Trang chủ    Thực tiễn    Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước vào sửa đổi Hiến pháp
Thứ ba, 03 Tháng 12 2013 09:20
2014 Lượt xem

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước vào sửa đổi Hiến pháp

(LLCT) - Từng bôn ba khắp năm châu, sống nhiều năm ở châu Âu và trung tâm cách mạng thế giới là nước Nga Xô viết, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc tinh thần dân chủ, pháp quyền.

1. Những điểm cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân, vì dân và thể hiện trong các Hiến pháp 1946 và 1959

Từng bôn ba khắp năm châu, sống nhiều năm ở châu Âu và trung tâm cách mạng thế giới là nước Nga Xô viết, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc tinh thần dân chủ, pháp quyền. Trong các bài nói, bài viết của Người tuy không nêu cụ thể  mệnh đề nhà nước của dân, do dân, vì dân, song trước và sau khi có Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tư tưởng đó luôn hiện diện với những điểm chính là:           

- Nhà nước phải do dân bầu và dân kiểm soát được.      

Ngay từ năm 1927, trong cuốn sách Đường kách mệnh, Người đã nêu rõ chỉ có Cách mệnh Nga là cách mệnh đến nơi vì cách mạng thắng lợi rồi thì trao quyền cho phần đông dân chúng. Cách mệnh Việt Nam cũng phải như thế. Trong Chương trình của Việt Minh do Người soạn thảo năm 1941, Hồ Chí Minh đã nêu sau khi đánh đổ ách đế quốc thực dân thì lập chính phủ nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do Quốc dân đại hội cử ra và về mặt chính trị thì thực hiện phổ thông đầu phiếu và ban bố các quyền tự do dân chủ.    

Đúng theo tinh thần đó, ngay sau khi tuyên ngôn độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3-9-1945, Người đề nghị phải tổ chức ngay cuộc tổng tuyển cử theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, không phân biệt trai, gái, dân tộc, tôn giáo, đảng phái. Trong Lời kêu gọi nhân dân đi bỏ phiếu (5-1-1946) Người nêu rõ người dân phải có quyền và nghĩa vụ xây dựng chính quyền, thực hiện quyền bầu cử của mình.    

- Phải có Hiến pháp dân chủ, được nhân dân chấp nhận, làm khuôn phép cho hoạt động của Nhà nước, của người cầm quyền, đồng thời khẳng định tự do và các quyền cơ bản khác của con người, của công dân.  

Phát biểu tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ, chỉ ra những nhiệm vụ cần kíp, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: trước đây dưới thời phong kiến, dân ta phải chịu ách chuyên chế, không được hưởng quyền dân chủ, sau đó hơn 80 năm dưới ách thống trị của đế quốc, cũng không kém phần chuyên chế. Do vậy, chúng ta phải có Hiến pháp dân chủ. Hiến pháp phải bảo đảm cho nền dân chủ, trong nền dân chủ đó có Nhà nước và các thành tố khác như Mặt trận và các đoàn thể nhân dân. Năm 1949, trong bài Dân vận, Hồ Chí Minh khẳng định:   

“Nước ta là nước dân chủ

Bao nhiêu lợi ích đều vì dân

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân   

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân         

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.     

Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra.

Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên           

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân(1).      

-  Các cơ quan nhà nước và công chức là công bộc của dân. Mục đích của Nhà nước là làm cho dân được tự do, hạnh phúc.     

Người thường nói: “nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(2). Do vậy, Chính phủ phải làm sao cho dân được hưởng những quyền tự do, hạnh phúc. Chính quyền phải theo phương châm: cái gì lợi cho dân thì phải hết sức làm, cái gì hại cho dân thì phải hết sức tránh. Chính quyền muốn được người dân kính trọng thì trước hết phải kính trọng dân. Người luôn nhắc nhở cán bộ phải nhớ chính quyền từ Trung ương đến làng, xã, từ Chủ tịch nước đến người lao công, quét rác, nấu ăn... đều là công bộc của dân. Do vậy, phải sửa đổi lối làm việc, tránh sa vào những tệ quan liêu, xa dân, áp bức dân... Trong bài nói chuyện tại tỉnh Thanh Hóa năm 1947, Người nói: “Chính phủ Cộng hòa Dân chủ là gì? Là đày tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì Chính phủ phải là đầy tớ. Làm việc ngày nay không phải là để thăng quan, phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ"(3)

- Nhà nước phải được tổ chức thống nhất và có hiệu lực từ Trung ương đến địa phương.        

Người đấu tranh vạch trần âm mưu chia để trị của thực dân Pháp, đặt ba miền dưới ba chế độ pháp lý khác nhau. Người luôn khẳng định và đấu tranh cho sự thống nhất nước nhà, “Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam”, Việt Nam phải là nước thống nhất. Về mặt chính quyền, các địa phương phải tin tưởng vào Chính phủ, hành động theo chủ trương chung của Chính phủ, không được manh động, tự tiện...

- Nhà nước phải trong sạch, không quan liêu, tham ô, lãng phí. 

Trong các bài nói, bài viết, Hồ Chí Minh không dùng từ “tham nhũng” song Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nhà nước phải giữ đạo đức, không được ăn đút lót, ăn cắp, tham ô... Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (1947), hay các tác phẩm khác sau này, Người coi tệ ăn cắp, tham ô là một tội nặng không chấp nhận được.    

Về chống quan liêu, Người dạy: “Nói tóm lại, cách làm việc, cách tổ chức, nói chuyện, tuyên truyền, khẩu hiệu, viết báo, v.v. của chúng ta, đều phải lấy câu này làm khuôn phép: “Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng”(4).      

Trong điều kiện đất nước còn nghèo, còn phải tiết kiệm, Người coi những căn bệnh như hình thức chủ nghĩa, xa hoa, lãng phí, là những điều xa lạ với chính quyền của nhân dân. Năm 1949, trong bài “Cần, kiệm, liêm, chính” Người viết: “dân phải biết quyền hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ, để giúp cán bộ thực hiện chữ LIÊM. Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì. Mỗi người phải nhận rằng, tham lam là một điều rất xấu hổ, kẻ tham lam là có tội với nước, với dân”(5). Nói chuyện với cán bộ, công nhân ngành than, Người dạy phải kiên quyết chống nạn quan liêu, chống tham ô, lãng phí.     

Với tư cách là người đứng đầu Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban soạn thảo Hiến pháp, Người đã chỉ đạo thể hiện những tư tưởng đó trong Hiến pháp 1946 và sau này là Hiến pháp 1959.

Hiến pháp 1946 được soạn thảo và thông qua trong một thời gian khá ngắn (từ tháng 1 tới tháng 10 và được thông qua tại kỳ họp thứ hai tháng 11-1946), trong hoàn cảnh đất nước mới giành được độc lập, tình hình trong nước rất phức tạp, các thế lực phản động có sự giúp đỡ từ bên ngoài điên cuồng chống phá cách mạng.

Trong Lời nói đầu của Hiến pháp khẳng định: “Hiến pháp Việt Nam phải ghi lấy những thành tích vẻ vang của Cách mạng và phải xây dựng trên những nguyên tắc dưới đây:           

- Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo    

- Đảm bảo các quyền tự do dân chủ

- Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân           

 Về chính thể dân chủ, Điều 1 viết: Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa.

Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo.          

Hiến pháp dành chương II quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân, sau đó mới tới Chương quy định về Nghị viện, Chính phủ, cơ quan tư pháp. Trật tự các chương như thế thể hiện sự đề cao vai trò, vị trí của người dân trước cơ quan nhà nước. 

Trong Chương này, Điều 7 viết: Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình. 

Hiến pháp dành hẳn Mục C của Chương II để nói về quyền bầu cử, bãi miễn và phúc quyết của nhân dân, thể hiện rằng, trong mối quan hệ với Nhà nước, người dân là chủ thể, người quyết định số phận của chính quyền. Điều 17 khẳng định nguyên tắc bầu cử: chế độ bầu cử là phổ thông đầu phiếu. Bỏ phiếu phải tự do, trực tiếp và kín. Điều 18 ghi: Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai, đều có quyền bầu cử, trừ những người mất trí và những người mất công quyền. Điều 20: Nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu mình đã bầu, theo Điều 41 và 61 (nếu 1/4 cử tri tỉnh, thành phố đề nghị thì Nghị viện phải đưa vấn đề bãi miễn ra và nếu được 2/3 nghị viên ưng thuận thì đại biểu phải từ chức).

Điều 21 ghi quyền quyết định thuộc về nhân dân: “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, theo Điều thứ 32 và 70”. Quy định này được cụ thể hóa tiếp ở Điều 32 “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết nếu hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý”, và Điều 70 về cách thức sửa đổi Hiến pháp: “Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết”.    

Đáng lưu ý là, Hiến pháp 1946 đã cụ thể hóa ở nhiều điều nguyên tắc đa số trong bỏ phiếu và biểu quyết của Nghị viện để thể hiện tính dân chủ trong hoạt động của cơ quan đại biểu của dân. Đó là nguyên tắc bình đẳng, phổ thông, tự do, kín trong tổng tuyển cử. Đó là cách tính số phiếu cần thiết trong trường hợp triệu tập Quốc hội (Điều 28: khi một phần ba nghị viên yêu cầu thì Ban thường vụ phải triệu tập Nghị viện họp); hoặc trong các biểu quyết của Quốc hội... Thí dụ, Điều 29: phải quá nửa nghị viên họp thì mới được biểu quyết, nếu tuyên chiến thì phải có hai phần ba nghị viên có mặt bỏ phiếu ưng thuận; Điều 32: những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số Nghị viên đồng ý; Điều 33: khi nào hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý, nghị viện có thể tự giải tán; Điều 45 chọn Chủ tịch Chính phủ: Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chọn trong Nghị viện nhân dân và phải được hai phần ba tổng số nghị viên bỏ phiếu thuận).           

Sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, miền Bắc tiến lên xây dựng CNXH, miền Nam tiếp tục hoàn thành cách mạng dân chủ nhân dân, đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai, thống nhất nước nhà. Hiến pháp 1959 có những thay đổi phù hợp với tình hình trên.       

Dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, về cơ bản những điều quy định bảo đảm chính quyền của dân, do dân, vì dân vẫn được giữ và được cụ thể hóa chi tiết hơn. Thí dụ Lời nói đầu ghi: “Nhà nước của ta là Nhà nước dân chủ nhân dân, dựa trên nền tảng liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo”. Về chế độ chính trị, Điều 4 viết cụ thể hơn như sau: “Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đều thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”.  

Điều 5 ghi: “Đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp có thể bị cử tri bãi miễn trước khi hết nhiệm kỳ nếu tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”.       

Điều 6 ghi “Tất cả các cơ quan nhà nước đều phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân.           

Tất cả các nhân viên cơ quan nhà nước đều phải trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, tuân theo Hiến pháp và pháp luật, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong báo cáo về Hiến pháp sửa đổi, những điều này bảo đảm cho nhân dân kiểm soát được các đại biểu do mình bầu ra.   

Thể hiện tính chất vì dân của Nhà nước, trong phần chế độ kinh tế và xã hội, Hiến pháp 1959 ghi: “Mục đích cơ bản của chính sách kinh tế của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là không ngừng phát triển sức sản xuất nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân”.       

Về các quyền và nghĩa vụ của công dân (Chương III), Hiến pháp 1959 thể hiện quan điểm của các nước XHCN thời kỳ này trong việc đề cao các quyền kinh tế, xã hội như quyền có việc làm, quyền nghỉ ngơi, quyền học tập...          

 Về tổ chức bộ máy nhà nước, so với Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 bổ sung nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan nhà nước khác (Điều 4). Tính chất độc lập tương đối của các nhánh quyền lực như trong Hiến pháp 1946 không còn. Chủ tịch nước, Hội đồng Chính phủ, hệ thống tư pháp lệ thuộc hoàn toàn vào Quốc hội kể cả về mặt nhiệm kỳ (theo nhiệm kỳ của Quốc hội) và quyền hạn. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội và hành chính nhà nước cao nhất, ủy ban hành chính các cấp là cơ quan chấp hành của hội đồng nhân dân, là cơ quan hành chính ở địa phương. Vai trò của nguyên thủ quốc gia đối với hành pháp không còn mà chuyển cho Thủ tướng. Song cơ quan hành pháp hoạt động có tính tập thể hơn (Hội đồng Chính phủ), thành phần của Hội đồng Chính phủ mở rộng hơn.   

Những thay đổi đó thể hiện sự ảnh hưởng của mô hình Xô viết của các nước XHCN. Về mặt lôgích, Hiến pháp đã thể hiện quan điểm quyền lực thuộc về nhân dân, song về mặt kiểm soát quyền lực, về khả năng phản biện ngược đối với cơ quan quyền lực nhà nước không còn như trước. Mặt khác, các quy định liên quan tới bỏ phiếu đã bị lược bớt khá nhiều, chẳng hạn về số phiếu cần thiết để chọn Chủ tịch nước, để trúng cử đại biểu Quốc hội, về miễn nhiệm đại biểu... Hiến pháp 1959 cũng không giữ quy định của Hiến pháp 1946 về quyền phúc quyết của nhân dân với những vấn đề quan trọng của đất nước hoặc với những sửa đổi của Hiến pháp.   

2. Hiến pháp 1992 - những ưu điểm và những điều cần sửa đổi theo tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước   

Sau sụp đổ của mô hình CNXH ở Liên Xô, các nước Đông Âu và những khuyết, nhược điểm trong quản lý nhà nước theo Hiến pháp 1980, sau những thành công bước đầu của công cuộc đổi mới, trên cơ sở Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991), Hiến pháp 1992 đã ra đời và năm 2001 được sửa đổi một số điều. Hiến pháp 1992 đã thể hiện nhiều quan điểm đổi mới của Đảng trong diễn đạt bản chất và cách thức tổ chức nhà nước, trong nhận thức về quyền con người, quyền công dân. Thuật ngữ Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân được đưa vào Hiến pháp.        

Điều 2 (sửa đổi năm 2001) viết: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.     

Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.  

Việc khẳng định Nhà nước pháp quyền và quyền lực nhà nước thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan... là điểm mới trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001).           

Để thể hiện nhận thức về tầm quan trọng của dân chủ trong tổng thể mục tiêu xã hội, Điều 3 Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001 viết: “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân”.      

Kế thừa Hiến pháp 1980, về cơ bản Hiến pháp 1992 vẫn duy trì nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách  trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, song đã đề cao hơn vai trò cá nhân của Chủ tịch nước và Thủ tướng. Hiến pháp 1992 khôi phục lại một phần quyền độc lập tương đối của Chủ tịch nước trong mối quan hệ với cơ quan nhà nước khác, thí dụ có quyền “đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội” (khoản 7 Điều 103). Song quyền này chỉ đối với Ủy ban thường vụ Quốc hội chứ không phải với Quốc hội và chỉ về một số vấn đề được quy định tại điểm 8 và 9 của Điều 91 (về bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức phó thủ tướng, bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, quyết định tổng động viên, ban bố tình trạng khẩn cấp), nghĩa là rất hạn chế. Thủ tướng là người đứng đầu Chính phủ, lãnh đạo Chính phủ, ủy ban nhân dân các cấp, chủ tọa các phiên họp Chính phủ và có những quyền hạn và nhiệm vụ rất lớn.  

Một điểm mới khác đáng lưu ý là trong Hiến pháp đã sử dụng khái niệm quyền con người (Điều 50).            

Giống Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 ít quy định về bỏ phiếu và nguyên tắc quá bán là nguyên tắc phổ biến trong bầu cử hoặc biểu quyết.     

Suy ngẫm tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước dân chủ, kế thừa tinh thần của những Hiến pháp trước, nhất là Hiến pháp 1946 và để đáp ứng công cuộc xây dựng đất nước trong tình hình mới, phản ánh những quan điểm mới của Đảng tại Đại hội XI, trong sửa đổi Hiến pháp 1992 lần này cần khẳng định một số điểm sau:      

Hiến pháp cần mở rộng nội hàm của khái niệm nhân dânvới tư cách là người chủ thực sự của đất nước theo tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt giai cấp, thành phần kinh tế, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng,... Các quy định về bầu cử Quốc hội và trưng cầu dân ý nên và cần được mở rộng tới cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Vì vậy, có thể sửa Điều 54 của Hiến pháp là “Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú và nơi cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân”.         

Về mặt trật tự các chương, điều của Hiến pháp, nên trả lại vị trí Chương II cho các quy định về quyền, nghĩa vụ của công dânđể thể hiện quan điểm nguồn gốc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân (đây là điều đã được nhiều nhà khoa học đề xuất trong các thảo luận gần đây).         

Trong điều kiện đất nước ta chỉ có một Đảng lãnh đạo, không có phe phái thì cần phải khẳng định nguyên tắc đồng thuậntrong bầu cử đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân, trong các quyết định của Quốc hội, hội đồng nhân dân, nghĩa là người trúng cử phải được đa số tối thiểu hai phần ba, chứ không chỉ là đa số quá bán (trên một phần hai). Cũng như vậy, giá trị khi biểu quyết hoặc bỏ phiếu của Quốc hội, hội đồng nhân dân phải được tính bằng đa số tối thiểu hai phần ba. Đối với việc bầu chức danh như Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội thì càng cần phải được đa số tuyệt đối phiếu bầu của Quốc hội, thậm chí với Chủ tịch nước cần phải đạt được ba phần tư số phiếu bầu. Vì vậy, trong sửa đổi nên xác định nhiều hơn nữa các trường hợp cần bỏ phiếu và những trường hợp như vậy cần đạt được số phiếu tối thiểu hai phần ba. Thí dụ, có thể sửa Điều 88 như sau: “Luật, Nghị quyết và các trường hợp biểu quyết khác của Quốc hội phải được tối thiểu hai phần ba số đại biểu biểu quyết tán thành”. Điều 93 sửa như sau: “Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội phải được tối thiểu hai phần ba tổng số thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành...”. Điều 102 sửa như sau: “Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội và phải được tối thiểu ba phần tư tổng số đại biểu bỏ phiếu ưng thuận”. Điều 120 về Hội đồng nhân dân cần bổ sung như sau: “Căn cứ vào Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, Hội đồng nhân dân ra nghị quyết về các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa phương... Nghị quyết và các quyết định của Hội đồng nhân dân chỉ có giá trị khi tối thiểu hai phần ba đại biểu bỏ phiếu tán thành”... Ngược lại, để bảo đảm tính dân chủ, những trường hợp cần đưa ra cơ quan đại biểu của dân thảo luận và bỏ phiếu tín nhiệm thì chỉ cần một phần ba, thậm chí một phần tư số đại biểu đề nghị là đủ.    

Phải khẳng định nguyên tắc công khai, minh bạchnhư một nguyên tắc bắt buộc đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước, nhất là trong việc quyết định các vấn đề  quan trọng của đất nước, thí dụ quyết định ngân sách, tài chính, chiến tranh, hòa bình. Có như thế thì nhân dân mới giám sát, kiểm soát được Nhà nước, mới chống được tham nhũng, lãng phí. Vì vậy, Điều 6 cần được bổ sung như sau: “Quốc hội, Hội đồng nhân và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch”.         

Một mặt đề cao tính độc lập tương đối và chịu trách nhiệm trước nhân dân của các cơ quan và cá nhân trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, mặt khác phải tăng cường sự kiểm soát lẫn nhau trong việc thực thi quyền lực nhà nước.  

Trong nền chính trị một Đảng Cộng sản lãnh đạo như nước ta, người đứng đầu Đảng nên là Nguyên thủ quốc gia (Chủ tịch nước) để vừa khẳng định vị thế đảng cầm quyền, vừa tạo vị thế kiểm soát về mặt nhà nước đối với Chính phủ và Thủ tướng (thực tiễn trong công tác quản lý, điều hành kinh tế thời gian qua cho thấy quyền hạn không được kiểm soát thích đáng dẫn đến những khuyết điểm nghiêm trọng như những vụ Vinaline, Vinashin...). Nên tăng thẩm quyền của Chủ tịch nước với tư cách là đại diện cho Nhà nước về đối nội, đối ngoại và trong quan hệ với cơ quan hành pháp, chẳng hạn quyền tham dự và khi xét thấy cần thiết, quyền Chủ tọa phiên họp của Chính phủ; quyền đề nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét lại nghị quyết và quyết định của mình hoặc đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội đình chỉ hiệu lực của nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ để xem xét lại. Có thể sửa đổi, bổ sung Điều 105 theo tinh thần trên.    

Ngược lại, Chính phủ cũng có quyền đề nghị cơ quan lập pháp, trước hết là Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét lại nghị quyết, quyết định của mình. Có thể bổ sung Điều 109 về thẩm quyền này như sau: “Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước. Trong trường hợp có căn cứ chính đáng, Chính phủ có quyền đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét lại nghị quyết và quyết định của mình. Nếu Ủy ban Thường vụ Quốc hội vẫn giữ nguyên không thay đổi thì nghị quyết, quyết định có hiệu lực”.        

Trong khuôn khổ kiểm soát lẫn nhau và tránh tranh chấp quyền lực giữa các cơ quan, các chức danh chủ chốt của Nhà nước, đã đến lúc Hiến pháp quy định về Tòa án Hiến pháp hoặc khả thi hơn là Hội đồng Hiến pháp với chức năng tư vấn về thẩm quyền và trọng tài giữa các cơ quan và cá nhân. Điều này có thể đưa vào chương quy định về cơ quan tư pháp.

____________________

(1),(3),(4),(5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.698, 60, 248, 641.         

(2) Sđd, t.4, tr.56.

PGS,TS Vũ Hoàng Công

Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác