh, mạng cục bộ (LAN) của mỗi cơ quan thuộc cơ cấu bên trong của các bộ, các tỉnh, mạng diện rộng liên kết hệ thống tin học của bộ, tỉnh. Hệ thống thông tin điện tử đã bắt đầu đưa vào vận hành các dịch vụ cơ bản như thư điện tử, các phần mềm ứng dụng tin học hóa quản lý nhà nước.

Chính phủ cũng đã chỉ đạo xây dựng, đưa vào vận hành Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (Website của Chính phủ), tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tìm hiểu và nắm bắt kịp thời các thông tin mang tính chỉ đạo, quản lý - điều hành của Chính phủ; đồng thời đã từng bước quan tâm, đầu tư, nâng cấp trụ sở các cơ quan hành chính nhà nước, bảo đảm cơ quan hành chính cấp xã trong cả nước có trụ sở và phương tiện làm việc đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Bên cạnh một số kết quả đạt được, hiện đại hóa nền hành chính nhà nước, nhất là việc thực hiện Chương trình tin học hóa quản lý hành chính nhà nước (gọi tắt là Chương trình 112) vẫn còn một số hạn chế, bất cập, đó là:

Vai trò của người được giao trách nhiệm và quyền hạn để triển khai ứng dụng công nghệ thông tin tại đơn vị, kể cả cấp quốc gia (còn gọi là lãnh đạo công nghệ thông tin - CIO), chưa đủ tầm, thiếu hiểu biết và kinh nghiệm về quy trình quản lý hành chính, các đặc thù công nghệ trong ứng dụng tin học.

Hạ tầng công nghệ thông tin yếu kém, không đồng bộ, thiếu kết nối mạng hoặc kết nối không thông suốt dẫn đến hạn chế khả năng triển khai ứng dụng phần mềm và cơ sở dữ liệu. Nhiều cơ quan, đơn vị mới chỉ coi trọng đầu tư phần cứng, máy chủ, chưa chú trọng xây dựng kết nối mạng để chia sẻ dữ liệu và thông tin. Công nghệ và năng lực của các nhà cung cấp giải pháp công nghệ thông tin cho Chính phủ điện tử tại các địa phương hiện nay còn hạn chế, thiếu sự cạnh tranh lành mạnh, chưa minh bạch trong nghiệm thu sản phẩm.

Tính đến quý III năm 2016, chỉ có một số bộ, ngành, cơ quan đã hoàn thành một số nhiệm vụ được giao trên cơ sở Nghị quyết số 30a/NQ-CP của Chính phủ về Chính phủ điện tử, đó là: Văn phòng Chính phủ (hoàn thành 3/6 nhiệm vụ được giao); Bộ Kế hoạch và Đầu tư (hoàn thành 2/4 nhiệm vụ được giao); Bộ Giáo dục và Đào tạo (hoàn thành 1/3 nhiệm vụ được giao); Bảo hiểm xã hội Việt Nam (hoàn thành 1/5 nhiệm vụ được giao); Bộ Thông tin và Truyền thông (hoàn thành 1/6 nhiệm vụ được giao). Các bộ, ngành, cơ quan khác chỉ đang thực hiện và chưa hoàn thành nhiệm vụ được giao(2).

Để phát huy kết quả đã đạt được và khắc phục hạn chế, bất cập về hiện đại hóa nền hành chính nhà nước, trong thời gian tới, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, ưu tiên thiết lập một công nghệ hành chính tiên tiến. Hiện nay, hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000 thích hợp cho mọi loại hình tổ chức, kể cả tổ chức hành chính. Nó bảo đảm cho sản phẩm hay dịch vụ của một tổ chức có khả năng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và các yêu cầu chính đáng của tổ chức; đồng thời cũng là cơ sở để đánh giá khả năng của tổ chức nhằm duy trì và không ngừng cải tiến, nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của mình. Với phương châm “phòng ngừa” và “luôn cải tiến” dựa trên hệ thống các quy định, công bố rõ ràng sự cam kết của lãnh đạo về các chính sách và mục tiêu chất lượng; trách nhiệm và quyền hạn; các quá trình và các thủ tục tiến hành công việc... ISO 9000 đem lại cho dịch vụ hành chính nhiều lợi ích, đặc biệt là nó tạo nên một phương pháp làm việc khoa học (thực chất là một công nghệ quản lý mới).

Điều kiện để có thể áp dụng tiêu chuẩn ISO 9000 cho dịch vụ hành chính công là phải thay đổi quan niệm từ một nền hành chính “cai trị” sang một nền hành chính “phục vụ”.

Ở nước ta, những năm vừa qua, nhiều địa phương đã thí điểm áp dụng quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000 cho các cơ quan hành chính thí dụ như Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Lâm Đồng, Long An... Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 144-TTg và sau đó là Quyết định số 181-TTg cho phép áp dụng tiêu chuẩn ISO 9000 cho tất cả các cơ quan hành chính. Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000 áp dụng cho cơ quan hành chính nhà nước nhằm cung cấp một “công nghệ hành chính” tiên tiến. Trên cơ sở đó sẽ tiến hành tin học hóa nền hành chính. Việc tin học hóa góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của chính quyền các cấp, đồng thời từng bước cung cấp dịch vụ công của các cơ quan chính phủ cho người dân, tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, tiết kiệm thời gian, chi phí, tiến tới một Chính phủ điện tử đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

Hai là, đổi mới căn bản tư duy về một nền hành chính phục vụ. Chính phủ phải coi công dân như khách hàng của Nhà nước, bảo đảm cung cấp các dịch vụ công cho người dân với số lượng đầy đủ và chất lượng tốt. Bảo đảm sự tiếp cận dễ dàng của công dân đối với các cơ quan hành chính. Các cơ quan hành chính phải nhận thức rõ trách nhiệm của mình trước công dân và tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân khi đến giải quyết công việc tại các cơ quan hành chính. Bảo đảm việc đối xử công bằng với mọi tổ chức và công dân. Hoạt động của các cơ quan hành chính phải đặt dưới sự giám sát của xã hội và công dân. Xây dựng cơ chế phát huy vai trò phản biện của người dân và các tổ chức xã hội đối với các chính sách và quyết định của cơ quan hành chính nhà nước. Nâng cao trách nhiệm và đa dạng hóa các hình thức phản hồi của các tổ chức và công dân về chất lượng dịch vụ công và hoạt động cung cấp dịch vụ công. Xây dựng cơ chế tiếp nhận và xử lý thông tin của người thụ hưởng dịch vụ hành chính công tại các cơ quan hành chính nhà nước. Công dân phải được tham gia xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt động của các cơ quan nhà nước. Tăng cường sự tham gia của nhân dân trong hoạch định chính sách và ra các quyết định. Đặc biệt phải có các biện pháp để ngăn chặn tệ nạn tham nhũng và hối lộ, có các chế tài nghiêm khắc để xử lý các hành vi vi phạm nhằm làm lành mạnh hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước và tạo được sự tin cậy của nhân dân.

Tiếp tục mở rộng và phát huy dân chủ XHCN, huy động sự tham gia của nhân dân vào quản lý nhà nước. Tăng cường dân chủ gián tiếp của nhân dân thông qua các cơ quan đại diện của người dân như Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Để sự tham gia quản lý nhà nước thông qua các cơ quan đại diện của dân có hiệu quả, cần xây dựng cơ chế bầu cử đại biểu của nhân dân gắn liền với cơ chế bãi nhiệm; chuyển chế độ hoạt động của đại biểu dân cử từ kiêm nhiệm sang chuyên trách, tiến dần tới chế độ hoạt động chuyên nghiệp. Mở rộng dân chủ trực tiếp thông qua việc xây dựng cơ chế huy động nhân dân tham gia vào quản lý nhà nước, mở rộng sự tham gia của các tổ chức xã hội, các hội, tổ chức phi chính phủ trong việc giải quyết nhu cầu của nhân dân và tích cực tham gia vào công tác quản lý nhà nước. Mở rộng hình thức quyết định trực tiếp thông qua trưng cầu dân ý, để toàn dân có quyền tham gia vào các công việc trọng đại của đất nước, của địa phương. Sự tham gia của nhân dân vào hoạt động hành chính nhà nước giúp cho Nhà nước ban hành các quyết định và chính sách sát với thực tế hơn, nhờ đó có hiệu quả và hiệu lực hơn.

Ba làtiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế hành chính. Thể chế hành chính nhà nước bao gồm các văn bản luật, thủ tục hành chính và thiết chế tổ chức, làm cơ sở để điều chỉnh hành vi của công chức nói riêng và công dân nói chung. Trong điều kiện chuyển sang kinh tế thị trường, cần tập trung xây dựng hệ thống thể chế kinh tế tương thích với các quy luật của thị trường nhằm điều tiết và tạo điều kiện cho các chủ thể kinh tế thuộc mọi thành phần phát triển. Cải cách thể chế về tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, điều chỉnh hoạt động công vụ, tài chính và ngân sách nhà nước. Tiến hành cải cách thủ tục hành chính liên quan tới cá nhân, tổ chức theo hướng gọn nhẹ, đơn giản, hưởng tới giảm thiểu chi phí tuân thủ. Cải cách thể chế công vụ nhằm loại bỏ những cản trở trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, tạo điều kiện cho các cơ quan hành chính chủ động và linh hoạt hơn trong quản lý thực thi công vụ...

Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hành chính nhà nước, xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước gọn nhẹ, hợp lý. Chính phủ tập trung làm tốt hơn việc hoạch định các chính sách, xây dựng thể chế và nâng cao năng lực chỉ đạo, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động kinh tế - xã hội. Tiếp tục hoàn thiện tổ chức các bộ theo nguyên tắc bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực nhằm thu gọn đầu mối, đồng thời tiến tới tinh giản cơ cấu bên trong các bộ. Tổ chức hợp lý chính quyền địa phương các cấp; đẩy mạnh phân cấp và giao quyền tự chủ lớn hơn cho chính quyền địa phương. Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và tổ chức bộ máy giữa chính quyền ở đô thị và nông thôn. Đổi mới phương thức hoạt động của bộ máy hành chính theo hướng bảo đảm đáp ứng nhanh với các yêu cầu của các tổ chức và công dân. Xác định các nhiệm vụ nhà nước phải thực hiện và các nhiệm vụ có thể chuyển giao cho các tổ chức ngoài nhà nước đảm nhận.

Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích thu hút người có tài vào làm việc trong khu vực công, tăng cường sự tự chủ cho các cơ quan hành chính trong việc tuyển dụng, sa thải, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, thăng tiến và thuyên chuyển công chức, thay đổi văn hóa tổ chức theo hướng quan tâm đến hiệu quả công việc. Tạo động lực cho cán bộ, công chức làm việc bằng việc trả lương theo vị trí công việc và năng lực thực thi trên cơ sở xây dựng các tiêu chí rõ ràng và các công cụ để đo lường hoạt động thực thi công vụ của công chức.

Bốn là, tăng cường trách nhiệm giải trình, đẩy mạnh kiểm soát đối với hành chính nhà nước. Trách nhiệm giải trình của tổ chức hành chính được thực hiện trước hết là dựa trên các quy định của pháp luật và của tổ chức. Cơ chế giải trình chính thức với bên ngoài là việc tổ chức thực thi trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước đối với các cơ quan cấp trên, được thực hiện thông qua việc giải trình trước các cơ quan chức năng về việc thực thi pháp luật, tuân thủ các quy định cụ thể do cấp trên ban hành, bảo đảm quy trình ra quyết định của tổ chức hành chính. Các cơ quan hành chính còn có trách nhiệm giải trình trước cơ quan lập pháp về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao. Trách nhiệm giải trình với bên ngoài còn bao gồm việc giải trình đối với các tổ chức và công dân thông qua việc tổ chức công khai thông tin liên quan đến người dân, trả lời các kiến nghị hay khiếu nại của dân, trả lời các cơ quan thông tin đại chúng về những vấn đề liên quan đến trách nhiệm của cơ quan mình trước công luận, giải trình theo yêu cầu của tổ chức và công dân. Trách nhiệm giải trình bên trong bao gồm trách nhiệm giải trình của các đơn vị trực thuộc bên trong tổ chức và của từng công chức. Trách nhiệm giải trình bên trong được thực hiện thông qua việc kiểm tra thực thi công vụ, bảo đảm quy trình ra quyết định, giám sát quản lý ngân sách, thực hiện kiểm toán nội bộ, ban hành và giám sát quy trình công khai thông tin hoạt động của các đơn vị... Đối với công chức, tiêu chí về trách nhiệm giải trình hành chính căn cứ vào quy định pháp luật cũng như đòi hỏi của vị trí công việc, chẳng hạn như công chức phải thực hiện các nhiệm vụ ở vị trí công việc được giao; sự tuân thủ các quy định và thủ tục hành chính, sử dụng một cách hợp lý các nguồn lực công được giao, ứng xử với cấp trên, công dân và đồng nghiệp đúng mực và tôn trọng. Tăng cường thanh tra công vụ và các cơ chế kiểm soát khác đối với hành chính nhà nước để bảo đảm pháp chế, kỷ cương và kỷ luật. Xây dựng cơ chế kiểm soát có hiệu quả, tránh tình trạng kiểm soát mang tính hình thức nhằm nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước. Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân đối với các hành vi vi phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước và tổ chức có thẩm quyền. Xử lý nghiêm khắc các tổ chức và cá nhân vi phạm pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân.

Cần xây dựng cơ chế quản lý tài chính và tài sản công phù hợp, đặc biệt đề cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình về tài chính, cần nghiêm khắc ngăn ngừa và xử lý các hiện tượng tham nhũng, lãng phí trong sử dụng ngân sách nhà nước, các quỹ công của nhà nước và các tài sản công do nhà nước quản lý.

_____________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 4-2017

(1) Bộ Nội vụ: Tài liệu bồi dưỡng ngạch chuyên viên cao cấp, Hà Nội, 2013.

(2) Văn phòng Chính phủ: Báo cáo quý III/2016 ngày 3-10-2016 của Văn phòng Chính phủ về tình hình thực hiện Nghị quyết số 30a/NQ-CP của Chính phủ về Chính phủ điện tử.

 

TS Nguyễn Thị Ngọc Hoa

Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Các bài viết khác