Trang chủ    Thực tiễn    Tăng cường xây dựng đạo đức công vụ ở nước ta hiện nay
Thứ hai, 30 Tháng 9 2019 09:08
273 Lượt xem

Tăng cường xây dựng đạo đức công vụ ở nước ta hiện nay

(LLCT) - Tăng cường xây dựng đạo đức công vụ (ĐĐCV) ở Việt Nam hiện nay có vai trò quan trọng, góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Xây dựng ĐĐCV thực chất là đưa văn hóa vào trong chính trị cũng như làm cho văn hóa (cốt lõi là đạo đức) lan tỏa, thấm sâu trong các quan hệ và hoạt động công vụ, từ đó làm cho việc sử dụng quyền lực và hoạt động công vụ thật sự vì lợi ích của nhân dân. Bài viết phân tích sự cần thiết của việc tăng cường xây dựng ĐĐCV; đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng ĐĐCV ở Việt Nam hiện nay.

1. Sự cần thiết của việc xây dựng đạo đức công vụ ở nước ta

Nhấn mạnh vai trò và tầm quan trọng của xây dựng văn hóa công vụ (trong đó cốt lõi là đạo đức công vụ), Văn kiện Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế. Chú trọng chăm lo xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước và các đoàn thể; coi đây là nhân tố quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”(1).

Có nhiều quan niệm về đạo đức công vụ, nhưng có thể hiểu ĐĐCV là đạo đức của cán bộ, công chức trong thực thi công vụ. Đó là những giá trị, chuẩn mực, tiêu chuẩn mà cán bộ, công chức cần phải tuân thủ trong quá trình thực thi nhiệm vụ nhằm duy trì và thực hiện tốt lợi ích công, đó là:

Một là, phục vụ nhân dân (hay còn gọi là phục vụ công). Hoạt động chính trị, hoạt động công vụ của tổ chức và cá nhân (cán bộ, công chức) cần phải hướng đến mục tiêu, mục đích duy nhất là không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân: “hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, lấy ấm no, hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Không làm bất cứ việc gì có hại cho Đảng, cho đất nước và nhân dân”(2).

Hai là, đặt lợi ích công lên trên hết, trước hết. Lợi ích công là lợi ích của nhân dân, của quốc gia - dân tộc. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, “chí công vô tư”; “dĩ công vi thượng” là yêu cầu đặt lợi ích công lên trên hết, trước hết. Việc thực thi công vụ cần chống và khắc phục các biểu hiện đi ngược với lợi ích công, như: hiện tượng “lợi ích nhóm”; “lợi ích cục bộ” và chủ nghĩa cá nhân (tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi).

Ba là, trách nhiệm công gồm các trách nhiệm chính trị; trách nhiệm pháp luật; trách nhiệm hành chính và trách nhiệm nêu gương về đạo đức. Trách nhiệm chính trị là tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với nhân dân; hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc; kịp thời giải quyết những yêu cầu và nhu cầu hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Trách nhiệm pháp luật có nghĩa là phải tuân thủ đầy đủ và nghiêm túc quy định của pháp luật trong thực thi công vụ; đồng thời gánh chịu hậu quả pháp lý nếu có hành vi trái pháp luật. Trách nhiệm hành chính là luôn quan tâm đến việc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong thực thi công vụ. Trách nhiệm nêu gương về đạo đức chính là gương mẫu về đạo đức và lối sống cả trong gia đình và ngoài xã hội; làm gương về đạo đức cho xã hội.

Bốn là, công bằng trong thực thi công vụ. Có nghĩa là cần công bằng trong thực thi công vụ, không phân biệt đối xử, cần nỗ lực để làm cho tất cả mọi người đều có thể tham gia vào tiến trình phát triển và thụ hưởng thành quả của phát triển.

Năm là, luôn có ý thức sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nguồn lực công. Nói cách khác, người thực thi công vụ cần coi tài sản, nguồn lực của nhà nước, của tập thể như tài sản và nguồn lực của bản thân mình, gia đình mình, khắc phục hiện tượng: “Quyết định hoặc tổ chức thực hiện gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên...; đầu tư công tràn lan, hiệu quả thấp hoặc không hiệu quả; chi tiêu công quỹ tùy tiện, vô nguyên tắc. Sử dụng lãng phí nguồn nhân lực, phí phạm thời gian lao động”(3).

Sáu là, dân chủ. Cán bộ, công chức cần thực hiện công khai thông tin để đảm bảo “quyền được biết” của công dân, cũng như khích lệ sự tham gia của công dân, biết lắng nghe, đối thoại với nhân dân; không dân chủ hình thức, không độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành.

Việc tăng cường xây dựng đạo đức công vụ ở Việt Nam hiện nay là cấp bách và rất cần thiết, xuất phát từ những lý do chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, xuất phát từ tầm quan trọng của đạo đức công vụ trong việc xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh đạo đức chính trị, đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Người coi đạo đức của người cán bộ, đảng viên như nguồn của suối, gốc của cây. Đạo đức công vụ quan trọng, vì: (i) tổ chức công và cán bộ, công chức là người sử dụng quyền lực công, phân phối lợi ích công, hoạt động công vụ nên ảnh hưởng rộng rãi đến lợi ích và cuộc sống của người dân. Do đó, nếu việc thực thi công vụ dựa trên các chuẩn mực đạo đức thì sẽ ảnh hưởng tích cực đến lợi ích và cuộc sống của nhiều người dân. Ngược lại, việc thực thi công vụ không dựa trên các chuẩn mực đạo đức sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của nhiều người dân. (ii) đạo đức công vụ thực hiện chức năng điều chỉnh và kiểm soát hành vi mà pháp luật và cơ chế dân chủ không thể thực hiện được. Trong thực thi công vụ, pháp luật và cơ chế dân chủ có vai trò quan trọng trong việc chế ước và kiểm soát hành vi của đội ngũ cán bộ, công chức. Tuy nhiên, điều này mới chỉ là điều kiện “cần” mà chưa phải là điều kiện “đủ”. Điều kiện đủ chính là lương tâm, đạo đức của người thực thi công vụ. Bởi vì, khi đạo đức công vụ thật sự là một thành tố nằm trong tâm trí của cán bộ, công chức, thì nó sẽ tạo ra một sức mạnh nội sinh thúc đẩy người thực thi công vụ khi có sự giằng xé giữa lợi ích tư và lợi ích công có thể đưa ra được sự lựa chọn hành vi có lợi cho lợi ích công. Vì thế, sự tự giác về mặt đạo đức của người cán bộ, công chức góp phần ngăn ngừa một số hiện tượng tiêu cực trong thực thi pháp luật. (iii) đạo đức công vụ là yếu tố then chốt bảo đảm hiệu quả thực thi công vụ. Tác dụng quyết định của đạo đức công vụ đối với hiệu quả thực thi công vụ thể hiện ở hai khía cạnh:(4) Một là, tiết kiệm chi phí giao dịch. Trong hoạt động công vụ, chi phí giao dịch được hiểu là những chi phí phát sinh khi các cơ quan hoặc chủ thể thực thi công vụ thực hiện việc huy động nguồn lực, thực thi chính sách và cung ứng dịch vụ công. Thực thi công vụ dựa trên các chuẩn mực đạo đức sẽ góp phần hạ thấp chi phí thông tin, chi phí hoạch định chính sách, chi phí thực thi và chi phí giám sát; đồng thời có tác dụng khắc phục một số thiếu sót dẫn đến sự lãng phí. Việc thực thi công vụ dựa trên các chuẩn mực đạo đức sẽ có được niềm tin nhiều hơn từ phía người dân, vì thế càng có khả năng nhận được sự ủng hộ và hợp tác của người dân. Hai là, tiết kiệm chi phí chuyển hóa nguồn lực. Ở một nghĩa nào đó, thực thi công vụ chính là quá trình chủ thể thực thi công vụ chuyển hóa nhân lực, vật lực, tài lực và thông tin nhằm cung ứng dịch vụ công cho xã hội. Đạo đức công vụ sẽ góp phần hạn chế sự hao tổn về nguồn lực trong quá trình này, từ đó nâng cao hiệu quả phục vụ công. Nếu thiếu đạo đức công vụ sẽ dẫn đến lạm dụng chức quyền, thiếu trách nhiệm, trục lợi và tham nhũng trong quá trình phục vụ công, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng và hiệu quả phục vụ công.

Thứ hai, xuất phát từ thực trạng đạo đức công vụ ở nước ta hiện nay. Trong công cuộc đổi mới, trên cơ sở thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đạo đức và nhằm khắc phục, hạn chế một số yếu kém trong đạo đức công vụ, Đảng và Nhà nước luôn coi trọng việc xây dựng đạo đức công vụ. Chủ trương xây dựng văn hóa trong chính trị, cũng như coi xây dựng Đảng về đạo đức với tư cách là một trong các nội dung  của công tác xây dựng Đảng đã cho thấy nhận thức của Đảng về tầm quan trọng của đạo đức công vụ và xây dựng đạo đức công vụ. Do công tác xây dựng đạo đức công vụ từng bước được coi trọng nên đạo đức công vụ ở nước ta có nhiều ưu điểm. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, đạo đức công vụ ở nước ta còn một số hạn chế, yếu kém: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước”(5).

Nhìn từ chuẩn mực phục vụ nhân dân, vẫn còn một bộ phận cán bộ, công chức chưa thật sự phục vụ nhân dân; lấy sự “giàu có của gia đình và bản thân làm mục tiêu phấn đấu” mà “chưa lấy ấm no, hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.

Nhìn từ chuẩn mực lợi ích công, vẫn còn một bộ phận cán bộ, công chức chưa đặt lợi ích của nhân dân, của đất nước, của dân tộc lên trên hết, trước hết; “cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể;  tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực; sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi(6) .

Nhìn từ chuẩn mực trách nhiệm công, vẫn còn một bộ phận cán bộ, công chức quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân;  vẫn còn hiện tượng có ý làm trái các quy định của pháp luật trong thực thi công vụ; bảo thủ, trì trệ, thiếu năng động, sáng tạo; ngại tìm tòi, đổi mới; năng suất, chất lượng và hiệu quả làm việc còn thấp; một số cán bộ, công chức chưa gương mẫu về đạo đức và lối sống với các biểu hiện như: sống, sinh hoạt, tiêu dùng, giải trí xa hoa, lãng phí; “đánh bạc, rượu chè bê tha, mê tín dị đoan, ủng hộ hoặc tham gia các tổ chức tôn giáo bất hợp pháp. Sa vào các tệ nạn xã hội, vi phạm thuần phong, mỹ tục, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, chuẩn mực đạo đức gia đình và xã hội”(7).

Nhìn từ chuẩn mực công bằng trong thực thi công vụ. Đại hội XII chỉ rõ: “Trên một số mặt, một số lĩnh vực, một bộ phận nhân dân chưa được thụ hưởng đầy đủ, công bằng thành quả của công cuộc đổi mới”(8). Trong thực tiễn thực thi công vụ, vẫn còn tình trạng thiên vị, ưu ái cho một số doanh nghiệp, chưa tạo cơ hội bình đẳng và công bằng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; vẫn còn biểu hiện phân biệt đối xử, hiện tượng có “bôi trơn” thì được ưu ái và tạo thuận lợi trong giải quyết công việc, còn người “không quen”, không có “bôi trơn” thì gây khó dễ trong cung ứng dịch vụ vẫn còn tồn tại ở một số nơi. Nhìn từ chuẩn mực sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nguồn lực công, vẫn còn tình trạng “quyết định hoặc tổ chức thực hiện gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên...; đầu tư công tràn lan, hiệu quả thấp hoặc không hiệu quả; chi tiêu công quỹ tùy tiện, vô nguyên tắc. Sử dụng lãng phí nguồn nhân lực, phí phạm thời gian lao động”(9).

Nhìn từ chuẩn mực dân chủ, một số cơ quan và cán bộ, công chức “chưa coi trọng việc thực hiện công khai, minh bạch để đảm bảo “quyền được biết” của đảng viên và nhân dân cũng như phát huy vai trò giám sát trong tổ chức Đảng và nhân dân; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, dân chủ hình thức; độc đoán, chuyên quyền, gia trưởng, quan liêu, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành”(10), “định kiến với người góp ý, phê bình”(11).

