Trang chủ    Thực tiễn    Vĩnh Phúc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả
Thứ ba, 14 Tháng 4 2020 09:47
413 Lượt xem

Vĩnh Phúc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả

(LLCT) - Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” và 4 năm thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 17-4-2015 của Bộ Chính trị “về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã chủ động triển khai một cách bài bản và quyết liệt việc sắp xếp, cơ cấu lại tổ chức bộ máy của một số cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp có sự tương đồng về chức năng, nhiệm vụ, không phù hợp về quy mô, hiệu quả hoạt động thấp và bước đầu đạt được những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, Vĩnh Phúc cũng đang gặp phải những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện, rất cần sự quan tâm tháo gỡ của Trung ương.

(Nguồn:baovinhphuc.com.vn)

Từ khóa: Tỉnh ủy Vĩnh Phúc, sắp xếp tổ chức bộ máy, hệ thống chính trị.

1. Tập trung tổ chức triển khai thực hiện các nghị quyết

Nhận thức sâu sắc ý nghĩa của việc tinh giản tổ chức bộ máy, biên chế, nên ngay khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 17-4-2015 về tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành và triển khai Kế hoạch số 124-KH/TU, ngày 22-9-2015 về sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Vĩnh Phúc; xây dựng và triển khai Đề án số 01-ĐA/TU, ngày 30-11-2016 về sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016-2021.

HĐND Tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 22/2017/NQ-HĐND, ngày 17-7-2017 quy định số lượng, chức danh, mức phụ cấp và một số chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách; mức khoán kinh phí hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố; Nghị quyết số 30/2017/NQ-HĐND, ngày 17-7-2017 quy định một số chính sách hỗ trợ đối với cán bộ, công chức, viên chức được biệt phái, đào tạo, bồi dưỡng và thu hút giai đoạn 2017-2021; Nghị quyết số 31/2017/NQ-HĐND, ngày 24-10-2017 về việc hỗ trợ công chức, viên chức, lao động hợp đồng thôi việc theo nguyện vọng; Nghị quyết số 37/2018/NĐ-HĐND, ngày 18-12-2018 về sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Nghị quyết số 31/2017/NQ-HĐND.

Ngay sau khi Trung ương ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” và Nghị quyết số 19-NQ/TW “Về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập”, Tỉnh ủy và Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã kịp thời cụ thể hóa bằng việc ban hành Chương trình hành động số 49-CTr/TU, ngày 30-1-2018 của Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW; Chương trình số 54-CTr/TU, ngày 12-3-2018 của Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW; gắn việc triển khai các Nghị quyết, Chương trình với việc triển khai Đề án số 01 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy.

Trên cơ sở đó, UBND Tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 2177/KH-UBND ngày 2-4-2018 về thực hiện Chương trình hành động số 49-CTr/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh; Kế hoạch số 8683/KH-UBND ngày 2-11-2017 triển khai thực hiện Nghị quyết số 31/2017/NQ-HĐND. Trước đó, UBND Tỉnh đã ban hành Quyết định số 2713/QĐ-UBND ngày 2-10-2013 về Đề án kiện toàn tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nâng cao hiệu quả hoạt động các cơ quan doanh nghiệp nhà nước 2013-2020; Kế hoạch số 6776/KH-UBND, ngày 28-10-2015 về sắp xếp lại tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2015-2021...

Nhờ chủ động triển khai một cách bài bản, khoa học và quyết liệt nên đến nay, các cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh đã có sự đồng thuận rất cao trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết của Trung ương.

2. Những biện pháp và kết quả ban đầu

Với cách làm thận trọng, chắc chắn, lấy tuyên truyền, vận động, thuyết phục là chủ yếu, sự đoàn kết thống nhất, đồng thuận trong hệ thống chính trị và nhân dân là mục tiêu, yêu cầu và sự ổn định, hiệu quả hoạt động của các cơ quan sau sắp xếp là mục đích cần đạt được, gắn với tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện, đến nay, tỉnh Vĩnh Phúc đã đạt được những kết quả đáng khích lệ:

Thứ nhất, rà soát, sắp xếp tổ chức bộ máy(1)

Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Quy định số 04-QĐi/TU ngày 22-10-2018 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các cơ quan tham mưu giúp việc Tỉnh ủy; Quyết định 1467-QĐ/TU, ngày 15-5-2019 về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Trường Chính trị tỉnh Vĩnh Phúc.

Các cơ quan hành chính cấp tỉnh, cấp huyện tiếp tục được rà soát, quy định lại chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức theo Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 4-4-2014 của Chính phủ, Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 5-5-2014 của Chính phủ và tình hình thực tiễn sau sắp xếp tổ chức bộ máy. UBND Tỉnh đã ban hành quy định về sửa đổi cơ cấu tổ chức, bổ sung chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh của 10 sở, ngành gồm: Văn phòng UBND tỉnh, Nội vụ, Ban Dân tộc, Tư pháp, Giao thông vận tải, Giáo dục và Đào tạo, Y tế, Thông tin và Truyền thông, Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường.

Kết quả rà soát, sắp xếp các cơ quan trực thuộc cấp ủy, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội cấp tỉnh, cấp huyện theo quy định khung của Trung ương. Kết quả rà soát, sắp xếp giảm đầu mối bên trong các cơ quan tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp của cấp ủy, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội cấp tỉnh. Toàn Tỉnh đã giảm được 4 đầu mối trực thuộc tỉnh (1 đầu mối trực thuộc Tỉnh ủy và 2 đầu mối trực thuộc UBND tỉnh); 210 các đầu mối cấp phòng (trong đó 102 phòng và tương đương cấp tỉnh, cấp huyện; 17 Phòng thuộc Chi cục và tương đương và 91 đơn vị sự nghiệp). Thực hiện giảm số lượng cấp phó của các cơ quan, đơn vị, tổ chức theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW. Sau sáp nhập đã giảm 132 cấp phó.

Mô hình bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch Hội đồng nhân dân các cấp. Nhiệm kỳ 2016-2021, Tỉnh đã thực hiện bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch HĐND ở 70 đơn vị (cấp huyện: 3 đơn vị; cấp xã: 67 đơn vị); bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch UBND cùng cấp tại 17 đơn vị hành chính cấp xã.

Cả 9/9 huyện, thành phố của Tỉnh hoàn thành việc sáp nhập Trung tâm bồi dưỡng chính trị vào ban tuyên giáo cấp ủy; phòng dân tộc, phòng y tế huyện vào văn phòng HĐND và UBND huyện; đài truyền thanh huyện vào trung tâm văn hóa thể thao huyện; tổ chức lại các trường phổ thông khắc phục tình trạng chồng chéo.

Thực hiện thí điểm việc kiêm nhiệm chức danh người đứng đầu hoặc hợp nhất một số cơ quan của cấp ủy và cơ quan chuyên môn của chính quyền có chức năng, nhiệm vụ tương đồng ở cấp tỉnh, cấp huyện những nơi có đủ điều kiện. Tỉnh đã triển khai thực hiện mô hình Trưởng Ban Tổ chức huyện ủy đồng thời là Trưởng phòng Nội vụ tại các huyện Tam Dương, Yên Lạc; chủ nhiệm UBKT huyện ủy đồng thời là chánh thanh tra huyện. 7/9 huyện, thành phố thực hiện Trưởng Ban Dân vận đồng thời là chủ tịch Ủy ban MTTQ. Quá trình thực hiện bảo đảm hoạt động tốt, không gây xáo trộn.

Thực hiện mô hình văn phòng cấp ủy phục vụ chung các cơ quan tham mưu giúp việc theo Quy định số 04-QĐi/TW, ngày 25-7-2018 của Ban Bí thư; Tỉnh ủy đã chỉ đạo sắp xếp lại tổ chức bộ máy, đổi mới cơ chế hoạt động của Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ Tỉnh.

Đối với UBND cấp huyện theo Nghị quyết số 18 và Đề án số 01 của Tỉnh ủy: UBND cấp huyện đã giải thể 10 phòng (9 Phòng y tế cấp huyện chuyển chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về y tế về Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện quản lý và giải thể Phòng Dân tộc thuộc UBND thành phố Phúc Yên chuyển chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về dân tộc về Văn phòng HĐND và UBND thành phố Phúc Yên quản lý).

Sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã chưa đủ tiêu chuẩn theo quy định theo tinh thần Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 24-12-2018 của Bộ Chính trị. Các huyện, thành phố tích cực, chủ động trong việc triển khai rà soát, đánh giá thực trạng đơn vị hành chính cấp huyện, xã và thực hiện việc sáp nhập thôn, tổ dân phố theo đúng tinh thần chỉ đạo của Trung ương và của Tỉnh. Việc lựa chọn đơn vị cấp xã, thôn, tổ dân phố thực hiện thí điểm phù hợp đã tạo điều kiện cho việc hoàn thành các quy trình, thủ tục, hồ sơ đúng tiến độ theo yêu cầu.

Toàn Tỉnh có 137 đơn vị hành chính cấp xã. Qua rà soát, tỉnh có 4 xã phải thực hiện sáp nhập do cả hai tiêu chí diện tích tự nhiên và dân số đều dưới 50% theo quy định tại Nghị quyết 1211/2016/UBTVQH13, trong đó Vĩnh Tường có 3 xã là: Tân Cương, Phú Thịnh, Bồ Sao; huyện Tam Đảo có 1 thị trấn Tam Đảo; 9/9 huyện, thành phố và 133 xã còn lại đủ tiêu chuẩn không phải sáp nhập. Tuy nhiên, do Thị trấn Tam Đảo có yếu tố đặc thù về điều kiện tự nhiên, nằm trên núi, biệt lập với các đơn vị hành chính khác của huyện Tam Đảo, nên Tỉnh ủy đã báo cáo Trung ương nhất trí không sáp nhập nữa. Hiện Tỉnh đang chỉ đạo hoàn thiện đề án sáp nhập, trình cấp có thẩm quyền sáp nhập 3 xã tại huyện Vĩnh Tường.

Hợp nhất các thôn, tổ dân phố chưa đủ tiêu chuẩn theo quy định. Toàn Tỉnh có 1.379 thôn, tổ dân phố (1.069 thôn, 310 tổ dân phố) trong đó 244 thôn, tổ dân phố (185 thôn, 59 tổ dân phố) có số hộ gia đình dưới 50% so với điều kiện về quy mô số hộ gia đình thuộc diện phải sáp nhập. Đến nay, HĐND Tỉnh đã ban hành Nghị quyết sáp nhập 274 thôn, tổ dân phố để thành lập 131 thôn, tổ dân phố mới. Các địa phương đang tiến hành sáp nhập theo nghị quyết của HĐND Tỉnh.

Thực hiện việc khoán kinh phí chi phụ cấp theo định mức cho người hoạt động không chuyên trách cấp xã và thôn, tổ dân phố. Thực hiện Nghị quyết của HĐND Tỉnh, các huyện, thành phố đã chỉ đạo cấp xã tích cực rà soát, sắp xếp lại số lượng người hoạt động không chuyên trách, qua đó đã giảm từ 18.700 người (3.584 người ở xã, 15.116 người ở thôn, tổ dân phố) xuống còn 7.996 người (1.089 người ở xã, 6.907 người ở thôn, tổ dân phố). Về khoán kinh phí hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội ở cấp xã và ở thôn, tổ dân phố hiện nay trên

địa bàn Tỉnh thực hiện với mức chi là 3.129.029.000đ/tháng.

Thực hiện mô hình tự quản ở cộng đồng dân cư thôn, tổ dân phố: Hiện nay 100% các thôn, tổ dân phố trên địa bàn Tỉnh đều có các Tổ liên gia tự quản hoạt động với tổng số 10.682 tổ liên gia tự quản, tăng thêm 258 Tổ liên gia tự quản so với trước đây.

