Trang chủ    Thực tiễn    Khủng hoảng kinh tế thế giới và các thách thức đối với việc giảm nghèo ở Việt Nam
Chủ nhật, 16 Tháng 6 2013 00:41
1720 Lượt xem

Khủng hoảng kinh tế thế giới và các thách thức đối với việc giảm nghèo ở Việt Nam

(LLCT)-Bối cảnh kinh tế - xã hội ngày nay đòi hỏi phải xem xét vấn đề giảm nghèo trong mô hình tổng thể, bao gồm tăng trưởng kinh tế bền vững, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Ở Việt Nam, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới vẫn còn để lại những hậu quả nặng nề đối với nền kinh tế, trong đó người nghèo vẫn là nhóm đối tượng chịu tổn thương nhiều nhất. Để thực hiện thành công giảm nghèo theo mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc, Việt Nam phải đối mặt với các thách thức lớn hơn nhiều. Việc vượt qua các thách thức này phụ thuộc phần lớn vào năng lực chính sách của Chính phủ Việt Nam.

1. Thành quả thực thi chiến lược xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam và thực trạng nghèo hiện nay   

Trải qua 26 năm thực hiện đường lối đổi mới và phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, thu nhập bình quân đầu người đã tăng cao, từ 289 USD/người năm 1995 lên 1.380 USD/người vào năm 2011. Việt Nam đã thoát ra khỏi nhóm nước có thu nhập thấp và tham gia vào nhóm nước có thu nhập trung bình (1.000 - 4.000 USD/người/năm).     

Tăng trưởng kinh tế trên diện rộng được coi là yếu tố quan trọng nhất góp phần giảm nghèo nhanh chóng ở Việt Nam trong hai thập kỷ qua. Bên cạnh đó, từ những năm 90 thế kỷ XX, Chính phủ Việt Nam đã đề ra các chính sách và chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói, giảm nghèo (XĐGN) và xây dựng chiến lược toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo vào năm 1998.       

Năm 2001, Việt Nam đã ký cam kết thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc, trong đó mục tiêu về XĐGN là giảm một nửa tỷ lệ người dân có mức thu nhập dưới 1 USD/ngày và giảm một nửa tỷ lệ người bị thiếu đói trong giai đoạn đến năm 2015. Trên thực tế, Việt Nam luôn được đánh giá là nước hoàn thành mục tiêu đề ra đúng tiến độ.      

Chính phủ Việt Nam đã ban hành một hệ thống chính sách và chương trình, dự án về XĐGN. Các chính sách và chương trình giảm nghèo tập trung vào việc xây dựng kết cấu hạ tầng cho vùng nghèo, tăng cường hỗ trợ các dịch vụ công thiết yếu cho người nghèo như giáo dục, y tế, điện, nước sạch; hỗ trợ sinh kế và tín dụng đối với người nghèo... Những năm qua, việc thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và các chương trình giảm nghèo đã tạo điều kiện để người nghèo tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản; kết cấu hạ tầng của các huyện, xã nghèo được tăng cường; đời sống người nghèo được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ nghèo đã giảm từ 58,1% năm 1993 xuống 28,9% năm 2002 và còn 9,5% vào năm 2010 (theo chuẩn nghèo 2009) (Hình 1).    

Hình 1: Tỷ lệ nghèo (%)    

Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo chưa thật sự bền vững, số hộ đã thoát nghèo nhưng mức thu nhập nằm sát chuẩn nghèo còn lớn, tỷ lệ hộ tái nghèo hằng năm còn cao; chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư vẫn còn khoảng cách lớn, đời sống người nghèo gặp nhiều khó khăn, nhất là ở khu vực miền núi, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.          

Cùng với sự phát triển kinh tế, số hộ nghèo giảm đáng kể, nhưng khoảng cách giàu nghèo lại gia tăng. Qua số liệu từ khảo sát mức sống hộ dân cư năm 2010(1), tình trạng phân hóa giàu nghèo thể hiện qua hệ số Gini của Việt Nam ở mức trung bình so với các nước trong khu vực. Tuy nhiên, mức độ đó đã tăng dần theo các năm (hệ số Gini năm 2010 là 0,46 so với 0,37 của năm 1996). Nếu vào năm 1995, chênh lệch thu nhập giữa nhóm 20% số người giàu nhất với 20% số người nghèo nhất là 7 lần thì đến năm 2006, tỷ lệ này là 8,4 lần. Tỷ lệ này đặc biệt gia tăng kể từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008-2009 lên đến 9,2 lần vào năm 2010 (Hình 2).     

Hình 2: Mức độ chênh lệch giàu nghèo (lần)             

Trong khi mức thu nhập vốn đã chênh lệch theo hướng ngày càng tăng, thì nhóm thu nhập thấp lại có tốc độ tăng thu nhập chậm và  ít hơn các nhóm khác. Tốc độ tăng thu nhập một nhân khẩu/tháng của nhóm 1 từ năm 2002 đến 2010 gấp 3,4 lần, thấp hơn tốc độ tăng của nhóm 4 và 5 (3,9 đến 4 lần) trong cùng thời kỳ. Vào cuối năm 2011, vẫn có đến 20% dân số có thu nhập dưới 400 nghìn đồng/tháng (20 USD) ở khu vực nông thôn và 500 nghìn đồng/tháng (25 USD) ở thành thị. Như vậy, thu nhập bình quân của hộ gia đình có tăng lên, nhưng sự gia tăng không đồng đều và theo hướng cách biệt giàu - nghèo ngày càng tăng.            

Trong cơ cấu chi tiêu của nhóm người thu nhập thấp, mức chi cho lương thực, thực phẩm vẫn chiếm tỷ trọng rất cao, chiếm 65,8% tổng mức chi tiêu ở nhóm 1. Tỷ trọng này phản ánh chất lượng cuộc sống của người nghèo là rất thấp và dễ bị tổn thương.

Điều này càng thể hiện rõ qua sự khác biệt về mức chi tiêu cho các lĩnh vực khác ngoài ăn uống. Cách biệt về chi cho giáo dục giữa nhóm 20% có thu nhập cao nhất và nhóm 20% có thu nhập thấp nhất là 6 lần (Hình 3), chi cho y tế gấp 3,8 lần (Hình 4) và chi cho văn hóa giải trí gấp 123 lần. Do sức mua giảm, người nghèo và người có thu nhập thấp ở đô thị dành phần lớn nguồn thu nhập cho lương thực, thực phẩm và các nhu cầu thiết yếu khác như điện, nước, ga..., đến mức không còn tiền để tiết kiệm. Điều này làm tăng tính dễ bị tổn thương của người nghèo, đặc biệt khi phải đối mặt với các nguy cơ như đau ốm, bệnh tật.         

Đáng chú ý, sự chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng miền còn thể hiện rõ hơn (Hình 5). Theo thống kê, tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn là 17,4%, cao gấp 2,5 lần ở thành thị. Ngoài ra, các vùng núi tỷ lệ nghèo còn rất cao so với các vùng miền khác: 39% ở Tây Bắc, 24% ở Đông Bắc và 22% ở Tây Nguyên.      

 Sự phân hóa về thu nhập còn được thể hiện rõ ở mức thu nhập bình quân giữa các địa phương trong nước, giữa các tỉnh thuần nông, tỉnh miền núi, hải đảo với các trung tâm đô thị. Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) dẫn số liệu của chính quyền các địa phương cho thấy, năm 2011, thu nhập bình quân đầu người của thủ đô Hà Nội là 1.850 USD, tương đương 37 triệu đồng/người/năm; Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 3.000 USD, trong khi đó thu nhập bình quân năm 2011 của người dân các tỉnh vùng sâu như Bắc Kạn chỉ có 730 USD, Quảng Ngãi chưa đến 450 USD và  Hà Giang chưa tới 300 USD.   

Chênh lệch về tài sản ở Việt Nam trong những năm gần đây còn tăng nhanh hơn chênh lệch thu nhập. Với sự tích tụ của cải hay nguồn lực của xã hội (đặc biệt là đất đai, vốn, quyền khai thác tài nguyên, quyền kinh doanh một số lĩnh vực có lợi nhuận cao...) ở quy mô lớn vào tay một số ít người, đồng thời làm cho một số lớn hơn nhiều bị mất hoặc giảm mạnh tài sản của mình (như nông dân mất đất canh tác). Thu nhập từ tài sản có thể lớn hơn nhiều so với các thu nhập khác của những người thu nhập cao, trong khi mất tài sản có thể làm triệt tiêu nguồn thu nhập lâu dài của nhiều gia đình. Vào cuối năm 2011, trong khi có đến 20% dân số sống ở mức nghèo (thu nhập dưới 2 USD/người/ngày) thì số người có tài sản từ 1 triệu USD (khoảng 20 tỷ đồng) trở lên đang tăng mạnh (năm 2011 tăng tới 33% so với năm 2010)(2).        

Đặc biệt, các số liệu trên cho thấy tình trạng bất bình đẳng có xu hướng gia tăng mạnh kể từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính thế giới. Các tác động của khủng hoảng tới tình trạng nghèo ở Việt Nam bao gồm:

a) Cuộc khủng hoảng đã làm cho nhiều doanh nghiệp lâm nguy. Hầu hết các doanh nghiệp của Việt Nam đều bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế toàn cầu, không ít doanh nghiệp lớn bị lao đao, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã bị tổn thương và phá sản mạnh do tác động của cuộc khủng hoảng này. Trong khi đó các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ chính là lực lượng quan trọng trong giải quyết việc làm và xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam.       

Theo báo cáo khảo sát của CIEM công bố ngày 21-11-2012(3), trong số gần 2.500 doanh nghiệp nhỏ và vừa được phỏng vấn tại 10 tỉnh, thành phố như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng... có tới 60% doanh nghiệp được khảo sát cho biết, trong năm 2011 họ vẫn còn chịu tác động tiêu cực do khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Tỷ lệ này cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ năm 2009 (17%). Ở miền Nam, trong năm 2011 có tới 71% các doanh nghiệp gặp khó khăn nhiều hơn, cao hơn nhiều so với tỷ lệ 64% của năm 2006.  

b) Nợ xấu của hệ thống ngân hàng gia tăng. Tổ chức xếp hạng tín dụng quốc tế Moody’s đã đánh giá rằng, tại Việt Nam, do lãi suất tăng cao khiến việc vay vốn khó khăn hơn và nợ xấu tại các ngân hàng đang có xu hướng gia tăng.    

Theo Moody’s, báo cáo của các ngân hàng Việt Nam cho thấy, các khoản vay không có khả năng thu hồi hoặc mất vốn vào cuối năm 2010 đã tăng cao hơn so với cùng kỳ. Tình hình này càng trầm trọng hơn trong năm 2011 và 2012. Khi nền kinh tế khủng hoảng, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp gặp khó khăn thì nợ xấu gia tăng. Trong khi đó các doanh nghiệp đói vốn, sản xuất kinh doanh tiếp tục giảm sút, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế và đời sống người lao động.           

c) Lạm phát vốn tiềm ẩn trong nền kinh tế đã bùng phát mạnh trở lại. Trong giai đoạn 1996-2003, lạm phát ở mức dưới 4%, chỉ có năm 1998 tăng lên 9,2% do tác động của khủng hoảng khu vực. Từ năm 2004, lạm phát bắt đầu có dấu hiệu tăng cao, đặc biệt năm 2008 tăng 19,89%, năm 2010 tăng 11,75%; năm 2011 là 18,13% (Xem bảng 6).         

Hậu quả là giá cả tăng cao, mức lương giảm sút. Mặc dù thu nhập bình quân đầu người gia tăng, song trên thực tế do lạm phát, mức thu nhập thực tế hầu như lại tăng không đáng kể. Mức tăng thu nhập thực tế bình quân đầu người năm 2011 so với năm 2007 chỉ bằng 1/5 mức tăng thu nhập danh nghĩa. Đối với người nghèo, kể từ “cú sốc” tăng giá năm 2008 đến nay, họ dường như nhanh chóng nghèo hơn so với chính mình vài năm về trước, khoảng cách về chi tiêu, chất lượng cuộc sống so với những nhóm người thu nhập cao ngày càng lớn hơn. Không có dự trữ thu nhập, chỉ cần có biến cố, như mất việc làm hay bệnh tật, gia đình sẽ lập tức bị ảnh hưởng và dễ bị tổn thương.  

2. Các thách thức đặt ra đối với quá trình giảm nghèo ở Việt Nam      

Thứ nhất, thách thức trước yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế từ chiều rộng sang chiều sâu. Kinh tế ở Việt Nam trong những năm qua được tiến hành trên cơ sở  mô hình phát triển theo chiều rộng, tập trung vào khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ, dựa vào đầu tư nước ngoài để xuất khẩu nhằm tăng trưởng nhanh. Ở một nước nông nghiệp lạc hậu như Việt Nam, mô hình đó có vai trò nhất định ở giai đoạn khởi động nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, nếu kéo dài thời gian thực hiện mô hình này sẽ dẫn đến hiệu quả kinh tế giảm sút, nguồn lực cạn kiệt, duy trì tình trạng một bộ phận dân cư luôn sống trong nghèo đói, mở rộng khoảng cách phân hóa giàu nghèo, làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội. Chuyển sang mô hình kinh tế phát triển theo chiều sâu đòi hỏi phải có sự chuyển biến về căn bản theo hướng lấy chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là ưu tiên hàng đầu. Tuy nhiên, Việt Nam đang gặp phải lực cản rất lớn về tiềm lực khoa học - công nghệ, về hiệu quả đầu tư xã hội, về cơ cấu kinh tế - ngành nghề, về chất lượng nguồn nhân lực.     

Thứ hai, thách thức trước các tác động của toàn cầu hóa. Tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, bên cạnh những cơ hội thì Việt Nam cũng phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng, đặc biệt là những vấn đề trực tiếp tác động đến đói nghèo.

Nền kinh tế chịu ảnh hưởng mạnh của những biến động trên thế giới, như khủng hoảng, giá cả tăng, trong khi nội lực của nền kinh tế còn yếu kém. Điều này tác động đến sản xuất kinh doanh và giá cả trong nước, mà người nghèo luôn là nhóm đối tượng khó khăn nhất khi giá cả tăng.     

Quá trình toàn cầu hóa cũng đòi hỏi cắt giảm, tiến tới xóa bỏ sự hỗ trợ của Nhà nước đối với sản xuất nông nghiệp, trong khi đó yêu cầu về chất lượng sản phẩm ngày càng cao. Đây là một thách thức lớn đối với nông dân trong điều kiện sản xuất không có được lợi thế từ quy mô. Tác động này đặc biệt to lớn đối với người nghèo vì hoạt động sản xuất của họ là nhỏ lẻ, manh mún, không có điều kiện để áp dụng các công nghệ nhằm nâng cao chất lượng.    

Thứ ba, thách thức về môi trường và biến đổi khí hậu. Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng lớn của thiên tai với các điều kiện khí hậu khắc nghiệt như bão, lũ lụt và hạn hán. Ngân hàng Thế giới (WB) ước tính 33% diện tích đất tự nhiên và 76% dân số Việt Nam dễ bị ảnh hưởng bởi thiên tai, trong khi 89% GDP được tạo ra ở các vùng chịu ảnh hưởng của thiên tai. Người nghèo thường tập trung ở những vùng nông thôn, những vùng dễ bị thiên tai, song khả năng chống chọi với thiên tai như lũ lụt, hạn hán của họ là rất thấp.          

Thứ tư, thách thức về năng lực quản lý của bộ máy chính quyền các cấp. Năng lực của các cấp chính quyền là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến công tác XĐGN. Hiện nay, năng lực hoạch định của các cấp chính quyền về chính sách kinh tế, xã hội còn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Một số chính sách được ban hành chưa đánh giá hết tác động đến giảm nghèo. Kết quả khảo sát của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) về an sinh xã hội ở Việt Nam cho thấy, nhóm giàu nhất chiếm 20% số hộ gia đình nhận được 40% lợi ích từ các chính sách an sinh xã hội, trong khi đó nhóm nghèo nhất chỉ nhận được chưa tới 7%.     

Việc tổ chức thực hiện các chính sách còn mang tính quan liêu. Trong quản lý vĩ mô, tính chất hành chính quan liêu dẫn đến lãng phí ở tầm quốc gia do sự nôn nóng, muốn làm tất cả, không có ưu tiên và bước đi phù hợp. Cách làm nặng về số lượng (do bệnh thành tích theo tư duy nhiệm kỳ) không chỉ gây lãng phí lớn, mà còn để lại nhiều vấn nạn cả về kinh tế và xã hội. Ở các cấp chính quyền địa phương, tính chất quan liêu thể hiện trong việc thực thi các chính sách giảm nghèo không đúng quy trình, đối tượng, dẫn đến chỗ những người không nghèo lại được hưởng lợi từ các chính sách này.      

Tình trạng tham nhũng, lãng phí tác động không chỉ đến chất lượng và hiệu quả phát triển, mà còn trực tiếp đến đời sống nhân dân. Hiện tượng tham nhũng xuất hiện cả trong lĩnh vực giáo dục, y tế, thậm chí cả trong dự án XĐGN, cùng với những tác động tiêu cực của các dự án xây dựng, nhất là các dự án sử dụng nhiều đất đai, làm cho vấn đề đói nghèo và ổn định xã hội càng khó giải quyết.            

3. Các định hướng chính sách để vượt qua thách thức  

Thực tiễn kinh tế - xã hội nước ta trong những năm qua cho thấy, không thể giải quyết vấn đề đói nghèo theo tư duy truyền thống, chỉ nhằm ổn định xã hội trước mắt, tách rời giữa tăng trưởng kinh tế với XĐGN.   

Tư duy mới về chính sách XĐGN phải có tính hệ thống, tức là đặt vấn đề đói nghèo trong chiến lược chuyển sang mô hình phát triển bền vững. Vấn đề đói nghèo được giải quyết từ ba hướng gắn bó với nhau: Tăng trưởng kinh tế bền vững (là nhân tố cơ bản hạn chế phát sinh đói nghèo); tiến bộ xã hội (thể hiện ở trình độ giáo dục, dân trí là điều kiện trực tiếp để giải quyết đói nghèo); bảo vệ môi trường (đang trở thành vấn đề quan trọng tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội).

Do đó, các định hướng chính sách phải tập trung vào những vấn đề cơ bản sau:        

Một là, chính sách kinh tế phải chú trọng vào bảo đảm sự ổn định và nâng cao hiệu quả của nền kinh tế, từng bước chuyển hướng sang phát triển theo chiều sâu, hiện đại hóa, nâng cao trình độ công nghệ trong các ngành sản xuất, kinh doanh.

Để làm cho nền kinh tế linh hoạt và có “sức chịu đựng” cao hơn trước những tác động từ bên ngoài, cần có lộ trình tự do hóa tài chính phù hợp, thiết lập các khuôn khổ điều tiết và giám sát chặt chẽ các luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Đối với thị trường trong nước, cần giải quyết các yếu kém nội tại của nền kinh tế, cụ thể là:

- Lành mạnh hóa môi trường tài chính. Nỗ lực cắt giảm thâm hụt ngân sách dưới 5% GDP và kiềm chế lạm phát ở mức một con số, bảo đảm các khoản nợ công dưới 50% GDP. Nâng cao năng lực hoạt động, hiệu quả quản trị, cải thiện mức độ an toàn của các ngân hàng và tổ chức tín dụng, bảo đảm nguyên tắc thị trường trong hoạt động ngân hàng.        

- Tiếp tục cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả của khu vực này. Tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân thành khu vực chủ lực của nền kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng và thông thoáng cho các doanh nghiệp tư nhân, bởi vì đây là khu vực góp phần quan trọng trong giải quyết công ăn việc làm cho người dân nói chung và người nghèo nói riêng. Khuyến khích các doanh nghiệp cải tiến công nghệ và trang bị công nghệ mới để tạo ra sản phẩm có chất lượng nhằm mở rộng thị trường và nâng cao uy tín hàng hóa Việt Nam.      

- Nâng cao hiệu quả đầu tư công, đẩy mạnh đầu tư vào khu vực nông nghiệp và phát triển nông thôn. Chuyển bớt nguồn lực đầu tư từ những ngành công nghiệp làm ăn không hiệu quả sang phát triển nông nghiệp và nông thôn để giúp tăng hiệu quả kinh tế và cải thiện đời sống của người nghèo.        

Hai là,đổi mới tổ chức và thể chế quản lý của Nhà nước. Mô hình tổ chức nhà nước và thể chế quản lý hiện nay, xét cho cùng cũng là sản phẩm của mô hình tăng trưởng cũ. Khi mô hình tăng trưởng kinh tế đã lỗi thời nhưng vẫn kéo dài kiểu tổ chức, quản lý cũ thì càng làm cho tình hình kinh tế và xã hội phát sinh nhiều vấn đề nghiêm trọng. Về khách quan, mô hình phát triển bền vững đòi hỏi và quy định mô hình tổ chức, thể chế quản lý - đó là Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. Theo mô hình này, cần đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của nền hành chính nhà nước, xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước gọn nhẹ, hợp lý. Các nội dung cơ bản là:           

- Chính phủ tập trung làm tốt hơn việc hoạch định các chính sách, xây dựng thể chế và nâng cao năng lực chỉ đạo tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động kinh tế - xã hội.

- Hoàn thiện tổ chức các bộ theo nguyên tắc bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực nhằm thu gọn đầu mối, đồng thời tiến tới tinh giản cơ cấu bên trong các bộ. Tổ chức hợp lý chính quyền địa phương các cấp; đẩy mạnh phân cấp và giao quyền tự chủ lớn hơn cho chính quyền địa phương.          

- Tập trung xây dựng hệ thống thể chế kinh tế tương thích với các quy luật của thị trường nhằm điều tiết và tạo điều kiện cho các chủ thể kinh tế thuộc mọi thành phần phát triển.            

- Cải cách thể chế về tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước theo nguyên tắc trao quyền tự chủ lớn hơn gắn với nâng cao trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ nhằm đáp ứng nhanh chóng, có hiệu quả các nhu cầu của người dân.       

- Tăng cường năng lực của các cấp chính quyền để triển khai có hiệu quả các chính sách. Đặc biệt, cần thực hiện kiểm soát và xử lý nghiêm khắc đối với những hành vi gian lận, tham nhũng trong kinh phí hỗ trợ giảm nghèo. 

Ba là,quan tâm xây dựng và triển khai thực hiện các chính sách tác động trực tiếp đến giảm nghèo. 

- Tập trung vào chính sách xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn, chú trọng các xã nghèo. Triển khai rộng các dự án hạ tầng giao thông nông thôn để làm tiền đề cho phát triển kinh tế, tạo ra nhiều việc làm cho người dân.      

- Ban hành chính sách khuyến khích các hình thức liên kết giữa khoa học - công nghệ với sản xuất, nhất là ở khu vực nông nghiệp, nông thôn.           

- Phát triển các hình thức giáo dục phổ cập về nghề nghiệp cho những người trong diện đói nghèo nhằm nâng cao năng lực, ý thức chủ động vượt đói nghèo của người dân nông thôn, miền núi.           

- Tăng cường hệ thống an sinh xã hội nhằm giảm bớt tác động của các rủi ro mang tính hệ thống của nền kinh tế cũng như ở hộ gia đình và cá nhân. Đặc biệt, các chính sách an sinh xã hội phải tập trung vào nhóm đối tượng nghèo.

- Quan tâm phát triển các dịch vụ đối với nông nghiệp và nông thôn như tưới tiêu, khuyến nông nhằm nâng cao năng suất trong nông nghiệp, qua đó tăng thu nhập của người dân nông thôn. Đặc biệt, mở rộng tín dụng ở nông thôn để giúp người nghèo có vốn sản xuất kinh doanh và thoát nghèo.        

- Tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc thiểu số có khả năng tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội, hạ tầng kinh tế - xã hội, có việc làm và thu nhập; đồng thời cần giảm thiểu rào cản ngôn ngữ, phát triển giáo dục để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giúp đồng bào dân tộc tăng cường sự tham gia và hưởng lợi từ tiến trình tăng trưởng kinh tế.           

Bốn là,các chính sách giáo dục và y tế là những dịch vụ công cơ bản cần đặc biệt quan tâm hướng tới người nghèo trong điều kiện Việt Nam đang chuyển từ bao cấp sang thực hiện ngày càng rộng rãi phương thức thu tiền từ người sử dụng các dịch vụ này. Khoảng cách ngày càng rộng giữa người giàu và người nghèo trong sử dụng các dịch vụ thiết yếu này đòi hỏi Nhà nước phải dành một phần ngân sách thỏa đáng để hỗ trợ cho người nghèo thông qua các hình thức hỗ trợ trực tiếp người sử dụng. Nhà nước cần cân đối lại nguồn lực tài chính để miễn giảm viện phí, học phí cho người nghèo ở diện rộng hơn, với mức kinh phí lớn hơn; tăng cường cho học sinh nghèo vay vốn tín dụng lãi suất thấp.     

Năm là,việc đầu tư phát triển kinh tế phải được tính toán đầy đủ để tránh hủy hoại môi trường. Hoàn thiện chính sách bảo vệ môi trường, ứng dụng các công nghệ thân thiện với môi trường. Trong chi ngân sách nhà nước cần có chi phí hợp lý cho bảo vệ môi trường để bảo đảm cân bằng môi trường sống. Nhà nước chỉ phê duyệt các dự án đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài nếu bảo đảm thực hiện mô hình phát triển bền vững. Thẩm định chặt chẽ các dự án sản xuất, xây dựng, các dự án XĐGN trước khi thực hiện, nhằm thể hiện được định hướng phát triển bền vững.      

 

(1) Tổng cục Thống kê: Điều tra mức sống hộ gia đình, 2010.           

(2) Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM): Giảm khoảng cách chênh lệch thu nhập, 2011.      

(3) CIEM: Đặc điểm môi trường kinh doanh ở Việt Nam - Kết quả điều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2011, 2012.  

 

PGS, TS LÊ CHI MAI

Học viện Hành chính

Các bài viết khác