Thứ ba, xuất phát từ đổi mới và phát triển trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và tích cực, chủ động hội nhập quốc tế là phương hướng lớn trong xây dựng CNXH ở Việt Nam hiện nay. Bên cạnh những tác động tích cực, kinh tế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế cũng có những tác động tiêu cực đến lĩnh vực văn hóa, đạo đức ở nước ta. Kinh tế thị trường là cơ chế kinh tế làm cho việc phân bổ các nguồn lực phát triển trở nên hiệu quả hơn, nhưng dễ làm con người tuyệt đối hóa giá trị đồng tiền, từ đó hình thành chủ nghĩa “sùng bái đồng tiền”; quan hệ giá trị - tiền tệ rất dễ thâm nhập vào các quan hệ và hoạt động của khu vực công, từ đó, làm suy yếu các giá trị cơ bản của đạo đức công vụ. Cho nên, để hạn chế tác động mặt trái này càng cần phải coi trọng việc xây dựng ĐĐCV. Tương tự như kinh tế thị trường, quá trình hội nhập quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa tạo điều kiện để chúng ta tranh thủ vốn, kinh nghiệm quản lý và khoa học công nghệ tiên tiến phục vụ cho mục tiêu phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh đó, việc thực hiện “mở” với bên ngoài cũng tạo cơ hội để chủ nghĩa cá nhân về đạo đức (12) thâm nhập làm xói mòn các giá trị đạo đức, như: chủ nghĩa tập thể, lợi ích tập thể, lợi ích chung trong các quan hệ xã hội, cũng như trong hoạt động của khu vực công. Trong bối cảnh này, càng cần phải coi trọng việc xây dựng ĐĐCV.

3. Một số giải pháp nhằm tăng cường xây dựng đạo đức công vụ ở nước ta

Để tăng cường xây dựng ĐĐCV ở nước ta hiện nay, bên cạnh việc coi trọng sự tự giác rèn luyện và thực hành ĐĐCV của bản thân mỗi cán bộ, công chức, cần quan tâm thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận để xác lập hệ thống chuẩn mực, giá trị đạo đức công vụ. Yêu cầu về xây dựng văn hóa, đạo đức, trong đó có xây dựng đạo đức công vụ đang đặt ra nhu cầu bức thiết đối với việc xác lập hệ thống giá trị, chuẩn mực văn hóa và đạo đức ở nước ta hiện nay. Để đáp ứng yêu cầu xây dựng đạo đức công vụ hiện nay, cần khẩn trương tổng kết và nghiên cứu để xác lập hệ thống chuẩn mực, giá trị về đạo đức công vụ. Nghiên cứu thực tiễn của nhiều quốc gia cho thấy, tuy mỗi nước đề ra chuẩn mực, tiêu chuẩn khác nhau về đạo đức công vụ, song những giá trị, chuẩn mực sau đều được hầu hết các nước nhấn mạnh và thừa nhận, đó là: i) phục vụ công (phục vụ nhân dân); ii) lợi ích công; iii) trách nhiệm công (gồm trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp luật, trách nhiệm hành chính và trách nhiệm nêu gương về đạo đức); iv) công bằng xã hội; v) sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn lực công; vi) công khai, minh bạch và phát huy dân chủ.

Thứ hai, làm cho hệ thống thể chế thể hiện đầy đủ các chuẩn mực, giá trị đạo đức. Max Weber cho rằng: “mọi người tin tưởng vào thể chế không phải là tin tưởng vào bản thân thể chế, mà là tin tưởng vào định hướng giá trị đạo đức của thế chế đó”(13). Từ quan điểm này của Max Weber ta thấy, con đường hiệu quả nhất để xây dựng ĐĐCV chính là nỗ lực để làm cho hệ thống thể chế  (theo nghĩa hẹp) thật sự phản ánh và thể hiện đầy đủ các giá trị đạo đức tốt đẹp. Hoạt động công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức phần nhiều là hoạt động thực thi thể chế. Do đó, nếu thể chế thể hiện đầy đủ các giá trị đạo đức thì có tác dụng khơi dậy tình cảm đạo đức và thúc đẩy hành vi đạo đức của cán bộ, công chức.

Thứ ba, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về đạo đức công vụ. Thông qua pháp luật để xác lập các chuẩn mực của đạo đức công vụ và thúc đẩy việc thực hành đạo đức công vụ là một phương diện không thể thiếu trong xây dựng đạo đức công vụ. Đến nay, nhiều nước trên thế giới (điển hình là các nước OECD) đã ban hành Luật đạo đức công vụ. Ở Nhật Bản, đạo đức công vụ đã được thể chế hóa trong Luật Đạo đức công chức nhà nước và Quy định về đạo đức công chức nhà nước. Ở Anh, đạo đức công vụ được quy định trong “Luật phòng chống tham nhũng”, “Tiêu chuẩn hành vi của công chức hành chính cấp địa phương”. Tại Canada, đạo đức công vụ được quy định trong “Luật đạo đức chính phủ Canada”, “Luật về xung đột lợi ích”, “Tiêu chuẩn hành vi trong phục vụ công”... Ở nước ta hiện nay, các chuẩn mực và yêu cầu về đạo đức công vụ đã được thể hiện trong nhiều văn bản pháp luật, như Hiến pháp năm 2013; Luật Cán bộ, công chức; Luật Viên chức; Luật Phòng, chống tham nhũng sửa đổi năm 2018... Tuy nhiên, nước ta vẫn chưa xây dựng được một luật riêng quy định về đạo đức công vụ. Do đó, để đáp ứng yêu cầu về tăng cường xây dựng ĐĐCV trong bối cảnh mới hiện nay, cần nghiên cứu để xây dựng và ban hành Luật đạo đức công vụ hay Luật đạo đức của công chức. Việc ban hành luật này không những có tác dụng nêu lên các nguyên tắc, chuẩn mực về đạo đức công vụ, mà còn đưa ra những quy định cụ thể về mục đích đạo đức, hành vi đạo đức và công cụ đạo đức trong quá trình cán bộ, công chức tiếp xúc, làm việc với cơ quan, xã hội, doanh nghiệp và cá nhân công dân. Hơn nữa, việc ban hành luật này sẽ tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động giám sát việc thực thi đạo đức công vụ trong hệ thống chính trị.

Thứ tư, tăng cường giáo dục đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức trên cơ sở hình thành cơ quan chuyên trách về đào tạo, bồi dưỡng đạo đức công vụ và đổi mới phương pháp giáo dục đạo đức công vụ. Giáo dục đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức là quá trình làm cho cán bộ, công chức hiểu được các giá trị của đạo đức công vụ và tiêu chuẩn hành vi trong thực thi công vụ, qua đó khơi dậy động cơ đạo đức và thúc đẩy hành vi đạo đức của cán bộ, công chức. Cốt lõi của giáo dục đạo đức công vụ là làm cho cán bộ, công chức hiểu được vai trò và nghĩa vụ của mình, hiểu được giá trị và ý nghĩa của công việc mà bản thân mình đang thực hiện; nắm được các tiêu chuẩn hành vi trong thực thi công vụ. Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới (điển hình là các nước OECD) đều đã thành lập cơ quan chuyên trách thực hiện chức năng đào tạo, bồi dưỡng về đạo đức công vụ. Cơ quan này sẽ chịu trách nhiệm chính trong việc thiết kế chương trình đào tạo, bồi dưỡng về đạo đức công vụ; tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng định kỳ cho các đối tượng khác nhau; xây dựng cẩm nang hướng dẫn về đạo đức công vụ. Việc đào tạo, bồi dưỡng không nặng về lý thuyết, coi trọng hơn việc hướng dẫn thực hành đạo đức công vụ cho người học; giúp cho người học có khả năng đưa ra lựa chọn hợp lý trong bối cảnh có sự xung đột giữa lợi ích tư và lợi ích công.

Thứ năm, coi trọng phát huy tính tự chủ của cán bộ, công chức và thực hành dân chủ rộng rãi trong cơ quan, đơn vị. Tocqueville cho rằng: “việc hình thành đạo đức công tốt đẹp không phải chủ yếu là nghe giảng ở trên lớp, cũng không phải là những thuyết giáo trống rỗng, mà là thông qua sự tham gia chính trị thực tế để có được tri thức về chính trị, hình thành nên kỹ năng chính trị, từ đó tạo ra đạo đức công tốt đẹp”(14). Chính vì lẽ đó, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị cần tin tưởng đội ngũ cán bộ, công chức, coi trọng phát huy tính năng động, sáng tạo của họ trong hoạt động thực thi công vụ, phát huy năng lực tự quản, tự kiểm soát, tự chủ của đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình giải quyết những công việc có liên quan. Lãnh đạo cơ quan, đơn vị cần khích lệ đội ngũ cán bộ, công chức tham gia vào quá trình xây dựng và ban hành các quyết định quan trọng của tổ chức, tôn trọng và tiếp thu những ý kiến hợp lý của cán bộ, công chức. Tổ chức công cần cổ vũ ý thức đổi mới và bồi dưỡng năng lực đổi mới cho cán bộ, công chức; tạo không khí tin tưởng, hợp tác và đổi mới trong tổ chức. Thông qua việc chia sẻ thông tin, quyền ban hành quyết định và cùng gánh vác trách nhiệm để góp phần phát triển nhân cách của cán bộ, công chức. Việc công chức tham gia dân chủ vào quá trình ban hành các quyết định quan trọng của tổ chức cũng là cách để mỗi cán bộ, công chức khẳng định giá trị của bản thân, góp phần thực hiện sự thống nhất giữa giá trị cá thể và giá trị chung.

Thứ sáu, thực hiện công khai, minh bạch trong hoạt động công vụ; tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra và giám sát. Công khai, minh bạch trong hoạt động công vụ với xây dựng đạo đức công vụ có mối quan hệ biện chứng với nhau. Việc thực hiện công khai, minh bạch vừa là một chuẩn mực về đạo đức công vụ, vừa là phương thức để nhận diện, phát hiện, ngăn ngừa các biểu hiện suy thoái về đạo đức công vụ. Bởi vì, “chỉ có công khai thông tin mới tạo cơ sở cho các tổ chức xã hội, báo chí và người dân phát huy vai trò trong ngăn chặn xung đột lợi ích và tham nhũng, áp lực của công chúng còn làm cho nhà nước tập trung giải quyết vấn đề xung đột lợi ích và tham nhũng”(15). Đi liền với việc thực hiện công khai, minh bạch, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của các kênh thanh tra, kiểm tra, giám sát, nhất là phát huy mạnh mẽ vai trò giám sát của báo chí, các tổ chức xã hội và người dân trong hoạt động công vụ và trong thực hành đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức.

Thứ bảy, đề cao vai trò nêu gương của cán bộ lãnh đạo và người đứng đầu. Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của nêu gương trong xây dựng đạo đức cách mạng. Người cho rằng, đối với các dân tộc phương Đông thì “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”.(16) Trong thực tiễn, ở đâu đó việc thực hiện đạo đức công vụ còn chưa đạt yêu cầu đề ra là do một số cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu chưa thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương, còn có biểu hiện “nói nhiều, làm ít”; “nói một đằng, làm một nẻo”, “nói mà không làm”. Do đó, để tăng cường xây dựng đạo đức công vụ hiện nay, cán bộ lãnh đạo và người đứng đầu phải thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương theo  Quy định số 08-QĐi/TW về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Thứ tám, đổi mới mạnh mẽ tất cả các khâu của công tác cán bộ, nhất là công tác đánh giá, bố trí và sử dụng cán bộ. Theo GS Hoàng Chí Bảo, để xây dựng văn hóa trong chính trị, xây dựng ĐĐCV không chỉ dựa vào sự nỗ lực tự giác của mỗi cán bộ, công chức trong việc phấn đấu, rèn luyện về đức và tài, không chỉ đòi hỏi mỗi tổ chức cần phải đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền, mà còn phải chấn chỉnh tổ chức, gắn chặt với công tác tổ chức, khắc phục triệt để những yếu kém, sai lầm trong công tác cán bộ, nhất là đánh giá, tuyển chọn, bố trí, sử dụng cán bộ. Nói rộng ra là phép dùng người. Dùng người không đúng, không công tâm khách quan, không vì sự nghiệp chung, thì chẳng những có hại cho dân, cho nước, đất nước không phát triển được mà Đảng sẽ suy yếu, chế độ sẽ suy yếu, văn hóa (trong đó có đạo đức) vẫn sẽ ở ngoài chính trị. Không có văn hóa chính trị sẽ làm cho chính trị suy thoái, biến dạng, tha hóa bởi tập nhiễm phải những phản văn hóa(17). Vì thế, phải ra sức cải cách thể chế, đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ theo hướng đánh giá đúng cán bộ và sử dụng đúng cán bộ, thực hiện dân chủ hóa trong công tác cán bộ, khắc phục bằng được hiện tượng bổ nhiệm và sử dụng cán bộ theo cách nói của nhân dân là: “nhất hậu duệ, nhì quan hệ, ba đồ đệ, bốn tiền tệ, năm trí tuệ”; kịp thời thay thế những cán bộ, công chức yếu về năng lực, kém về phẩm chất. Đây là giải pháp then chốt về xây dựng đạo đức công vụ ở nước ta hiện nay.

Thứ chín, nghiên cứu để thành lập cơ quan chuyên trách về xây dựng đạo đức công vụ, trước hết là trong hệ thống hành chính. Một điểm chung trong xây dựng đạo đức công vụ ở nhiều nước trên thế giới là đều chú trọng thành lập một cơ quan chuyên trách về xây dựng đạo đức công vụ. Chẳng hạn, ở Hoa Kỳ, cơ quan chuyên trách về xây dựng đạo đức công chức là Văn phòng đạo đức công chức. Người đứng đầu cơ quan này có hàm tương đương Bộ trưởng. Bên cạnh cấp liên bang, ở các bang ở Hoa Kỳ cũng hình thành cơ quan tương tự. Ở nước ta hiện nay, trên thực tế có nhiều cơ quan thực hiện việc xây dựng đạo đức công vụ, nhưng chưa xác định được cơ quan nào chịu trách nhiệm chính. Vì vậy, từ kinh nghiệm của nhiều nước, cần nghiên cứu để thành lập một cơ quan chuyên trách về xây dựng đạo đức công vụ, trước hết là cơ quan chuyên trách về xây dựng đạo đức công chức trong hệ thống hành chính. Trong điều kiện chưa thể thành lập cơ quan này, cần thành lập Vụ Đạo đức công chức trực thuộc Bộ Nội vụ và Phòng Đạo đức công chức thuộc Sở Nội vụ.

________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 5-2019

(1), (8) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, 2016, Hà Nội.

(2), (11) ĐCSVN: Quy định số 08-QĐi/TW về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, 2018.

(3), (5), (6), (7), (9), (10) ĐCSVN: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, 2016.

(4) Nguyễn Trọng Bình: Nguyên tắc và giải pháp xây dựng đạo đức công vụ, Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 2, 2018.

(12) Chủ nghĩa cá nhân là cốt lõi và “linh hồn” của ý thức hệ giai cấp tư sản. Chủ nghĩa cá nhân bao gồm chủ nghĩa cá nhân về chính trị; chủ nghĩa cá nhân về kinh tế và chủ nghĩa cá nhân về đạo đức. Chủ nghĩa cá nhân về đạo đức chủ trương “lấy lợi ích cá nhân làm trung tâm”; đặt lợi ích cá nhân lên trên hết, trước hết.

(13) Max Weber: Học thuật và chính trị, Nxb Đại học Sư phạm Quảng Tây, Trung Quốc, 2010, tr.114.

(14) Tocqueville: Bàn về dân chủ của Hoa Kỳ, Nhà in sách Thương Vụ, Bắc Kinh, Trung Quốc, 2008, tr.850.

(15) Kathy Lalazarian: Comparative Approaches to Conflict of Interests:The United States, Canada and the United Kingdom, p.7.

(16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.263.

(17) Hoàng Chí Bảo: “Xây dựng văn hóa trong chính trị và văn hóa trong kinh tế”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 6-2017.

TS Nguyễn Trọng Bình

Học viện Chính trị Khu vực IV