Thứ hai, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho các địa phương, các sở, ban, ngành

- Về quản lý cán bộ: Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Quy định số 01-QĐi/TU, ngày 6-6-2018 về phân cấp quản lý cán bộ tỉnh Vĩnh Phúc, trong đó ngoài một số nội dung như trước đây, đã bổ sung một số nội dung mới như phân cấp cho các huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc xem xét đánh giá xếp loại các đồng chí ủy viên ban thường vụ, phó chủ tịch HĐND, phó chủ tịch UBND cấp huyện; phê duyệt quy hoạch ban chấp hành đảng bộ cấp huyện; chủ động thực hiện quy trình bổ sung ban chấp hành đảng bộ còn thiếu trong khung số lượng quy định; đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội do Tỉnh trực tiếp quản lý và quyết định đối với các đồng chí ủy viên thường trực, ủy viên ban chấp hành, ban thường vụ; các cơ quan, đơn vị xem xét, nâng lương trước thời hạn cho cán bộ, công chức, viên chức trực tiếp quản lý...

- Về phân cấp quản lý công chức, viên chức:

+ Quản lý công chức: Phân cấp cho Ban Tổ chức Tỉnh ủy và Sở Nội vụ điều động, luân chuyển từ cơ quan đảng về cơ quan quản lý nhà nước, từ đơn vị sự nghiệp và cơ quan nhà nước, công chức từ tỉnh ngoài về cơ quan trong tỉnh công tác.

+ Quản lý viên chức: HĐND Tỉnh quyết định về biên chế viên chức và thủ trưởng các sở, ban, ngành, Chủ tịch UBND cấp huyện có thẩm quyền tuyển dụng, sử dụng, bố trí viên chức.

Thứ ba, thực hiện tinh giản biên chế

Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo Đảng đoàn HĐND Tỉnh lãnh đạo ban hành 4 nghị quyết: Nghị quyết số 22/2017 quy định số lượng, chức danh, mức phụ cấp và một số chế độ, chính sách đối với những người hoạt động không chuyên trách; Nghị quyết số 30/2017, về chế độ hỗ trợ, luân chuyển, biệt phái và đào tạo, bồi dưỡng, thu hút cán bộ, công chức, viên chức Tỉnh giai đoạn 2017 - 2020; Nghị quyết số 31/2017 và Nghị quyết số 37/2018 về hỗ trợ cán bộ, công chức, viên chức và lao động hợp đồng thôi việc theo nguyện vọng. Việc thực hiện các chính sách của Tỉnh hỗ trợ tinh giản biên chế giúp cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động nghỉ việc theo nguyện vọng, sẵn sàng, yên tâm về tư tưởng và cuộc sống được đảm bảo ổn định sau nghỉ việc.

Về quản lý và sử dụng biên chế, tỉnh Vĩnh Phúc đã thực hiện nghiêm túc Nghị Quyết số 39-NQ/TW ngày 17-4-2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 6-1-2017 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh thực hiện chủ trương tinh giản biên chế; các văn bản hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Nội vụ, Nghị quyết của HĐND tỉnh Vĩnh Phúc về biên chế công chức, số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập của tỉnh. Do đó, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị chủ động điều động, bố trí công chức, viên chức đảm bảo cân đối giữa các phòng, ban, đơn vị và theo đúng phân cấp của Tỉnh ủy, UBND Tỉnh về quản lý biên chế, cán bộ, công chức, viên chức.

Kết quả thực hiện tinh giản biên chế theo Nghị định 108/2014/NĐ-CP; Nghị quyết 31/2017 và 37/2018 của HĐND tỉnh là 2.809 biên chế(2).

Sắp xếp cán bộ không chuyên trách cấp xã, thôn, tổ dân phố theo Nghị quyết số 22/2017/NQ-HĐND, toàn Tỉnh hiện có 7.996 người hoạt động không chuyên trách, giảm so với trước khi thực hiện Nghị quyết là 10.704 người(3).

Thứ tư, đổi mới cơ chế tài chính, nhất là các đơn vị sự nghiệp

Toàn tỉnh đã có 6 đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ toàn bộ chi phí chi đầu tư và hoạt động; 20 đơn vị sự nghiệp tự chủ hoàn toàn chi thường xuyên; 85 đơn vị sự nghiệp tự chủ một phần chi thường xuyên. Đã ban hành quy định định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên.

Đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các tổ chức Hội, thực hiện xóa bỏ cơ chế đặc thù của 16/19 tổ chức hội, các hội hoạt động theo đúng nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự bảo đảm kinh phí hoạt động. Đặc biệt, Tỉnh đã mạnh dạn thực hiện thí điểm khoán kinh phí sử dụng xe công cho lãnh đạo cấp phó các ban xây dựng đảng và Văn phòng Tỉnh ủy khi thực hiện thành lập Văn phòng cấp ủy phục vụ chung của Tỉnh ủy với mức khoán 7 triệu đồng/người/tháng, tiết kiệm cho ngân sách của Tỉnh khoảng 2 tỷ đồng/năm. Kinh phí tiết kiệm được do thực hiện Đề án lên tới 285, 14 tỷ đồng/năm(4).

Một số vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện

Bên cạnh những kết quả đạt được, tỉnh Vĩnh Phúc đang gặp phải những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện, rất cần sự quan tâm tháo gỡ của Trung ương. Cụ thể:

Một là, Chính phủ vẫn chưa ban hành quy định về khung bộ máy cơ quan giúp việc chung cấp tỉnh, cấp huyện.

Hai là, Vĩnh Phúc đang triển khai nhiều mô hình thí điểm mới, trong đó có đồng chí Trưởng Ban Tuyên giáo Huyện ủy Vĩnh Tường đồng thời là Trưởng Ban Dân vận Huyện ủy... Tuy nhiên, các mô hình này hiện Trung ương chưa có hướng dẫn cụ thể nên quá trình vận hành cũng gặp phải một số khó khăn, lúng túng.

Ba là, Ban Tổ chức Trung ương chưa giao rõ biên chế công chức, viên chức và hợp đồng 68 và chưa giao thường xuyên hằng năm cho khối Đảng, đoàn thể các tỉnh, thành nên khó khăn trong việc phân bổ biên chế, theo dõi, quản lý và thực hiện tinh giản biên chế.

Bốn là, hiện chưa có cơ chế giao chỉ tiêu tinh giản biên chế một cách khoa học nên nếu giảm theo mức bình quân thì một số cơ quan sau tinh giản đã ảnh hưởng đến chất lượng tham mưu, như các sở: Tài nguyên và Môi trường, Xây dựng, Kế hoạch và Đầu tư; UBND cấp huyện...

Năm là, việc xây dựng và phê duyệt số lượng vị trí việc làm trong các cơ quan, đơn vị nhưng không đi kèm với số lượng biên chế, dẫn đến khó khăn cho các địa phương khi bố trí cán bộ, công chức ở các cơ quan, đơn vị.

3. Những nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị Vĩnh Phúc trong thời gian tới

Để tiếp tục đẩy mạnh triển khai việc tinh gọn và nâng cao hiệu lực, hiệu quả bộ máy của hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở, tỉnh Vĩnh Phúc đang tập trung thực hiện những khâu trọng tâm như:

Một là, sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế là việc khó, nhạy cảm, liên quan đến tất cả các cấp, các ngành, đến từng cán bộ, công chức, viên chức và từng người dân, trong quá trình thực hiện sẽ không tránh khỏi những khó khăn, vướng mắc. Vì vậy, công tác tuyên truyền, quán triệt các chủ trương, nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh phải được thực hiện một cách bài bản, thực chất để mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ mục đích, ý nghĩa và những mặt tích cực của chủ trương, chính sách, từ đó đồng lòng thực hiện. Có như vậy, việc triển khai mới thuận lợi.

Hai là, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và lãnh đạo các cơ quan, đơn vị với quyết tâm chính trị cao, lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt để tạo chuyển biến tích cực, hiệu quả trong thực hiện mục tiêu tinh gọn tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế. Tiếp tục phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của từng cấp, ngành, địa phương trong Tỉnh; tuân thủ nguyên tắc, không chủ quan, hoặc trông chờ, ỷ lại.

Ba là, kiên trì bám sát kế hoạch đã đề ra, triển khai thực hiện đồng bộ các nhóm nhiệm vụ theo lộ trình, có bước đi phù hợp, làm đến đâu chắc đến đó, dứt điểm từng ngành, từng cơ quan; quyết liệt, hiệu quả những việc đã có chủ trương, đã rõ, đảm bảo có đủ điều kiện, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn nhưng phải nâng cao hiệu lực, hiệu quả, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức một cách phù hợp, không tinh giản bộ máy một cách cứng nhắc, rập khuôn, máy móc. Chủ động, kịp thời điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ một số cơ quan, đơn vị cho phù hợp sau khi sáp nhập, để đảm bảo không ảnh hưởng đến thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị.

Bốn là, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, có chất lượng các khâu trong công tác cán bộ. Làm tốt công tác rà soát, kiện toàn đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp trong hệ thống chính trị bảo đảm công khai, minh bạch, dân chủ, khách quan, công tâm; sắp xếp tổ chức bộ máy; quy định lại chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức các cơ quan, đơn vị sau sắp xếp; sắp xếp các phòng, ban chuyên môn của đơn vị để hình thành các phòng đa chức năng, đa lĩnh vực. Đảm bảo mỗi sở, ban, ngành có từ 5 đầu mối trở lên và UBND cấp huyện về cơ bản giảm thêm ít nhất 1 đầu mối. Tổ chức lại cơ cấu các sở, ban, ngành trực thuộc UBND Tỉnh theo quy định của Trung ương.

Năm là, hoàn thành việc xác định vị trí việc làm để bố trí số biên chế hợp lý cho từng địa phương, cơ quan, đơn vị, đồng thời quản lý chặt chẽ việc sử dụng biên chế của các cơ quan, đơn vị. Tiếp tục thực hiện tinh giản biên chế theo kế hoạch, phấn đấu đến năm 2021 đạt tối thiểu 10% theo quy định; tiếp tục thực hiện cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Chú trọng tạo nguồn cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số; dành tỷ lệ chỉ tiêu công chức, viên chức phù hợp để thu hút, tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp giỏi, xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ về Tỉnh làm việc, trong đó tập trung vào các lĩnh vực mũi nhọn như: y tế, giáo dục, xây dựng, giao thông, kinh tế, tài nguyên môi trường... Thực hiện tốt chính sách đối với những cán bộ, công chức, viên chức trong quá trình sắp xếp, cơ cấu lại tổ chức bộ máy.

Tiếp tục thực hiện giảm số lượng người hoạt động không chuyên trách theo chỉ đạo của Trung ương, của Tỉnh, từ nay đến năm 2021, Tỉnh sẽ tiếp tục giảm 2.752 người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố để đảm bảo mỗi thôn, tổ dân phố còn 03 người hoạt động không chuyên trách.

Đồng thời với việc triển khai tổ chức thực hiện, phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn, giám sát; lắng nghe ý kiến phản ánh từ cơ sở để từ đó kịp thời xử lý những vướng mắc, bất cập xảy ra, cũng như kịp thời biểu dương và nhân rộng những cách làm hay, những mô hình hiệu quả.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận số 1-2020

(1), (2), (3), (4) Tỉnh ủy Vĩnh Phúc: Báo cáo Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị của tỉnh việc thực hiện Nghị quyết số 18, 19 của Ban Chấp hành Trung ương, tháng 11-2019.

TS Nguyễn Ngọc Ánh

Viện Xây dựng Đảng,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền