Trang chủ    Thực tiễn    Phát huy vai trò, trách nhiệm của đội ngũ trí thức trong sự phát triển của tỉnh Gia Lai
Thứ năm, 24 Tháng 9 2020 16:15
57 Lượt xem

Phát huy vai trò, trách nhiệm của đội ngũ trí thức trong sự phát triển của tỉnh Gia Lai

(LLCT) - Trong những năm qua, đội ngũ trí thức tỉnh Gia Lai đã có nhiều đóng góp quan trọng trong tham mưu, hoạch định chính sách, ứng dụng kết quả nghiên cứu vào hoạt động sản xuất và đời sống, từ đó đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Trong thời gian tới, Gia Lai cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách, môi trường làm việc; quan tâm, thu hút và sử dụng trí thức hiệu quả... nhằm tiếp tục xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương trong thời kỳ mới.

Từ khóa: trí thức; vai trò của đội ngũ trí thức, tỉnh Gia Lai. 

1. Kết quả thực hiện chính sách thu hút, đãi ngộ và sử dụng đội ngũ trí thức ở Gia Lai

- Đội ngũ trí thức tăng nhanh về số lượng và chất lượng

Năm 2008, toàn tỉnh có 20.885 người có trình độ từ cao đẳng trở lên, chiếm 1,74% dân số (trong số đó có 5 tiến sỹ; 197 thạc sỹ; 14.570 người có trình độ đại học; 5.978 cao đẳng; 4 bác sỹ chuyên khoa cấp II; 151 thạc sỹ và bác sỹ chuyên khoa cấp I). Đến cuối năm 2010, tỉnh có 38.902 người có trình độ từ cao đẳng trở lên, chiếm 5,14% dân số toàn tỉnh (trong đó có 1 PGS, TS; 8 tiến sỹ, 6 bác sỹ chuyên khoa cấp II, 667 người có trình độ thạc sỹ và bác sỹ chuyên khoa cấp I, 19.754 người có trình độ đại học, 18.467 người có trình độ cao đẳng)(1). Tính đến tháng 6-2018, toàn tỉnh có 1 PGS, TS; 23 tiến sỹ; 28 bác sỹ CKII; 328 bác sỹ CKI và 1.196 thạc sỹ,... Đây là đội ngũ nhân lực trình độ cao, vừa tham gia nghiên cứu khoa học, vừa đóng góp tích cực vào công tác tham mưu, tư vấn, phản biện và giám định xã hội các chương trình, chính sách, đề tài, dự án, quy hoạch tổng thể ngành, lĩnh vực,... của tỉnh. Nhiều đề tài, dự án, công trình nghiên cứu của trí thức đã góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Bên cạnh đó, nhờ được chú trọng đào tạo và bồi dưỡng nên đội ngũ trí thức trẻ, trí thức nữ và trí thức người dân tộc thiểu số (DTTS) ngày càng đông đảo, đóng góp tích cực cho sự ổn định, phát triển tỉnh nói chung và vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng.

- Chú trọng thực hiện chính sách thu hút, đãi ngộ trí thức

Từ năm 2009 đến nay, tỉnh đã ban hành nhiều đề án, chính sách nhằm xây dựng đội ngũ trí thức có tay nghề, trình độ cao, các chuyên gia giỏi ở các lĩnh vực, đồng thời, thực hiện chính sách đãi ngộ tốt đối với trí thức (đặc biệt là cán bộ, công chức có trình độ cao về tỉnh công tác).

Tỉnh đã thu hút  được hàng nghìn trí thức về công tác tại các cơ quan, đơn vị, địa phương: huyện Đăk Pơ 800 người, huyện Krông Pa 598 người, huyện Kông Chro 522 người; huyện Chư Sê 434 người, thành phố Pleiku 75 người (trong đó có 10 thạc sỹ)(2).

Thực hiện Đề án số 03-ĐA/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy “về việc tuyển chọn sinh viên tốt nghiệp đại học bố trí về cơ sở công tác”, qua 3 đợt tuyển chọn, đã lựa chọn được 141 sinh viên tốt nghiệp đại học về công tác ở các xã vùng II, vùng III của 15 huyện, thị xã trên địa bàn tỉnh (chủ yếu thuộc các ngành nông nghiệp, hành chính, kinh tế - tài chính, địa chính...). Đến nay, có 106 người được xét tuyển vào công chức, viên chức, đạt 75,17%; 93 người đã được cấp ủy cho đi học lớp bồi dưỡng nhận thức Đảng và 55 người được kết nạp vào Đảng (trong đó: 1 huyện ủy viên, bí thư huyện đoàn; 1 ủy viên thường vụ trực đảng xã; 8 phó chủ tịch xã; 13 đại biểu hội đồng nhân dân xã)(3).

Đi đôi với việc thực hiện tốt các quy định, quy trình về phân cấp quản lý, sử dụng đội ngũ trí thức, tỉnh còn ưu tiên tuyển dụng trí thức có trình độ chuyên môn cao, cam kết phục vụ lâu dài sau khi về địa phương. Quyết định số 39/2010/QĐ-UBND của UBND về “quy định chế độ hỗ trợ đào tạo sau đại học và chính sách thu hút người có trình độ cao về công tác tại tỉnh Gia Lai” có nội dung như sau: ngoài chế độ hỗ trợ kinh phí ban đầu, người có trình độ cao được tuyển dụng ngay không chờ kỳ thi tuyển, được hưởng 100% mức lương theo ngạch, bậc quy định, người có văn bằng tốt nghiệp sau đại học còn được tạo điều kiện cho vợ (hoặc chồng) có việc làm ổn định tại tỉnh, được giao đất để xây dựng nhà ở.

- Chú trọng việc quản lý, sử dụng trí thức

Các cơ quan, đơn vị đã chủ động xây dựng kế hoạch cụ thể trong quy hoạch, sử dụng các chức danh lãnh đạo, quản lý là những người có trình độ chuyên môn cao, có ý thức rèn luyện, phấn đấu vươn lên, có nhiều đóng góp tiêu biểu cho địa phương. Thí dụ, trong quy hoạch đội ngũ cán bộ chủ chốt của địa phương nhiệm kỳ 2015-2020, có 84 đồng chí được quy hoạch Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, trong đó: 67 đồng chí có trình độ đại học (79,76%), 14 đồng chí có trình độ thạc sỹ (16,67%), 2 đồng chí có trình độ tiến sỹ (2,3%). 14/20 đồng chí quy hoạch Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy có trình độ đại học (70%), 6 đồng chí có trình độ thạc sỹ (30%). Về lý luận chính trị, 100% có trình độ cao cấp, cử nhân chính trị(4). Công tác sử dụng trí thức được thực hiện chặt chẽ, đồng bộ, bảo đảm mối tương quan giữa trước mắt và lâu dài, chú trọng trí thức nữ, trí thức trẻ, trí thức là người dân tộc thiểu số.

- Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đối với trí thức

Bên cạnh các chính sách thu hút, đãi ngộ, việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trí thức cả về trình độ chuyên môn và lý luận chính trị cũng được tỉnh đặc biệt chú trọng. Từ năm 2009 đến nay, tỉnh đã chủ động liên kết với Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (khu vực 3) mở 9 lớp Cao cấp lý luận chính trị hệ tại chức với 959 học viên và 671 cán bộ, công chức học tập trung tại Học viện chính trị khu vực III (Đà Nẵng). Cử 36 cán bộ đi bồi dưỡng và đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ ở nước ngoài theo Đề án 165 của Ban Tổ chức Trung ương, 17 cán bộ đi học các lớp bồi dưỡng An ninh - Quốc phòng đối tượng 1 theo quy định(5).

Ngoài ra, Trường Chính trị tỉnh và các Trung tâm Bồi dưỡng chính trị và Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp & Giáo dục thường xuyên của tỉnh còn mở nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, sơ cấp và trung cấp lý luận chính trị để nâng cao trình độ cho cán bộ, công chức đáp nhằm ứng yêu cầu trong tình hình mới. Giai đoạn 2011-2016, Trường Chính trị tỉnh Gia Lai đã đào tạo, bồi dưỡng 240 lớp với tổng số trên 15.902 học viên(6) (đối tượng chính là cán bộ, công chức, viên chức) của hệ thống chính trị địa phương.

Thông qua hoạt động liên kết, các Học viện, các trường Đại học có uy tín đã cử cán bộ có trình độ chuyên môn cao hướng dẫn, bồi dưỡng đội ngũ trí thức và cùng tham gia một số nhiệm vụ nghiên cứu khoa học khác của tỉnh.

- Quan tâm tạo nguồn, phát triển trí thức thức người dân tộc thiểu số

Hiện nay, toàn tỉnh có trên 4.449 cán bộ, công chức, viên chức người DTTS đang công tác trong các cơ quan Đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể, đơn vị sự nghiệp cấp huyện, cấp tỉnh (chiếm khoảng trên 14% tổng số cán bộ, công chức, viên chức toàn tỉnh). Trong đó số nữ cán bộ người DTTS là 1.998/4.449, chiếm 44,90% tổng số CBCCVC là người DTTS(7).

Việc tạo nguồn, tuyển dụng cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số, đặc biệt là người Bahnar, Jrai luôn được tỉnh chú trọng. Tỉnh đã thực hiện nhiều chính sách ưu tiên phát triển đội ngũ trí thức người DTTS, thí dụ ban hành Kế hoạch số 4506/KH-UBND, ngày 28-9-2016 về đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số tỉnh Gia Lai giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2030. Trên cơ sở đó, các ngành, các cấp xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số sau khi tuyển dụng; tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để họ rèn luyện, trưởng thành. Qua đó, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số đã có sự phát triển đáng kể về số lượng, chất lượng; tham gia ngày càng đông đảo trong hệ thống chính trị địa phương.

2. Một số hạn chế, bất cập trong thực hiện chính sách thu hút, đãi ngộ và sử dụng đội ngũ trí thức ở Gia Lai

Thứ nhất, nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền địa phương và người đứng đầu ở các cơ quan, đơn vị về việc tuyển dụng, quản lý, sử dụng người tài, người có chuyên môn cao chưa thật sự đầy đủ, còn thiếu nhất quán. Do đó, mặc dù đội ngũ trí thức thu hút về tỉnh liên tục tăng từ năm 2009 đến nay, song việc quy hoạch và sử dụng, cũng như tạo điều kiện để trí thức có đóng góp cụ thể, thiết thực cho địa phương còn chưa thực sự tương xứng.

Thứ hai, chính sách thu hút, đãi ngộ chưa mang lại hiệu quả cao.

Thời gian qua, chính sách thu hút người có trình độ cao vẫn chưa tương xứng, chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Thí dụ, theo Quyết định số 39/2010/QĐ-UBND của UBND tỉnh Gia Lai, người có trình độ cao về công tác tại tỉnh Gia Lai được thực hiện hỗ trợ ban đầu, một lần: tiến sỹ: 55 triệu đồng; thạc sỹ: 25 triệu đồng, bác sỹ chuyên khoa II: 35 triệu đồng, bác sỹ chuyên khoa I: 20 triệu đồng và người tốt nghiệp đại học (chính quy) loại giỏi, xuất sắc là 10 triệu đồng. Song, mức hỗ trợ trên chỉ mang tính khích lệ, động viên là chính, chưa tạo ra động lực thực sự để các trí thức, chuyên gia giỏi sẵn sàng tìm đến và cống hiến cho địa phương.

Thứ ba, đội ngũ trí thức của tỉnh tăng nhanh, nhiều nhưng chưa mạnh (số trí thức tốt nghiệp các trường thuộc top 1000 trường đại học tốt nhất thế giới chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ). Số lượng trí thức có bài viết được công bố trên các tạp chí uy tín của thế giới còn ít, chưa có nhiều sản phẩm nghiên cứu với hàm lượng chất xám cao, sản phẩm khoa học - công nghệ hiện đại. Cơ cấu đội ngũ trí thức của tỉnh còn bất hợp lý về ngành nghề (tập trung chủ yếu vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo, y tế...).

Thứ tư, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị và môi trường làm việc chưa đáp ứng được nhu cầu, do đó, chưa phát huy hết khả năng của nhân lực trình độ cao; dễ thu hút song lại khó “giữ chân”, còn tồn tại hiện tượng “thu hút chưa đúng đối tượng”, hay “chảy máu nguồn nhân lực có trình độ cao”.

Thí dụ, Đề án số 03-ĐA/TU về tuyển chọn sinh viên tốt nghiệp đại học bố trí về cơ sở công tác ở địa phương đã chọn được 141 sinh viên tốt nghiệp đại học về công tác ở các xã vùng II, vùng III của 15 huyện, thị xã trên địa bàn tỉnh (chủ yếu thuộc các ngành nông nghiệp, hành chính, kinh tế - tài chính, địa chính...). Tuy nhiên, từ 2009 đến nay số xin thôi tham gia Đề án lên tới 35 người, chiếm 24,8%.

Thứ năm, trong một số lĩnh vực cần có trí thức giỏi chuyên môn, trình độ cao, tuy nhiên, không nhiều trí thức tham gia các đề án công tác tại địa phương (đặc biệt là các huyện, xã vùng khó khăn, vùng biên giới) nên hiện vẫn còn thực trạng “vừa thừa, vừa thiếu” ở một số lĩnh vực.

Bên cạnh đó, nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương chưa công khai, minh bạch về danh sách, vị trí, nhu cầu, trình độ cần tuyển dụng để các ứng viên có trình độ cao tham gia dự tuyển...

Thứ sáu, khâu rà soát, xây dựng kế hoạch tạo nguồn trí thức tại chỗ và đào tạo, bồi dưỡng đối với nguồn nhân lực chất lượng cao còn chưa cụ thể, chưa kịp thời. Hiện số cán bộ đang làm việc ở chính quyền cấp xã trên địa bàn có trình độ học vấn tiểu học và trung học cơ sở còn chiếm tỷ lệ cao (33,11%), số cán bộ xã chưa có trình độ chuyên môn vẫn còn nhiều (784 người, chiếm 33,72%), khoảng gần 50% công chức cấp xã chưa biết sử dụng tiếng đồng bào dân tộc thiểu số, trên 60% cán bộ, công chức cơ sở chưa qua bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước, do đó, chưa theo kịp so với yêu cầu công việc(8).

Một bộ phận trí thức chưa đáp ứng được yêu cầu về năng lực, bằng cấp chưa tương xứng, tác phong, lề lối làm việc còn nhiều hạn chế, thiếu chuyên nghiệp, chưa đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới.

Thứ bảy, hoạt động tuyên truyền, quảng bá, nêu gương các trí thức thành công khi đến với địa phương chưa được chú trọng. Một bộ phận trí thức khi về địa phương ít được quan tâm phát triển... Do đó, những trí thức có năng lực, có chuyên môn song chưa được trọng dụng sẽ giảm sút đam mê cống hiến, hoặc nghỉ việc và rời bỏ địa phương.

Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập là:

Gia Lai là tỉnh miền núi, địa hình, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn do đó chưa có nhiều nguồn lực để thực hiện các chính sách đầu tư, thu hút, đãi ngộ trí thức. Điều kiện, môi trường làm việc, cơ sở vật chất, trang thiết bị còn thiếu thốn, lạc hậu, có nơi xuống cấp vì vậy chưa phát huy hết được năng lực của cán bộ, chưa thu hút, giữ chân được trí thức trẻ, nhân lực chất lượng cao đến với địa phương.

Hiện nay, công tác quản lý nhà nước về đội ngũ trí thức trong toàn tỉnh chưa thống nhất về đầu mối, do đó việc tham mưu, đề xuất các chủ trương, giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức trong điều kiện hội nhập và phát triển chưa được quan tâm đúng mức.

Việc thực hiện chính sách thu hút, tuyển chọn, bố trí, sử dụng trí thức về công tác tại địa phương chưa thực sự công bằng, còn có biểu hiện cục bộ, địa phương. Bên cạnh đó, có lúc, có nơi chưa thực sự quan tâm đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ trí thức, nhất là công tác tạo nguồn trí thức tại chỗ, trí thức trẻ, trí thức là nữ và trí thức người đồng bào DTTS.

Chưa quy hoạch phát triển trí thức phù hợp với mục tiêu phát triển từng ngành, từng địa phương và toàn tỉnh, chưa có chính sách sử dụng trí thức có trình độ cao một cách hiệu quả.

Bên cạnh đó, chất lượng đào tạo, bồi dưỡng trí thức còn hạn chế về nhiều mặt, việc tôn vinh trí thức có nhiều đóng góp vào sự phát triển của địa phương, đơn vị chưa kịp thời, nên chưa khuyến khích, động viên trí thức toàn tâm, toàn ý cống hiến.

3. Giải pháp thu hút, đãi ngộ và sử dụng đội ngũ trí thức ở Gia Lai

Để tiếp tục xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức trong thời gian tới cần tập trung một số giải pháp cụ thể sau đây:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các cơ quan, đơn vị về vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức. Trên cơ sở đó, tạo môi trường và điều kiện làm việc thuận lợi cho hoạt động của trí thức; điều chỉnh cơ cấu cán bộ phù hợp với nhu cầu thực tiễn của tỉnh. Làm tốt công tác tôn vinh trí thức nhằm tuyên truyền, thu hút trí thức từ các nơi khác về địa phương.

Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện, bổ sung các chính sách thu hút, đãi ngộ trí thức. Trọng dụng các trí thức là nhà khoa học, chuyên gia giỏi, là tài năng sáng tạo đặc biệt, có trình độ cao ở các ngành nghề, lĩnh vực mà địa phương còn thiếu.

Xác định rõ danh mục ngành, nghề cần thu hút nhân tài trong từng giai đoạn theo nhu cầu thực tế của địa phương và từng ban, ngành. Nâng mức hỗ trợ kinh phí cho cán bộ công viên chức người DTTS được đi đào tạo đại học và sau đại học.

Thứ ba, trong tạo nguồn và sử dụng cán bộ, cần chú trọng nhóm trí thức tài năng, trí thức nữ, trí thức là người đồng bào DTTS đang công tác tại các địa phương, đơn vị có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; tạo điều kiện cổ vũ, khuyến khích trí thức phát huy tài năng, trí tuệ vào sự nghiệp xây dựng và phát triển tỉnh Gia Lai.

Thứ tư, nhằm khắc phục tình trạng trọng dụng chưa đúng người đúng việc, cần bố trí, sử dụng cán bộ đúng năng lực, sở trường tạo tiền đề tiếp tục thu hút trí thức về địa phương.

Tiến tới thực hiện chủ trương thi tuyển”mang tính cạnh tranh và công bằng, đặc biệt trong bố trí các chức danh lãnh đạo, quản lý ở các cơ quan, đơn vị. Đây là giải pháp tích cực đã được nhiều địa phương thực hiện có hiệu quả nhằm thu hút những người có tài, có đức vào làm việc trong bộ máy của các cơ quan, đơn vị tại địa phương.

Thứ năm, cần làm tốt khâu rà soát, đánh giá đúng thực trạng trí thức của địa phương, xác định các ngành nghề, lĩnh vực cần và thiếu nhân lực chất lượng cao để chủ động xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng phù hợp, tránh tràn lan, lãng phí.

Bên cạnh đó, cần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với trí thức, hoàn thiện cơ chế quản lý lao động trí thức. Hiện nay, việc quản lý các lớp bồi dưỡng, đào tạo của tỉnh chưa chặt chẽ: hoạt động liên kết mở lớp thạc sỹ, quản lý nhà nước, bồi dưỡng lãnh đạo cấp phòng diễn ra tràn lan ở các Trung tâm Giáo dục thường xuyên cấp huyện, tỉnh. Cần sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức thuộc các cơ quan trong hệ thống chính trị đến năm 2030, (sáp nhập/giải thể các đơn vị trùng chức năng, nhiệm vụ, hoặc đã hết nhiệm vụ lịch sử).

Ngoài ra, cần thực hiện tốt công tác thi đua, khen thưởng nhằm tôn vinh những trí thức giỏi, tài năng, có nhiều cống hiến cho sự phát triển của địa phương. Tăng cường tiếp xúc, đối thoại với trí thức trong những vấn đề quan trọng; lắng nghe, tiếp thu ý kiến của họ.

Tạo môi trường thuận lợi cho tầng lớp trí thức phát triển, dành một phần kinh phí nghiên cứu khoa học cho công tác đào tạo nghiên cứu sinh, khuyến khích nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài gắn với thực tế địa phương. Nhanh chóng hình thành các phân hiệu đại học, ưu tiên các đơn vị thuộc top 1000 trường đại học tốt nhất thế giới và top 500 trường tốt nhất châu Á.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 6-2020

(1), (2) Báo cáo số 267-BC/TU ngày 17-5-2018 của Tỉnh ủy Gia Lai về tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 6-8-2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X “về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.

(3) Báo cáo số 128-BC/TU ngày 20-2-2007 về tổng kết Đề án số 02-ĐA/TU ngày 17-4-2009 của Ban thường vụ Tỉnh ủy “về đối mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị xã, phường, thị trấn giai đoạn 2009-2015”.

(4), (5) Báo cáo tổng kết của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai 2017 về thực hiện nghị quyết Trung ương 03 khóa VIII “về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.

(6) Báo cáo Tổng kết Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2011-2016 của Trường Chính trị tỉnh Gia Lai.

(7) Báo cáo thống kê số lượng, chất lượng cán bộ, công chức chính quyền cấp xã năm 2017, Sở nội vụ tỉnh Gia Lai.

(8) Nguồn tác giả tổng hợp.

TS Nguyễn Thái Bình

Trường Chính trị tỉnh Gia Lai

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền