Trang chủ    Thực tiễn    Một số ý kiến về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
Thứ năm, 26 Tháng 12 2013 11:35
1741 Lượt xem

Một số ý kiến về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

(LLCT) - Đại hội XI của Đảng chủ trương "đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục, đào tạo". Theo tinh thần đó, có rất nhiều vấn đề cần phải bàn. Trong bài viết này chỉ xin nêu một số ý kiến về hai vấn đề: thứ nhất, chuyển từ giáo dục chủ yếu là truyền thụ kiến thức sang giáo dục phát triển nhân cách, năng lực; thứ hai, xây dựng một nền giáo dục mở, học tập suốt đời gắn với xây dựng xã hội học tập, phát triển giáo dục “điện tử”. 

           

1. Vấn đề cốt lõi, trung tâm của cuộc đổi mới giáo dục và đào tạo là tập trung chuyển mạnh từ giáo dục chủ yếu truyền thụ kiến thức sang giáo dục hình thành nhân cách và phát triển năng lực người học, nói gọn là phát triển nhân cách hoặc năng lực NGƯỜI. Trong bài này, tôi dùng cụm từ phát triển năng lực NGƯỜI để nói về việc hình thành nhân cách và phát triển năng lực. Có ý kiến cho rằng, chuyển từ truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực chỉ là phương pháp, không có gì quan trọng mà coi là cốt lõi, trung tâm. Nhưng không phải như vậy, không chỉ là phương pháp, mà trước tiên là triết lý giáo dục, quan điểm giáo dục, khoa học giáo dục - sư phạm, liên quan đến mục tiêu, chương trình, phương pháp, cách kiểm tra, thi cử, đánh giá, cơ chế quản lý, tổ chức hệ thống...           

Theo các nhà khoa học thì ngày nay, cứ sau 2-3 năm kiến thức nhân loại lại tăng lên gấp đôi. Sau Công nguyên tốc độ ấy là 1000 năm, sau đó có nhanh hơn nhưng cũng mất mấy trăm năm. Hai lý do chủ yếu dẫn đến tốc độ kiến thức tăng nhanh là do sự tích lũy kiến thức của nhân loại đã đến độ có thể tạo ra những bước “nhảy” và loài người đã bước vào xã hội thông tin (thông tin nhiều và thông tin nhiều chiều, khi “va chạm” nhau thì sản sinh ra thông tin mới). Với lượng kiến thức nhiều và tốc độ tăng nhanh như vậy nên người thầy không thể cập nhật và truyền thụ kịp. Mặt khác, kiến thức mà thế hệ trước truyền thụ cho thế hệ sau thường là kinh nghiệm của hôm qua, trong khi phải chuẩn bị cho học sinh sống với ngày mai. Lúc các em ra trường thì những kiến thức học được trước đó ít năm có thể đã lỗi thời. Với cách học truyền thụ kiến thức, nói chung học sinh bị giới hạn bởi thầy giáo, trong khi cuộc sống ngày nay rất cần phải chuẩn bị cho học sinh vượt thầy, vượt sách. Tư duy kinh nghiệm thường bị giới hạn bởi cái cũ. Có nhà khoa học ví tư duy kinh nghiệm có khả năng cải tiến chiếc cày chìa vôi để có một chiếc cày chìa vôi khác tốt hơn, nhưng vẫn chỉ là một chiếc cày chìa vôi. Còn muốn có một chiếc máy cày thì cần phải có tư duy khoa học.         

Việc chuyển từ giáo dục truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực liên quan trực tiếp, chặt chẽ và trước tiên tới việc xây dựng các chương trình đào tạo. Đã có một thời kỳ dài chúng ta thực hiện chương trình theo cách tiếp cận nội dung (giảng dạy), đến nay cơ bản vẫn vậy. Đổi mới cần chuyển mạnh sang tiếp cận mục tiêu phát triển năng lực (người học), thực hiện một chương trình nhiều bộ sách giáo khoa, thầy giáo cùng với tổ bộ môn là người lựa chọn một trong những bộ sách được hội đồng thẩm định khoa học cấp quốc gia xác nhận là đạt yêu cầu để giảng dạy. Việc soạn sách giáo khoa cũng cần phải có cạnh tranh, so sánh về chất lượng để có những bộ sách tốt nhất. Thi theo chương trình chứ không phải theo sách giáo khoa, là kiểm tra năng lực chứ không phải kiểm tra trí nhớ.

Nền giáo dục của chúng ta từ xưa đã rất nặng ứng thí và bằng cấp, học là để trả thi, để ứng phó với thi cử, để có tấm bằng làm công cụ tiến thân, trước tiên là làm quan. Đến nay, cơ bản vẫn nặng như vậy. Lại còn mặt trái của cơ chế thị trường đã xâm nhập vào lĩnh vực giáo dục, có không ít trường hợp mua bằng bán điểm, nhờ người khác học hộ, thi giúp. Như vậy, học không phải với mục đích để có năng lực, kiến thức, mà là để có điểm, có bằng. Đổi mới là học để nâng cao năng lực NGƯỜI, năng lực thực chất, chứ không phải để thi. Không phải học để thi mà là thi để học. Cần làm cho việc thi cử trở nên nhẹ nhàng và thực chất hơn, không nặng nề như hiện nay. Có thể mở rộng khung điểm để dễ phân hạng khi đánh giá. Từ hai cuộc thi quốc gia liền kề như hiện nay (tốt nghiệp trung học phổ thông và vào đại học), nội dung và phương pháp thi giống nhau, nên nhập lại thành một, nhiệm vụ chính là để đánh giá chất lượng phổ thông, đồng thời là sơ tuyển đại học, mỗi năm có thể thi vài lần, do một trung tâm sự nghiệp của Nhà nước đảm nhận.     

Cũng theo quan điểm chuyển từ truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực thì phải chuyển từ cách học ghi nhớ lời thầy, nói và viết theo thầy sang khuyến khích tư duy độc lập và sự sáng tạo của người học, bởi sáng tạo chính là năng lực. Và cách thi không phải là kiểm tra trí nhớ mà là kiểm tra năng lực sáng tạo, khả năng tổng hợp, phân tích, luận giải và giải quyết vấn đề. Ngày nay, loài người đã sáng tạo ra những bộ nhớ bằng công nghệ thông tin để giúp con người khỏi tốn nhiều nơron thần kinh cho việc nhớ, dành các nơron ấy cho hoạt động sáng tạo. Chỉ cần dịch chuyển con trỏ, nhấp vào vị trí đã định là nhận được biết bao nhiêu kiến thức rồi. Học toán, lý hiện nay phải nhớ công thức quá nhiều, học sử phải nhớ sự kiện, đến mức nặng nề, nhưng sau khi ra công tác, hầu hết mọi người thậm chí cả đời không hề sử dụng các công thức ấy. Những công thức ấy cần học để góp phần hình thành tư duy lôgich, quan trọng là phải hiểu, biết cách vận dụng. Học chỉ không quên khi biến thành năng lực của chính mình. Học sử (không chuyên) chủ yếu là để hình thành nhân cách, không phải bắt thuộc lòng, nhớ sự kiện; môn sử phải là một trong những môn học hấp dẫn, để rồi tự nó sẽ “vào” và “ở lại” trong người học. Dấu hiệu và biểu hiện đầu tiên của chất lượng là sự thích học. Đã chán học, không thích học thì làm gì có chất lượng - năng lực được! Không cần bắt học sinh phải nhớ nhiều, phải thuộc lòng, mà cái cần là năng lực, sự sáng tạo.       

Đã sáng tạo thì bao giờ cũng có cái riêng của người học, không giống thầy, không y như thầy, mà khác thầy. Lâu nay, học trò nói giống thầy, y như thầy thì đạt điểm cao, vì vậy phải "học gạo", phải tập trung nhớ, phải học thuộc lòng. Bây giờ cần thay đổi, nói như ý thầy chỉ đạt điểm trung bình; nói thêm những ý mới, những phát hiện mới, khác thầy mà có lý, có lẽ, có cơ sở khoa học thì mới đạt điểm cao, mới là chuẩn bị cho các em vượt thầy, vượt sách.     

Để có năng lực, có sáng tạo thì phải biết phát huy thế mạnh riêng của mỗi người. Các nhà khoa học đã nói ở con người có những trí khôn khác nhau, cấu tạo bảy trí khôn và mấy chục vùng vỏ não khác nhau, người này có thể rất giỏi việc này và kém việc kia, người khác thì ngược lại... Vì thế tốt nhất, hiệu quả nhất là phát triển thế mạnh ở mỗi người. C.Mác chỉ rõ chức năng của giáo dục là “phát triển năng lực - bản chất người” (ông ghép chữ năng lực và chữ bản chất thành một từ mới là năng lực - bản chất người); còn Chủ tịch Hồ Chí Minh nói giáo dục phải giúp cho sự “phát triển đầy đủ những năng lực sẵn có” của người học. Để giải phóng và phát triển tối đa năng lực của người học, đòi hỏi phải tôn trọng và phát huy “con người cá nhân”, cái tự do như Mác nói, cái bản lĩnh riêng, nhân cách chính mình, năng lực riêng có, chứ không phải là cá nhân chủ nghĩa. Đổi mới giáo dục cũng nên chú ý mặt “con người cá nhân” này. Tất nhiên, không chỉ có mặt đó, không để lệch từ cực này sang cực kia, mà cần chú ý đồng thời, song song cả hai mặt là “con người cá nhân” và “con người cộng đồng - xã hội”, con người của “tự do” và con người của “tất yếu”. Trên nền tảng cộng đồng mà phát triển cá nhân (cái tự do được bước sang từ vương quốc tất yếu, như cách nói của Ăngghen). Với động lực và trên cơ sở phát triển tối đa những cá nhân mà thúc đẩy phát triển cả cộng đồng. Lấy mối quan hệ với cộng đồng để xây dựng và làm thước đo đánh giá nhân cách cá nhân.

Năng lực là cái “tự nó”, “của chính nó”, là tư duy độc lập; phát triển là “tự phát triển”, không ai ban phát, không thể cho, không thể vay mượn được. Năng lực không phải được tạo ra nhờ người khác truyền thụ, mà sẽ phát triển trong quá trình tự học, nghiền ngẫm, tư duy. Người học phải được “bình đẳng”, được tham gia trao đổi, thảo luận, tranh luận, có chính kiến riêng của mình. Thực hiện giảng ít mà học nhiều, người thầy không chỉ truyền dạy những điều mình có, mà phải giảng dạy cái học sinh cần; không phải chủ yếu là người truyền thụ tất cả kiến thức cho người học, mà chỉ nên giới thiệu những giá trị cốt lõi, còn chủ yếu là gợi mở, giúp cách học, cách tiếp cận, cách phân tích và tổng hợp, giải quyết vấn đề, tức là nhằm phát triển năng lực. Thầy giáo không phải là người áp đặt tư duy mà là người luôn phát huy dân chủ, cùng học sinh trong quá trình đi tìm chân lý; là một nhà tâm lý giáo dục, luôn tác động vào để kích thích, phát triển những yếu tố bên trong, sự tự tin, độc lập và bản lĩnh, những yếu tố “tự nó” của người học. Với cách làm như vậy, công việc của người thầy càng khó hơn trước, đó là công việc của nhà khoa học, nhà văn hóa, vừa khoa học vừa nghệ thuật. Người thầy càng phải được tôn trọng, trước hết là quyền dân chủ và tự do trong học thuật (gắn với trách nhiệm xã hội); được vinh danh, trọng dụng và ưu đãi, tất nhiên là phải được đánh giá định kỳ và xếp hạng một cách khoa học để có chính sách thỏa đáng chứ không phải cào bằng, bình quân chủ nghĩa. Lấy học sinh làm trung tâm của công việc giáo dục, đào tạo là phương châm đúng, nhưng nếu từ đó mà xem nhẹ vai trò người thầy thì là sai lầm. Ai lấy học sinh làm trung tâm? Trước tiên phải là người thầy, thứ đến là nhà quản lý. Vấn đề giáo viên vẫn và càng phải là vấn đề then chốt.         

Đại học là học theo kiểu tư duy độc lập, trong môi trường có trao đổi thông tin, có phê phán, bình luận. Trình độ đại học trước tiên là trình độ tự học. Vì vậy, đại học càng phải theo cách học mới, không áp đặt một chiều. Và không chỉ đại học, mà phổ thông cũng phải có cách học mới, giúp cho các em tập tư duy độc lập, biết tư duy độc lập, đó là phát triển năng lực.           

Quá trình phát triển năng lực luôn gắn với quá trình hoạt động thực tiễn, tổ chức thực hiện công việc. Vì vậy, phương châm gắn học với hành, nhà trường với xã hội, thông qua công việc mà tiếp tục học sẽ có giá trị to lớn và lâu dài.           

Chất lượng giáo dục - đào tạo luôn là mục tiêu hàng đầu, là yêu cầu thường xuyên đối với quá trình phát triển và đổi mới giáo dục. Nền giáo dục nước ta sau 25 năm đổi mới đã có những thành tích rất đáng kể về quy mô, số lượng, mạng lưới; về cơ bản đã chuyển từ một nền giáo dục cho thiểu số người đi học thành một nền giáo dục đại chúng, phổ cập, cho mọi người. Trong quá trình phát triển đó, chất lượng nhìn chung còn thấp so với yêu cầu, so với khu vực, thế giới và so với công sức bỏ ra. Điều đó càng đòi hỏi đổi mới lần này phải tập trung cho vấn đề chất lượng, chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu. Phát triển nhân cách, năng lực là yêu cầu cao nhất của chất lượng, đó chính là thực chất của chất lượng. Bệnh thành tích luôn trái với yêu cầu chất lượng. Bằng cấp không thay thế cho chất lượng. Học với mục đích để thi, để có bằng cấp là phổ biến trước đây và hiện nay, đó là biểu hiện của bệnh hình thức, chưa phải thực học. Cần kết hợp việc thi với kiểm tra, đánh giá thường xuyên trong suốt quá trình đào tạo để thúc đẩy việc học.        

2.Cần tổ chức một nền giáo dục như thế nào? Trước tiên phải xuất phát từ yêu cầu phát triển nhân cách, năng lực người học, tiếp đến là đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực cho xã hội mà tổ chức nền giáo dục.          

Ngày nay, thế giới biến đổi với tốc độ rất nhanh, điều kiện và công việc hết sức đa dạng. Để sống và làm việc trong môi trường như vậy thì không phải học một lần là xong, mà đòi hỏi phải bổ sung kiến thức liên tục, phát triển năng lực thường xuyên, suốt đời. Đó là yêu cầu khách quan phải tổ chức một nền giáo dục mở, thực học, hạn chế tối đa những biểu hiện hư học, bệnh hình thức, chuyển từ học một lần sang học suốt đời, không chỉ học ở trong trường mà ở mọi lúc, mọi nơi, ra trường rồi vẫn tiếp tục “học nữa, học mãi” như V.I.Lênin nói.  

Theo lý thuyết hệ thống, một hệ thống đóng, khép kín sẽ bị thoái hóa. Cần có một hệ thống mở để trao đổi thông tin liên tục với cuộc sống của thế giới chung quanh, để có sức sống, không ngừng hoàn thiện. Tổ chức của hệ thống giáo dục truyền thống thường bị “đóng khung” trong các khái niệm “cứng” về trường, lớp, chương trình, nội dung, thời gian học... Nay đổi mới sẽ là một nền giáo dục “mở”, thuận tiện cho việc học tập suốt đời, với khái niệm không gian trường lớp “mở” và sự học không có điểm dừng; với chương trình và nội dung “mở”, có phần “cứng” bắt buộc và phần “mềm” tự chọn ngày một mở rộng hơn; với thời gian học có thể ngắn hơn (nếu giỏi) hoặc dài hơn (nếu kém), có thể học liên tục và có thể học gián đoạn từng phần theo học phần, tín chỉ tùy theo hoàn cảnh mỗi người; với việc chuyển đổi nghề nghiệp, chuyển đổi cơ sở đào tạo và cấp bậc học một cách thuận tiện, liên thông; với cơ chế và phương pháp dân chủ đối với người học, giảng viên và tự chủ đối với cơ sở đào tạo; với sự đa dạng hóa các loại hình và phương thức đào tạo có chính quy và không chính quy, có tập trung, tại chức, có trực tiếp và từ xa, giáo dục thường xuyên và đào tạo liên tục; với sự đa dạng hóa về hình thức sở hữu (công lập, tư thục, dân lập và đa sở hữu). Trước đây đã có trường dân lập, sau đó nhiều nơi thực hiện cổ phần hóa để còn lại hai loại hình là công lập và tư thục. Thực chất của việc cổ phần hóa kiểu này là tư nhân hóa các trường dân lập, biến các trường không vì lợi nhuận thành các trường hoạt động vì lợi nhuận. Chính Mác đã dự báo rằng, sở hữu xã hội sẽ ngày càng phát triển và việc đó dẫn đến quy luật tất yếu tiến lên CNXH. Hình thức dân lập là một loại sở hữu xã hội, cần được khuyến khích.  

Trong nền giáo dục mở ấy, vòng đời của sách giáo khoa cũng sẽ ngắn lại, vì phải cập nhật nhanh kiến thức mới; sẽ phát triển các hình thức giáo dục “điện tử”, với việc sử dụng phổ biến và chủ yếu sách giáo khoa điện tử (phù hợp việc cập nhật nhanh kiến thức mới); với việc dạy và học từ xa, qua mạng và các phương tiện truyền thông; với hệ thống thư viện điện tử và các trung tâm cung cấp kiến thức qua mạng rất nhiều ưu thế về phổ biến kiến thức; với việc quản lý công khai, minh bạch thông tin, tạo điều kiện cho mọi người, cho xã hội tham gia giám sát và quản lý; công nghệ thông tin sẽ tham gia không chỉ truyền thụ kiến thức, đào tạo từ xa, mà còn tham gia công tác kiểm tra, thi cử, kiểm định...        

Một câu hỏi đặt ra là công nghệ thông tin có thay thế người thầy được không? Câu trả lời là: không thể và có thể! Các phần về xây dựng nội dung thông tin, phương pháp tiếp cận, truyền cảm, đặc biệt là nêu tấm gương về nhân cách thì công nghệ thông tin không thể thay thế được người thầy. Còn phần truyền thụ kiến thức, truyền bá thông tin thì công nghệ thông tin có nhiều ưu thế hơn thầy. Tất nhiên, muốn truyền thụ, truyền bá thì trước đó phải xây dựng nội dung thông tin - là công việc không thể thay thế của người thầy. Nhưng nếu có một người thầy giỏi cộng với công nghệ thông tin thì có thể thay thế cho nhiều người thầy không giỏi. Theo nghĩa đó, công nghệ thông tin tạo điều kiện cho nhiều học sinh, ở nhiều nơi, có thể cùng tiếp xúc với người thầy giỏi để học có chất lượng cao hơn và đồng đều hơn, tức là công nghệ thông tin cũng là “người thầy” để giúp học sinh có thể tự học mọi lúc, mọi nơi. Cần chủ động sử dụng lợi thế của công nghệ thông tin và cách tổ chức thông tin đi theo công nghệ ấy để đổi mới và phát triển giáo dục.        

Với nền giáo dục mở, học tập suốt đời, việc rút ngắn (hợp lý) thời gian ngồi trên ghế nhà trường để sớm ra làm việc, qua thực tiễn mà tiếp tục việc học, cũng là cần thiết và có cơ sở khoa học. Chương trình phổ thông nước ta đang theo hệ 12 năm, đa số nước trên thế giới cũng theo hệ này, và có mấy chục nước theo hệ 11 năm. Việt Nam cần xem xét về việc có thể theo hệ 11 năm. Cách đây mấy chục năm Việt Nam cũng đã từng theo hệ 11 năm, hầu hết các nhà khoa học danh tiếng ngày nay trưởng thành từ hệ 11 năm ấy. Việt Nam quyết định chọn hệ 12 năm cũng như đa số nước trên thế giới là dựa vào cơ sở tâm sinh lý lứa tuổi 18. Tuy nhiên, ngày nay do xã hội thông tin và sự phát triển của đời sống vật chất mà tâm sinh lý lứa tuổi đã phát triển sớm hơn trước một vài năm. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, so với các nước phương Đông, chữ cái tiếng Việt hệ Latinh dễ học hơn. So với các nước phương Tây, tiếng Việt không biến dạng do không phải chia động từ và không biến đổi theo cách. Như vậy, so với phần lớn nước trên thế giới, tiếng Việt cho phép có thể rút bớt thời gian học phổ thông. Thời gian học đại học ở Việt Nam nhìn chung dài hơn các nước 1 năm, cần nghiên cứu để có thể rút bớt.

Để có thể tổ chức tốt việc liên thông trong đào tạo, đòi hỏi phải thống nhất về quản lý nhà nước, nền giáo dục quốc dân là một thể thống nhất, không bị chia cắt giữa các bộ phận và có những quy định chuẩn hóa. Hiện tại, giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề ở nước ta đã bị phân chia thành hai nhánh, nên thống nhất thành giáo dục nghề nghiệp. Đào tạo đại học và nghiên cứu khoa học cũng do các đầu mối khác nhau phụ trách là vấn đề cần nghiên cứu để có giải pháp phù hợp. Giáo dục nghề nghiệp và đại học của nước ta đang có rất nhiều cơ quan nhà nước khác nhau làm chủ quản, cần được tổ chức lại theo hướng thống nhất về quản lý nhà nước, không còn chủ quản. Các cơ quan chủ quản hiện nay sẽ cử đại diện chủ sở hữu tham gia trong thường trực hội đồng trường. 

Trong nền giáo dục mở, cần có cách quản lý phù hợp. Không quản lý từng công việc cụ thể mà tập trung quản lý chất lượng. Coi trọng quản lý đầu ra hơn là quản lý đầu vào. Cần tách biệt quản lý nhà nước và quản lý sự nghiệp, chuyên môn. Quản lý nhà nước cần chuyển mạnh từ hành chính bao cấp, điều hành chỉ huy tập trung sang quản lý chất lượng, quản lý công việc bằng cơ chế mở, xóa bỏ cơ chế xin cho; tập trung cho công việc xây dựng và thực hiện chiến lược, xây dựng hành lang pháp lý, thực hiện thanh tra, giám sát, xây dựng và đảm bảo cho hoạt động của hệ thống kiểm định có hiệu quả. Sự thay đổi này đương nhiên là không dễ dàng, và điều đó cũng là dễ hiểu, nhưng phải quyết tâm thực hiện. 

Nhà trường là nơi trực tiếp tạo ra chất lượng, mà chất lượng là một sản phẩm nghệ thuật, đòi hỏi lao động phải có tính sáng tạo rất cao của những người làm giáo dục, vì vậy mà có yêu cầu khách quan việc tự chủ của cơ sở đào tạo. Và đương nhiên, sự tự chủ ấy phải được giám sát. Một mặt, phải có khung pháp lý chặt chẽ. Mặt khác, quyền tự chủ ấy không trao cho một cá nhân, dù đó là hiệu trưởng, mà là trao cho một tập thể, đó chính là hội đồng trường. Hội đồng trường phải là cơ quan quyền lực thật sự, không phải hình thức, đó là đại diện cao nhất của nhà trường, đồng thời là đại diện của cộng đồng. Trong thực tế không ít hiệu trưởng không thích có hội đồng trường, hoặc nếu có thì chỉ là hình thức, điều đó cũng là dễ hiểu. Nhưng, việc có hội đồng trường là một cơ chế quản lý khoa học, giống như một chiếc xe muốn vận hành tốt thì phải có cả tay lái, ga và phanh để có thể tự điều chỉnh. Đúng ra thì hội đồng trường có trước, rồi hội đồng mới chọn, mới thuê hiệu trưởng, sau đó trong quá trình vận hành khi xét thấy cần thiết thì hội đồng trường có thể thay đổi hiệu trưởng. Quyền tự chủ luôn gắn với trách nhiệm xã hội. Cơ sở đào tạo phải có trách nhiệm giải trình, công khai hóa mọi hoạt động đào tạo và tình hình tài chính để minh bạch thông tin, tạo điều kiện cho việc giám sát của mọi người, của xã hội. Quản trị nhà trường trên tinh thần dân chủ, thực hiện sự đánh giá từ dưới lên, phải tiến đến sinh viên được lựa chọn thầy, giảng viên và cán bộ công nhân viên đánh giá lãnh đạo nhà trường, cán bộ quản lý các trường đánh giá cán bộ quản lý nhà nước, cán bộ quản lý nhà nước cấp dưới đánh giá cán bộ quản lý nhà nước cấp trên...  

Cũng để nhằm thực hiện tốt cơ chế tự chủ và đảm bảo chất lượng giáo dục - đào tạo, cần có hệ thống kiểm định giáo dục và cơ chế thanh tra, giám sát của Nhà nước và của xã hội đủ mạnh và hiệu quả, có các tổ chức kiểm định độc lập và các quy định chuẩn hóa về đầu ra của học sinh tốt nghiệp, của cơ sở đào tạo, của từng loại nghề nghiệp. Kết quả kiểm định được công khai với cộng đồng, xã hội. Việc kiểm định độc lập và công khai kết quả kiểm định là một trong những đặc điểm của hệ thống mở.        

Việc phát triển các dịch vụ công về giáo dục - đào tạo ở khu vực giáo dục nghề nghiệp và đại học là cần thiết, cũng là sự thể hiện nền giáo dục mở, đồng thời là sự chủ động sử dụng những ưu thế của cơ chế thị trường để phát triển giáo dục: cạnh tranh nâng cao chất lượng, huy động nhiều nguồn lực của xã hội để đầu tư, bảo đảm bù đắp tương xứng sự hao phí sức lao động của người thầy và nhà quản lý giáo dục, bảo đảm hạch toán đúng để tái hoạt động công việc đào tạo. Đương nhiên là phải có giải pháp hạn chế tối đa các mặt trái của cơ chế thị trường luôn nhằm mục đích lợi nhuận bất chấp hậu quả xã hội, biến giáo dục thành ngành thương mại có lợi nhuận siêu ngạch, rời bỏ thiên chức cao đẹp của giáo dục.

Thực tế trên thế giới, những trường đại học chất lượng cao phần nhiều là trường ngoài công lập không vì lợi nhuận. Cần phân biệt loại trường không vì lợi nhuận và trường có chia lợi nhuận để có chính sách tài chính khác nhau. Trường vì lợi nhuận vẫn được động viên phát triển bình thường, nhưng trường không vì lợi nhuận mới là loại trường được khuyến khích nhất, ưu đãi nhất. Trường không vì lợi nhuận là trường khi có lợi nhuận sẽ không đem chia cho các cá nhân góp vốn, mà để tăng tích lũy phát triển trường, thành tài sản chung của xã hội. Trường không vì lợi nhuận dần dần tự nhiên, tự nó sẽ đi theo hướng trở thành trường dân lập, có sở hữu xã hội.

Nền giáo dục quốc dân nước ta còn phải tiếp tục phát triển về số lượng và đặc biệt là tập trung nâng cao chất lượng, coi trọng chất lượng hơn số lượng. Muốn vậy, phải được đầu tư mạnh hơn nữa về tài chính (và tất nhiên là phải quản lý hiệu quả hơn). Hiện nay, kinh phí đầu tư cho một học sinh ở ta còn thấp nhiều so với các nước có nền giáo dục phát triển, mặc dù ngân sách nhà nước đã rất cố gắng và không có khả năng tăng đầu tư cao cho giáo dục. Vì vậy, không có cách nào khác là phải dựa nhiều vào xã hội. Điều này liên quan đến vị trí của khu vực ngoài công lập và cơ chế huy động tài chính từ xã hội. Hiện tại, trong nền giáo dục của ta, vai trò của công lập bao trùm hầu hết, ngoài công lập nhìn chung còn ít và yếu. Hai khu vực này chưa bình đẳng về cơ chế tự chủ, về cơ hội tiếp cận nguồn tài chính, về địa vị pháp lý và địa vị xã hội của cơ sở đào tạo và người thầy giáo... Từ đó, cần có quan điểm phát triển hài hòa, bình đẳng và hỗ trợ lẫn nhau giữa công lập và ngoài công lập. Trong đó, khu vực phổ thông, công lập đóng vai trò chủ yếu; khu vực giáo dục nghề nghiệp và đại học, công lập tập trung cho một số cơ sở đào tạo trên tinh thần giao quyền tự chủ đầy đủ cho các cơ sở ấy, còn lại phần lớn là do khu vực ngoài công lập đảm nhận (tất nhiên là sẽ dần dần tiến đến chứ không phải ngay lúc này). Một số nhà nghiên cứu cho rằng, công lập và ngoài công lập cần phải song hành, cân bằng như hai cánh của một con hải âu thì mới bay cao, bay xa được.           

Đối với người học thuộc diện được Nhà nước ưu tiên (như con thương binh, liệt sỹ, nhà nghèo, học sinh giỏi...), việc phân bổ ngân sách cho công tác đào tạo nghề nghiệp và đại học cần đổi mới theo hướng không phân bổ theo trường, mà các sinh viên đó học ở trường nào thì chuyển tài chính về trường ấy, bất kể công lập hay ngoài công lập. Việc phân bổ ngân sách cho xây dựng cơ bản thực hiện trên cơ sở kết quả đầu ra và phải tính khấu hao cơ bản cho đầy đủ, trích nộp vào quỹ phát triển giáo dục của quốc gia. Khu vực giáo dục nghề nghiệp và cao đẳng, đại học thực hiện hạch toán chi phí, bảo đảm thu đúng, thu đủ chi phí đầu tư để tái hoạt động đào tạo, song song với thực hiện chính sách trợ giúp học phí cho các đối tượng chính sách và học sinh nghèo khó.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 10-2012

 

Vũ Ngọc Hoàng

Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban thường trực

Ban Tuyên giáo Trung ương

Các bài viết khác