Trang chủ    Thực tiễn    Những thách thức của di cư tự do từ nông thôn ra thành thị ở Việt Nam hiện nay
Thứ sáu, 21 Tháng 12 2018 10:29
1284 Lượt xem

Những thách thức của di cư tự do từ nông thôn ra thành thị ở Việt Nam hiện nay

(LLCT) -  Những năm qua, làn sóng những người di cư từ nông thôn ra thành thị ở nước ta đã và đang diễn ra một cách tự phát, thiếu tính tổ chức nên những khó khăn mà họ phải đối mặt khi sinh sống ở thành phố là không nhỏ, đồng thời những hệ lụy do họ gây ra cho địa phương nơi đến cũng rất phức tạp. Do vậy, cần phải có các giải pháp đồng bộ để khắc phục.

 

1. Thực trạng di cư tự do từ nông thôn đến thành thị trong những năm gần đây

Di cư hay di dân là một thuật ngữ mô tả quá trình di chuyển dân số hoặc quá trình con người rời bỏ hoặc hội nhập, hoặc thiết lập nơi cư trú mới vào một đơn vị hành chính - địa lý trong một thời gian nhất định. Di dân có thể liên quan đến sự di chuyển của một cá nhân, một gia đình, thậm chí cả một cộng đồng. Một điều có thể nhận thấy là không phải mọi sự di chuyển của con người đều được coi là di dân. Từ các nghiên cứu, chúng tôi đồng tình với quan điểm cho rằng: Di dân là sự di chuyển của người dân theo lãnh thổ với những giới hạn về thời gian và không gian nhất định, kèm theo sự thay đổi nơi cư trú. Theo cách tiếp cận trên đây, di dân có những đặc điểm là:

Một là, con người di chuyển khỏi một nơi nào đó đến một nơi khác, với một khoảng cách nhất định. Nơi đi (nơi xuất cư) và nơi đến (nơi nhập cư) phải được xác định, có thể là vùng lãnh thổ hoặc một đơn vị hành chính. Khoảng cách giữa hai điểm là độ dài di dân. Hai là, con người khi di dân bao giờ cũng với những mục đích nhất định, họ đến một nơi nào đó và ở lại đó trong một thời gian nhất định. Ba là, nơi đi (xuất phát) là nơi ở thường xuyên, được quy định theo hình thức đăng ký hộ khẩu hoặc đăng ký dân sự xác định của cấp quản lý hành chính có thẩm quyền và nơi đến là nơi ở mới. Tính chất cư trú là điều kiện cần để xác định di dân. Bốn là, khoảng thời gian ở lại nơi mới trong bao lâu là đặc điểm quan trọng xác định sự di chuyển đó có phải là di dân hay không.

Trong thời gian qua, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiều khu công nghiệp lớn đã được xây dựng ở các thành phố như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, Biên Hòa, Bình Dương... Quá trình đô thị hóa cũng diễn ra hết sức nhanh chóng. Sự phát triển của cáckhu công nghiệp, khu đô thị và sự năng động của các thành phần kinh tế đã tạo ra được nhiều công ăn việc làm,thu hút một số lượng lớn lao động từ khu vực nông thôn di cư rathành thịđể tìm việc làm.

Theo Tổng điều tra dân số năm 2014, Việt Nam hiện có khoảng 6,9 triệu người từ 5 tuổi trở lên thay đổi nơi cư trú tới địa điểm khác trong thời gian từ năm 2009-2014 (tương đương với khoảng 7,92% tổng số dân). Con số này tăng gần 50% so với giai đoạn 1994-1999 (4,5 triệu người)(1). Đến năm 2015, cả nước có 10,2 triệu người di dân nội tỉnh và liên tỉnh(2). Gần đây, tháng 6-2016, Viện Phát triển sức khỏe cộng đồng Ánh sáng (LIGHT) công bố kết quả khảo sát, theo đó, cứ 3 hộ gia đình thì có 2 người di dân.

Theo kết quả điều tra dân số giữa kỳ của Tổng cục Thống kê năm 2014, tỷ suất di dân thuần của khu vực thành thị là 27,2% và của khu vực nông thôn là -13,3%, phản ánh xu hướng di dân chủ yếu vào khu vực thành thị. Kết quả điều tra cũng cho thấy, đối với di dân ngoại tỉnh, luồng di dân từ nông thôn ra thành thị chiếm tỷ trọng cao nhất (44,2%). Dân cư khu vực nông thôn từ tỉnh khác chuyển đến chiếm 3,38% dân số thành thị. So với giai đoạn 2004-2009, tỷ trọng luồng di dân từ nông thôn ra thành thị tăng lên (44,2% so với 30,5%), tỷ trọng luồng di dân từ thành thị đến thành thị giảm xuống từ 34,6% xuống 14,9%(3). Điều này cho thấy sức hút kinh tế của khu vực thành thị đối với khu vực nông thôn ngày càng lớn.

Tuy nhiên, các số liệu nêu trên chưa bao gồm nhiều loại hình di dân như ngắn hạn, mùa vụ, những người tạm trú hay những sự di chuyển diễn ra hơn 5 năm trước khi tiến hành cuộc điều tra. Vì thế nhiều chuyên gia cho rằng, số lượng người di dân thực tế ở Việt Nam thời gian này còn lớn hơn nhiều so với các con số nêu trên.

Riêng đối với lao động tự do, theo thống kê mới nhất của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, cả nước hiện có 56 triệu người trong độ tuổi lao động, nhưng chỉ có khoảng 16,2 triệu người có quan hệ lao động, tức là có hợp đồng lao động, có các ràng buộc về bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội …, còn lại là nông dân, lao động làng nghề... Đặc biệt, trong số này có 23,5% lao động (tương đương 10,9 triệu người) làm việc trong khu vực không chính thức là lao động tự do như: thợ uốn tóc, thợ may tại nhà, thợ xây dựng tự do, người hành nghề xe ôm, giúp việc gia đình... Trong đó, lao động tự làm 15%, lao động làm thuê 5,7%, lao động gia đình không hưởng lương 1,9%(4).

2. Những thuận lợi và khó khăn chủ yếu của di cư lao động tự do từ nông thôn ra thành thị

Những thuận lợi

Một là, di cư từ nông thôn ra thành thị đã giải quyết việc làm cho một lượng lớn lao động: hàng chục vạn lao động di cư đã được tuyển dụng vào làm việc trong các xí nghiệp, các cơ quan, các doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nước và tư nhân; hàng nghìn người lao động tự do cũng tìm được những công việc rất đa dạng mà khu vực thành thị cần có người làm, như: thu mua phế liệu, buôn bán nhỏ, giúp việc gia đình, lái xe taxi, xe ôm, công việc xây dựng,... Điều đó cho thấy, những người di cư đã đóng góp một phần đáng kể nguồn lao động cho các khu công nghiệp, các ngành dịch vụ ở thành phố, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội khu vực thành thị.

Hai là, hầu hết lao động di cư ra thành phố đã đạt được mục tiêu tìm kiếm việc làm, tăng thêm thu nhập, giúp đỡ tài chính cho gia đình để cải thiện đời sống hoặc đầu tư vào sản xuất. Thông qua đó, họ đã góp phần làm giảm sức ép về lao động dư thừa tại nông thôn, giải quyết việc làm nói chung và góp phần vào công cuộc giảm nghèo ở chính quê hương họ.

Ba là, môi trường sinh sống và lao động ở thành phố là điều kiện thuận lợi để lớp người di cư trẻ tuổi có thể học được nhiều điều bổ ích, mở rộng tầm hiểu biết, nâng cao tay nghề và phấn đấu để đạt được những mơ ước của mình.

Những khó khăn

Vấn đề nhà ở cho những người di cư: vấn đề này đã được nhiều nhà nghiên cứu về di dân đề cập đến và đều thừa nhận rằng, đây là một vấn đề nan giải, một áp lực lớn đối với chính quyền thành phố. Đại đa số những người di cư vào thành phố không thể mua được nhà riêng, họ phải ở thuê trong những khu nhà trọ được xây dựng tạm bợ, không đủ các điều kiện sinh hoạt tối thiểu... Nhiều người cùng thuê một căn phòng chật hẹp, không đủ tiện nghi, môi trường ô nhiễm làm ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân họ và cả cư dân xung quanh. Việc giải quyết nhà ở cho cư dân sinh sống chính thức ở thành phố chưa bao giờ là vấn đề dễ dàng đối với chính quyền thành phố, nhất là các thành phố lớn; nay lại thêm làn sóng đông đảo người di cư ồ ạt đổ về khiến cho vấn đề vốn đã khó khăn lại trở nên khó khăn gấp bội. Mặc dù Nhà nước đã có những chính sách để tháo gỡ, như việc đầu tư xây dựng những khu nhà dành riêng cho người có thu nhập thấp, nhưng người di cư không dễ dàng tiếp cận được, do điều kiện tài chính của họ còn hạn hẹp. Để giải quyết vấn đề này, chính quyền thành phố, các chủ xí nghiệp, doanh nghiệp phải cùng tham gia vào việc xây dựng các khu nhà ở dành cho những người lao động.

Cũng do không có nhà ở nên nhiều người di cư phải sống ở những nơi công cộng, những nơi mà trước đây người ta gọi là các “xóm liều”. Những đối tượng này thường không khai báo tạm trú, tạm vắng với công an khu vực nên việc quản lý họ gặp nhiều khó khăn. Trong số những người di cư ra thành phố có cả những phần tử có tiền án, tiền sự trà trộn vào các khu nhà trọ, một số thanh niên sa ngã vào các tệ nạn xã hội như nghiện hút, cờ bạc, trộm cắp, mại dâm,... khiến cho tình hình an ninh, trật tự xã hội ở thành phố nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp. Ngoài ra, sự phát triển các cơ sở hạ tầng như trường học, bệnh viện, giao thông đô thị cũng không theo kịp với sự gia tăng số lượng người di cư vào thành phố, làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội.

Những khó khăn trong công việc: phần lớn những người di cư tự do từ nông thôn ra thành thị có trình độ tay nghề thấp, chưa qua đào tạo, chưa được trang bị những hiểu biết cần thiết về điều kiện lao động công nghiệp, về môi trường sinh sống ở đô thị nên họ thường gặp khó khăn trong tìm kiếm việc làm, không biết bảo vệ các quyền và quyền lợi của người lao động do luật pháp quy định. Đa số người lao động tự do, làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức, chấp nhận làm việc không có hợp đồng lao động, không có bảo hiểm, mà chỉ thỏa thuận miệng về tiền công, việc làm với chủ sử dụng lao động. Vì vậy, thời gian lao động của họ thường bị kéo dài hơn thời gian do luật định; chế độ nghỉ ngơi không bảo đảm; khi ốm đau không được chăm sóc sức khỏe.

Nguy cơ bị bóc lột, lạm dụng: do trình độ văn hóa thấp, thiếu hiểu biết về pháp luật, nên họ dễ bị lạm dụng, bị bóc lột, đặc biệt là chị em phụ nữ. Số lượng lao động nữ di cư ra thành phố thường đông hơn nam giới, nhưng họ lại là nhóm người dễ bị tổn thương nhất. Ngoài những khó khăn mà chị em phải đối mặt như nam giới thì họ luôn phải đề phòng nạn cướp bóc, trấn lột, bạo hành, buôn bán phụ nữ, xâm hại tình dục; đặc biệt là số lao động nữ làm việc trong các nhà hàng, khách sạn, các quán karaoke, vũ trường, những tụ điểm vui chơi, giải trí là nhóm người có nguy cơ cao về lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục.

3. Giải pháp hóa giải thách thức

Thứ nhất, để giải quyết vấn đề nhà ở cho người di cư, chính quyền đô thị cần có các biện pháp phù hợp, như: quy định đối với các cơ sở tuyển dụng lao động phải bảo đảm chỗ ở cho người nhập cư gần doanh nghiệp của mình và theo quy hoạch chung; xây dựng các khu nhà ở xã hội, nhà giá rẻ cho người nhập cư có thu nhập thấp…

Thứ hai, việc quản lý hộ khẩu cũng cần có cách tiếp cận thích hợp trong bối cảnh mới. Người nhập cư cống hiến sức lao động của mình cho sự phát triển chung của xã hội, vì vậy không thể coi họ là công dân đô thị loại hai. Trong thời gian qua, ở các thành phố lớn đã quá coi trọng hộ khẩu, thường có các biện pháp xử lý dựa vào hộ khẩu. Do đó, những người nhập cư chưa có hộ khẩu thường tiếp cận hạn chế với các dịch vụ cơ bản... Vì vậy, công tác quản lý hộ khẩu cần cải tiến linh hoạt hơn, dễ tiếp cận và không gây phiền hà cho người dân, tránh tình trạng lợi dụng việc có nhiều người muốn chuyển đến đô thị, khu công nghiệp tìm việc làm, một số cá nhân đã lừa gạt người nhập cư với những thông tin sai lệch để trục lợi.

Thứ ba, để khắc phục tình trạng người nhập cư vào các đô thị nói chung không có tay nghề hoặc tay nghề không cao, cần thực hiện một số giải pháp như:tăng cường công tác tuyên truyền hướng nghiệp cho học sinh ngay từ trong nhà trường phổ thông; mở các khóa bổ túc nghề ngoại khóa theo nguyện vọng, sở trường cho học sinh các lớp phổ thông trung học; trên cơ sở nghiên cứu cầu của nền kinh tế về số lượng và chất lượng nguồn lao động đối với từng loại hình nghề nghiệp, các trường nghề có kế hoạch tuyển sinh và đào tạo cho phù hợp.

___________________

(1), (3) Tổng Cục thống kê:Báo cáo điều tra Dân số và nhà ở năm 2014, Nxb Thống kê, Hà Nội,2015,tr.23, 28.

(2), (4) Tổng Cục thống kê: Niên giám thống kê năm 2014, Nxb Thống kê, Hà Nội,2015tr.116, 67.

Tài liệu tham khảo

1. Đặng Nguyên Anh: “Chiều cạnh giới của di dân lao động thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Tạp chí Xã hội học, số 2 (90) - 2005.

2. Lê Bạch Dương, Nguyễn Thanh Liêm: Từ nông thôn ra thành phố: Tác động kinh tế - xã hội của di cư ở Việt Nam, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2011.

3. Đinh Quang Hà: “Vai trò của di dân nông thôn - đô thị đối với phát triển kinh tế hộ gia đình ở nông thôn”, Tạp chí Dân số và Phát triển, số 3 - 2010.

4. Nhập cư vào Hà Nội: Thực trạng và biện pháp quản lý”, http:// cpv.org.vn.

5. Nguyễn Yên tổng hợp: “Di cư và đô thị hóa qua kết quả Tổng điều tra dân số năm 2009”, http: //gopfp.gov.vn.

6. Nguyễn Thanh Liêm: “Di dân, phát triển và bất bình đẳng ở Việt Nam trên đường đổi mới và hội nhập”, Tạp chí Xã hội học, số 3 - 2006.

7. Nguyễn Thanh Tâm và cộng sự: “Báo cáo: Sự thích ứng của người di cư tự do từ nông thôn vào đô thị và các vùng phụ cận - nghiên cứu trường hợp Hà Nội”, Đề tài cấp Bộ, 2008.

8. Nguyễn Thị Thiềng và cộng sự: Di chuyển để sống tốt hơn. Di dân nội thị tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội (Việt Nam), Nxb. Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, 2008

9. Hà Thị Phương Tiến, Hà Quang Ngọc: Lao động nữ di cư tự do nông thôn – thành thị, Nxb. Phụ nữ, 2008.

10. Trung tâm Thông tin - tư liệu thuộc Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương: “Thông tin chuyên đề: Giảm khoảng cách chênh lệch thu nhập”, số 5, 2012.

TS Nguyễn Đức Hải

Vụ Quản lý đào tạo,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác