Xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hóa số ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.3968
Tóm tắt: Xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hóa số có vai trò quan trọng và là yêu cầu cấp thiết để Việt Nam bắt kịp xu thế toàn cầu, bảo vệ giá trị văn hóa dân tộc và phát triển bền vững trong kỷ nguyên số. Bài viết làm rõ vai trò, ý nghĩa, những thành tựu và hạn chế trong xây dựng thể chế văn hóa số, từ đó đề xuất các kiến nghị với Đảng, Nhà nước nhằm xây dựng, hoàn thiện thể chế văn hóa số ở Việt Nam hiện nay.
PGS, TS NGUYỄN DUY BẮC
Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

1. Mở đầu
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của dữ liệu lớn (Big Data), kết nối vạn vật, trí tuệ nhân tạo (AI), blockchain,... không chỉ thúc đẩy hoạt động chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số, mà còn có tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến lĩnh vực văn hóa, con người, làm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi, lối sống của con người, từ đó hình thành nên văn hóa số. Do đó, trong bối cảnh mới hiện nay, việc xây dựng, kiến tạo và lan tỏa văn hóa số, mà trước hết là thể chế văn hóa số là một nhiệm vụ quan trọng của sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Thể chế văn hóa số theo nghĩa rộng là tổng thể các quy tắc, cấu trúc, thiết chế và hành vi chi phối hoạt động văn hóa trong môi trường số. Khái niệm này không chỉ bao gồm các quy định chính thức như pháp luật, chính sách, chiến lược quốc gia về chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa, mà còn bao gồm cả các quy định phi chính thức như chuẩn mực xã hội, tập quán, thói quen tiêu dùng văn hóa trên nền tảng số. Trong thể chế văn hóa số, các chủ thể như cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp công nghệ, nghệ sĩ, cộng đồng sáng tạo và người dùng đều có vai trò tương tác qua lại, cùng kiến tạo không gian văn hóa số. Ngoài ra, hạ tầng công nghệ - bao gồm các nền tảng số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, và các công cụ số hóa - cũng là thành phần quan trọng tạo nên nền tảng vận hành cho thể chế này. Với tính chất mở, linh hoạt và phi biên giới, thể chế văn hóa số đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc, đồng thời thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế về văn hóa trong thời đại chuyển đổi số toàn cầu.
2. Nội dung
2.1. Vai trò
Việc xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hóa số là yêu cầu cấp thiết để Việt Nam bắt kịp xu thế toàn cầu, định hướng, điều tiết nền văn hóa số phát triển lành mạnh, mở rộng tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, bảo vệ và phát huy, phát triển giá trị văn hóa dân tộc, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế cũng như bảo đảm quyền và lợi ích chân chính của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân trong các hoạt động văn hóa trên nền tảng công nghệ, kỹ thuật số, tạo lập môi trường thuận lợi để phát triển các sản phẩm và dịch vụ văn hóa số.
Một là, xây dựng, hoàn thiện thể chế văn hóa số nhằm thích ứng với bối cảnh mới của đất nước
Chuyển đổi số, chuyển đổi AI làm thay đổi sâu sắc cách con người sáng tạo, truyền bá và tiếp nhận, thụ hưởng văn hóa. Không gian mạng đã trở thành môi trường quan trọng để bảo tồn, phát huy và đổi mới các giá trị văn hóa, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức về quản lý và kiểm soát nội dung. Nếu không có thể chế phù hợp, văn hóa số có thể bị chi phối bởi các yếu tố tiêu cực như thông tin sai lệch, tin giả, nội dung độc hại, làm xói mòn bản sắc văn hóa dân tộc và nền tảng tư tưởng văn hóa của Đảng.
Thể chế văn hóa số giúp bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong môi trường số, ngăn chặn sự mai một trước sự du nhập mạnh mẽ của các nền văn hóa ngoại lai. Cơ chế pháp lý rõ ràng về quản lý và bảo vệ di sản số, quyền sở hữu trí tuệ và nội dung số giúp duy trì giá trị văn hóa Việt Nam trong không gian mạng. Thể chế này tạo nền tảng cho phát triển kinh tế văn hóa, giúp các ngành công nghiệp sáng tạo tận dụng công nghệ để mở rộng thị trường, đổi mới mô hình kinh doanh và nâng cao sức cạnh tranh quốc tế. Việc hoàn thiện thể chế văn hóa số góp phần nâng cao nhận thức, giáo dục và truyền thông văn hóa trong xã hội, giúp cộng đồng thích nghi với sự thay đổi, phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.
Hai là, xây dựng, hoàn thiện thể chế văn hóa số nhằm nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa
Xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hóa số đóng vai trò quan trọng trong nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, giúp thích ứng với xu thế chuyển đổi số và sự phát triển của công nghệ. Thể chế văn hóa số tạo ra khung pháp lý rõ ràng, giúp quản lý, bảo vệ và phát triển các giá trị văn hóa trong môi trường số. Điều này giúp hạn chế vi phạm bản quyền, thông tin xấu độc và bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc trước sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa ngoại lai. Việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý văn hóa giúp nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát và phổ biến các chính sách văn hóa. Cơ sở dữ liệu số về di sản, nghệ thuật, lễ hội... giúp Nhà nước có cái nhìn toàn diện để hoạch định chính sách phù hợp. Thể chế văn hóa số còn tạo điều kiện thúc đẩy sáng tạo, hỗ trợ nghệ sĩ, doanh nghiệp văn hóa tiếp cận thị trường số, phát triển kinh tế văn hóa bền vững. Việc xây dựng, hoàn thiện thể chế văn hóa số góp phần khắc phục những khoảng trống pháp lý về lĩnh vực này, đồng thời, đây cũng chính là một trong những hành động thiết thực để thực hiện đột phá chiến lược hoàn thiện thể chế phát triển ở Việt Nam.
Ba là, xây dựng, hoàn thiện thể chế văn hóa số để phát triển nền văn hóa dân tộc trong bối cảnh mới
Trong kỷ nguyên số, xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hóa số là yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển văn hóa và con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu đổi mới, hội nhập và phát triển bền vững. Thể chế văn hóa số tạo ra hành lang pháp lý vững chắc để bảo vệ, phát huy giá trị văn hóa Việt Nam trong môi trường số. Điều này giúp gìn giữ bản sắc dân tộc, chống lại sự xâm lấn của các trào lưu văn hóa ngoại lai không phù hợp. Việc số hóa di sản, tài nguyên văn hóa không chỉ giúp bảo tồn mà còn tạo điều kiện để quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới, nâng cao vị thế đất nước. Bên cạnh đó, thể chế văn hóa số cũng đóng vai trò quan trọng trong phát triển con người, nâng cao nhận thức và tri thức xã hội. Thông qua các nền tảng số, việc tiếp cận tri thức, giáo dục văn hóa trở nên dễ dàng hơn, giúp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có tư duy đổi mới và bản lĩnh hội nhập quốc tế. Thể chế văn hóa số sẽ góp phần thúc đẩy kinh tế sáng tạo, hỗ trợ các ngành công nghiệp văn hóa phát triển mạnh mẽ. Môi trường pháp lý rõ ràng giúp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, tạo điều kiện cho nghệ sĩ, nhà sáng tạo nội dung khai thác giá trị từ sản phẩm văn hóa số, qua đó đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Việc xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hóa số không chỉ giúp bảo vệ, phát huy giá trị văn hóa mà còn góp phần hình thành lớp công dân số có tri thức, công nghệ, kỹ thuật từ đó thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số vì sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
2.2. Thực trạng
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm định hướng và phát triển văn hóa số, xây dựng thể chế văn hóa số. Đồng chí Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã yêu cầu: “Xây dựng môi trường văn hóa số phù hợp với nền kinh tế số, xã hội số và công dân số, làm cho văn hóa thích nghi, điều tiết sự phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”(1). Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị(2) yêu cầu đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số toàn diện, đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống, trong đó có lĩnh vực văn hóa. Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng xác định: “Xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (...) bảo đảm phát triển văn hóa ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội, để văn hóa thực sự là nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực to lớn, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước; xây dựng và thực hiện đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới (...) Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên nền tảng số (...) Chủ động, tích cực hợp tác, quảng bá hình ảnh đất nước, giá trị văn hóa và con người Việt Nam ra thế giới. Phát triển mạnh công nghiệp văn hóa, dịch vụ văn hóa đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu hưởng thụ văn hóa của Nhân dân (...) Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước về văn hóa. Đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng và quản lý tốt môi trường văn hóa; phát triển và quản lý có hiệu quả thị trường sản phẩm, dịch vụ văn hóa số”(3). Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03-6-2020 Phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 942/ QĐ-TTg ngày 15-6-2021 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 2026/QĐ-TTg ngày 2-12-2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030; Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14-11-2025 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội ban hành kèm theo Quyết định 874/QĐ-BTTTT ngày 17-6-2021...
Như vậy, trong những năm gần đây, thể chế hóa các chủ trương của Đảng, Chính phủ đã quan tâm đến văn hóa số và đã ban hành một số chính sách cụ thể để thúc đẩy sự phát triển của văn hóa số. Các chính sách này đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sáng tạo nội dung số, tạo động lực phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, tăng cường khả năng tiếp cận di sản văn hóa thông qua công nghệ, đồng thời góp phần xây dựng môi trường số lành mạnh, văn minh. Việc số hóa hàng ngàn hiện vật, tài liệu và di tích đã góp phần quan trọng trong việc bảo tồn và lan tỏa giá trị văn hóa truyền thống. Bên cạnh đó, sự phát triển của chính phủ điện tử và các dịch vụ công trực tuyến cũng đã nâng cao hiệu quả quản lý văn hóa. Có thể nói, các chính sách tạo ra khung thể chế ban đầu cho văn hóa số, từng bước chuyển dịch từ quản lý truyền thống sang mô hình số hóa, hiện đại, minh bạch và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả bước đầu, việc xây dựng thể chế văn hóa số vẫn còn không ít hạn chế, thách thức.
Thứ nhất, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ
Một trong những hạn chế lớn nhất của thể chế văn hóa số ở Việt Nam là hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện và thiếu đồng bộ. Hiện nay, việc quản lý nội dung văn hóa số vẫn dựa trên các quy định pháp luật truyền thống, chưa thực sự theo kịp sự phát triển nhanh chóng của công nghệ. Các văn bản pháp luật liên quan đến quyền tác giả, sở hữu trí tuệ trong môi trường số, kiểm duyệt nội dung số hay bảo vệ dữ liệu cá nhân chưa được cập nhật đầy đủ, dẫn đến khó khăn trong thực thi.
Ngoài ra, nhiều quy định pháp luật còn chồng chéo, thiếu sự nhất quán giữa các cơ quan quản lý. Ví dụ, lĩnh vực xuất bản điện tử, phát hành nội dung số đang chịu sự quản lý của nhiều bộ ngành: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công an, dẫn đến tình trạng thiếu thống nhất trong việc cấp phép, giám sát và xử lý vi phạm.
Thứ hai, chưa có chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp văn hóa số
Dù công nghiệp văn hóa số được xem là động lực quan trọng để phát triển kinh tế sáng tạo, nhưng Việt Nam vẫn chưa có những chính sách cụ thể để hỗ trợ lĩnh vực này. Các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp nội dung số như game, phim, âm nhạc trực tuyến, xuất bản điện tử chưa nhận được nhiều ưu đãi về thuế, vốn hay đào tạo nhân lực.
Bên cạnh đó, các quỹ đầu tư, chính sách hỗ trợ khởi nghiệp trong lĩnh vực văn hóa số còn hạn chế, khiến các doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn để mở rộng quy mô và cạnh tranh với các nền tảng quốc tế. Điều này dẫn đến thực trạng các sản phẩm văn hóa số Việt Nam khó tạo được dấu ấn và thường bị lấn át bởi các nội dung ngoại nhập trên không gian mạng.
Thứ ba, quản lý nội dung số còn nhiều bất cập
Một vấn đề nổi cộm khác của thể chế văn hóa số ở Việt Nam là sự bất cập trong quản lý nội dung số. Dù đã có nhiều nỗ lực trong việc kiểm soát thông tin xấu độc, nội dung vi phạm thuần phong mỹ tục trên các nền tảng số, nhưng cơ chế thực thi vẫn còn nhiều hạn chế. Các nền tảng xuyên biên giới như YouTube, Facebook, TikTok đang nắm giữ phần lớn thị phần nội dung số tại Việt Nam, nhưng cơ chế kiểm duyệt, xử lý vi phạm đối với các nền tảng này chưa thực sự hiệu quả. Nhiều nội dung độc hại, phản cảm vẫn xuất hiện tràn lan, gây ảnh hưởng tiêu cực đến văn hóa, lối sống của giới trẻ. Việc kiểm duyệt nội dung số đôi khi còn chậm trễ hoặc chưa có cơ chế xử lý linh hoạt, dẫn đến tình trạng kiểm soát quá chặt một số nội dung sáng tạo nhưng lại chưa đủ mạnh với các nội dung vi phạm nghiêm trọng.
Thứ tư, thiếu cơ sở hạ tầng số hỗ trợ văn hóa số
Hạ tầng công nghệ đóng vai trò quan trọng trong phát triển văn hóa số, nhưng ở Việt Nam, hệ thống cơ sở dữ liệu về di sản, nghệ thuật, tài nguyên văn hóa chưa được xây dựng đồng bộ. Việc số hóa các tư liệu văn hóa vẫn còn chậm, phân tán và thiếu kết nối giữa các đơn vị quản lý. Ngoài ra, các nền tảng công nghệ nội địa phục vụ cho việc quảng bá, phân phối nội dung văn hóa số còn hạn chế. Việt Nam chưa có nhiều nền tảng nội dung số có sức cạnh tranh với các ứng dụng toàn cầu, khiến phần lớn nội dung văn hóa số phải phụ thuộc vào các nền tảng nước ngoài, dẫn đến nguy cơ thất thoát dữ liệu, khó bảo vệ bản quyền và khó kiểm soát nội dung.
Thứ năm, nhân lực cho lĩnh vực văn hóa số còn hạn chế
Một trong những rào cản lớn đối với sự phát triển của văn hóa số tại Việt Nam là sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao. Đội ngũ làm việc trong lĩnh vực văn hóa số, từ sáng tạo nội dung, kỹ thuật số hóa đến phân phối sản phẩm, còn thiếu cả về số lượng lẫn chất lượng. Ngành giáo dục và đào tạo chưa có nhiều chương trình chuyên sâu về văn hóa số, dẫn đến việc đào tạo nhân lực chưa theo kịp nhu cầu thực tiễn. Các nghệ sĩ, nhà sáng tạo nội dung chưa được trang bị đầy đủ kiến thức về quyền sở hữu trí tuệ, luật pháp trong môi trường số, khiến họ gặp khó khăn trong việc bảo vệ sản phẩm sáng tạo của mình.
Thứ sáu, nhận thức của cộng đồng về văn hóa số chưa cao
Dù Việt Nam có tỷ lệ người sử dụng internet cao, nhưng nhận thức của cộng đồng về văn hóa số vẫn còn hạn chế. Nhiều người dùng chưa có thói quen tiêu dùng nội dung số có bản quyền, dẫn đến tình trạng vi phạm bản quyền tràn lan. Theo báo cáo của Liên minh Sáng tạo và Giải trí (ACE), năm 2023, Việt Nam nằm trong nhóm 10 quốc gia có tỷ lệ vi phạm bản quyền nội dung số cao nhất thế giới. Bên cạnh đó, xu hướng chạy theo nội dung giật gân, câu view trên mạng xã hội đang khiến hệ sinh thái nội dung số trở nên hỗn loạn, thiếu tính định hướng văn hóa. Một tỷ lệ lớn người dân chưa có kỹ năng tiếp cận và sử dụng văn hóa số một cách hiệu quả. Theo báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông, chỉ khoảng 40% người dân có kỹ năng số cơ bản để sử dụng các nền tảng văn hóa số an toàn và hiệu quả.
Để khắc phục những hạn chế này, cần đẩy mạnh việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về văn hóa số, xây dựng các chính sách hỗ trợ công nghiệp văn hóa số, đầu tư vào hạ tầng công nghệ và nâng cao nhận thức cộng đồng về văn hóa số. Chỉ khi có một thể chế văn hóa số vững chắc, Việt Nam mới có thể phát huy tối đa tiềm năng văn hóa trong kỷ nguyên số, góp phần phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Các cơ quan lãnh đạo, quản lý từ Trung ương đến địa phương, cơ sở cần có những giải pháp tổng thể, đồng bộ, nhằm xây dựng một thể chế văn hóa số vững chắc, tạo điều kiện cho Việt Nam thích ứng với xu hướng toàn cầu hóa và phát triển bền vững trong thời đại số.
2.3. Kiến nghị
Xin đề xuất một số kiến nghị cụ thể để xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hóa số như sau:
Kiến nghị với Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra nhanh chóng và sâu rộng, các giá trị nền tảng định hướng phát triển con người và văn hóa Việt Nam cần được hoàn thiện, ban hành để phù hợp với yêu cầu của thời đại. Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV đã xác định: Xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với các giá trị cơ bản: Dân tộc, dân chủ, nhân văn và khoa học trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đây là những giá trị có tính tổng quát, điều chỉnh, đồng thời vẫn cần được nghiên cứu, bổ sung một số yếu tố phản ánh đặc trưng của xã hội số, kinh tế số, văn hóa số, chính phủ số.
Đối với chuẩn mực con người Việt Nam, cần bổ sung chuẩn mực “minh bạch”. Trong môi trường số, nơi thông tin lan truyền nhanh và hành vi có thể bị ẩn danh, minh bạch là chuẩn mực cần thiết để củng cố lòng tin, trách nhiệm và đạo đức xã hội, nhất là trong hoạt động công vụ, kinh tế, truyền thông và tương tác cộng đồng.
Về giá trị văn hóa Việt Nam, cần bổ sung giá trị “hội nhập” - một giá trị phản ánh đầy đủ tinh thần mở, khả năng tiếp thu có chọn lọc và tương tác văn hóa toàn cầu thông qua nền tảng số, đồng thời vẫn giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc. Giá trị này vừa kế thừa tinh thần của thời kỳ đổi mới, vừa thích ứng với đặc điểm xuyên biên giới của không gian mạng và môi trường văn hóa số.
Đối với giá trị gia đình Việt Nam, kiến nghị bổ sung giá trị “an toàn”, nhằm nhấn mạnh vai trò của gia đình trong việc bảo vệ các thành viên, đặc biệt là trẻ em, trước các nguy cơ từ môi trường số; đồng thời thể hiện yêu cầu mới trong việc nuôi dưỡng môi trường sống lành mạnh cả về thể chất, tinh thần và không gian mạng.
Kiến nghị đối với Quốc hội
Một trong những ưu tiên hàng đầu là xây dựng, bổ sung và hoàn thiện khung pháp lý nhằm điều chỉnh các hoạt động văn hóa số một cách hiệu quả, phù hợp với thực tiễn và xu hướng phát triển.
Quốc hội nghiên cứu xây dựng và ban hành Luật Văn hóa số. Hiện nay, các quy định liên quan đến văn hóa số vẫn đang nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, gây khó khăn trong quản lý và thực thi. Việc xây dựng một bộ luật riêng về văn hóa số sẽ giúp thống nhất các quy định, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho quản lý và phát triển lĩnh vực này.
Quốc hội cùng các cơ quan hữu quan nghiên cứu, rà soát, điều chỉnh các văn bản pháp luật liên quan để bảo đảm sự đồng bộ giữa Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Báo chí, Luật Điện ảnh, Luật Viễn thông và các quy định về giao dịch số.
Hoàn thiện quy định về sở hữu trí tuệ và bản quyền trong môi trường số: Cần có các cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho các sản phẩm văn hóa số, đồng thời có chế tài mạnh mẽ để xử lý vi phạm bản quyền, hạn chế tình trạng sao chép, phát tán nội dung trái phép trên không gian mạng.
Kiến nghị với Chính phủ
Chính phủ ban hành chính sách thúc đẩy văn hóa số
Đưa nội dung phát triển văn hóa số vào Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm sự phát triển đồng bộ giữa kinh tế số, xã hội số và văn hóa số.
Xây dựng và ban hành Chiến lược chuyển đổi số quốc gia trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, xuất bản và truyền thông.
Xây dựng và ban hành chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp văn hóa số. Công nghiệp văn hóa số là một trong những trụ cột quan trọng của nền kinh tế sáng tạo, vì vậy, Chính phủ cần có các chính sách hỗ trợ để thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực này. Thứ nhất, ưu đãi thuế, vốn vay và quỹ đầu tư. Nhà nước cần có các chính sách ưu đãi về thuế và hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực văn hóa số, đặc biệt là các công ty khởi nghiệp trong ngành công nghiệp sáng tạo. Việc thành lập quỹ đầu tư sáng tạo văn hóa số sẽ giúp các doanh nghiệp tiếp cận nguồn tài chính để phát triển sản phẩm và mở rộng thị trường. Thứ hai, khuyến khích phát triển doanh nghiệp nội dung số. Cần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nội địa phát triển các nền tảng nội dung số để giảm sự phụ thuộc vào các nền tảng nước ngoài, đồng thời thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm văn hóa số ra thế giới. Thứ ba, hỗ trợ nghiên cứu, sáng tạo sản phẩm văn hóa số. Chính phủ có thể tài trợ hoặc hỗ trợ doanh nghiệp, nghệ sĩ, nhà sáng tạo trong việc nghiên cứu, phát triển sản phẩm văn hóa số, từ game, phim, âm nhạc, xuất bản điện tử đến các hình thức nghệ thuật số khác. Xây dựng các trung tâm nghiên cứu và đổi mới sáng tạo về văn hóa số. Thúc đẩy phát triển mạng 5G, điện toán đám mây, trung tâm dữ liệu quốc gia để bảo đảm hạ tầng phục vụ cho việc phổ biến văn hóa số trên phạm vi rộng. Thứ tư, bảo đảm an toàn thông tin và quyền sở hữu trí tuệ trong môi trường số. Phát triển công nghệ bảo vệ bản quyền số, giúp các nghệ sĩ và nhà sáng tạo nội dung bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng. Xây dựng các tiêu chuẩn về bảo mật, an toàn thông tin trong lĩnh vực văn hóa số, bảo đảm môi trường sáng tạo lành mạnh.
Chính phủ chỉ đạo các bộ hoàn thiện thể chế văn hóa số
Chính phủ chỉ đạo Bộ Khoa học và Công nghệ hoàn thiện công tác quản lý nội dung số
Quản lý nội dung số là một thách thức lớn, đòi hỏi các biện pháp linh hoạt, hiệu quả để bảo đảm không gian văn hóa số lành mạnh. Bộ Khoa học và Công nghệ nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chuẩn về nội dung số: Cần ban hành các tiêu chuẩn rõ ràng về nội dung văn hóa số, giúp các nhà sáng tạo và doanh nghiệp có định hướng trong sản xuất nội dung, tránh vi phạm các quy định về đạo đức, thuần phong mỹ tục. Tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong kiểm soát nội dung. Ứng dụng công nghệ blockchain, AI trong bảo vệ bản quyền số và xác thực nguồn gốc của các sản phẩm nội dung số. AI có thể giúp quét, phân tích và phát hiện các nội dung vi phạm nhanh chóng, giảm tải công việc cho các cơ quan quản lý. Thắt chặt trách nhiệm của các nền tảng số. Các nền tảng mạng xã hội, dịch vụ phát trực tuyến phải chịu trách nhiệm trong việc kiểm soát nội dung, có cơ chế phản hồi nhanh khi có yêu cầu từ cơ quan quản lý nhà nước. Tăng cường cơ chế quản lý nền tảng số xuyên biên giới. Việt Nam cần có các biện pháp quản lý hiệu quả đối với các nền tảng như YouTube, Facebook, TikTok để bảo đảm nội dung phù hợp với thuần phong mỹ tục, bảo vệ quyền lợi của người sáng tạo trong nước.
Chính phủ chỉ đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Khoa học và Công nghệ về việc đầu tư phát triển hạ tầng công nghệ cho văn hóa số và nâng cao nhận thức của xã hội về văn hóa số
Thứ nhất, cơ sở hạ tầng công nghệ là yếu tố nền tảng giúp văn hóa số phát triển mạnh mẽ. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng cơ sở dữ liệu số về di sản và văn hóa Việt Nam. Xây dựng hệ thống lưu trữ và quản lý dữ liệu văn hóa số quốc gia, hỗ trợ công tác bảo tồn, nghiên cứu và phát triển công nghiệp văn hóa số. Cần đẩy nhanh quá trình số hóa di sản văn hóa, tài nguyên văn hóa để bảo tồn và quảng bá rộng rãi trên môi trường số. Nhà nước và doanh nghiệp cần đầu tư vào phát triển các nền tảng nội dung số do Việt Nam sở hữu, giúp giảm sự phụ thuộc vào các nền tảng nước ngoài và tạo điều kiện cho sản phẩm văn hóa Việt Nam tiếp cận rộng rãi hơn với khán giả trong nước và quốc tế. Để bảo đảm sự bình đẳng trong tiếp cận văn hóa số, cần đẩy mạnh đầu tư vào hạ tầng viễn thông và công nghệ thông tin, bảo đảm vùng phủ sóng Internet tốc độ cao tại các khu vực nông thôn, miền núi. Cần ban hành chính sách giúp người dân (đặc biệt là người dân vùng nông thôn, biên giới, miền núi, hải đảo) tiếp cận được các sản phẩm văn hóa số một cách dễ dàng. Đẩy mạnh xây dựng các thiết chế văn hóa số như bảo tàng số, thư viện số,...
Thứ hai, nhận thức của cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một hệ sinh thái văn hóa số lành mạnh. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, các cơ quan thông tấn, báo chí đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về văn hóa số: Các chiến dịch truyền thông cần được triển khai nhằm nâng cao nhận thức của người dân về giá trị của văn hóa số, quyền sở hữu trí tuệ và trách nhiệm khi tham gia không gian mạng. Xây dựng thói quen tiêu dùng nội dung số có bản quyền. Nhà nước cần có chính sách thúc đẩy việc sử dụng các nền tảng nội dung có bản quyền, hạn chế tình trạng vi phạm bản quyền tràn lan.
Tổ chức các lớp bồi dưỡng kỹ năng số cho nghệ sĩ và nhà sáng tạo nội dung. Cần tổ chức các khóa đào tạo, hội thảo giúp nghệ sĩ, nhà sáng tạo nội dung hiểu rõ hơn về công nghệ số, quyền sở hữu trí tuệ, quản lý nội dung số để họ có thể khai thác tốt hơn tiềm năng của văn hóa số. Khuyến khích hợp tác quốc tế trong đào tạo về văn hóa số. Chủ động hợp tác với các nước có nền công nghiệp văn hóa số phát triển như Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ để học hỏi kinh nghiệm và nâng cao trình độ nguồn nhân lực.
Chính phủ chỉ đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc phát triển nguồn nhân lực văn hóa số
Để đáp ứng nhu cầu phát triển văn hóa số, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần thực hiện các giải pháp đồng bộ nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng sáng tạo và thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ. Cần đổi mới chương trình đào tạo theo hướng xây dựng và cập nhật chương trình đào tạo chuyên sâu về công nghiệp văn hóa số, bao gồm các lĩnh vực như thiết kế nội dung số, truyền thông số, sản xuất phim, game, âm nhạc trực tuyến và xuất bản điện tử. Tích hợp kiến thức về trí tuệ nhân tạo, blockchain, thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR) vào giảng dạy để sinh viên làm chủ công nghệ trong sáng tạo nội dung số. Đồng thời, cần tập trung triển khai hiệu quả mô hình kết nối giữa nhà trường với doanh nghiệp. Nhà trường hợp tác với các doanh nghiệp công nghệ, công ty truyền thông, giải trí để xây dựng chương trình đào tạo thực tiễn, gắn kết giữa lý thuyết và thực hành. Có thể mời chuyên gia trong và ngoài nước giảng dạy, hướng dẫn sinh viên thông qua hội thảo, chương trình cố vấn, thực tập.
Cải tiến chương trình giáo dục đào tạo các cấp theo hướng phát triển kỹ năng số toàn diện. Đối với bậc đại học: Đào tạo kỹ năng về sở hữu trí tuệ, bảo vệ bản quyền trong môi trường số để giúp sinh viên hiểu và tuân thủ các quy định pháp lý khi sáng tạo nội dung. Khuyến khích tinh thần khởi nghiệp trong lĩnh vực văn hóa số thông qua các cuộc thi, chương trình ươm tạo startup sáng tạo. Đối với bậc giáo dục phổ thông: Tích hợp giáo dục văn hóa số vào chương trình học phổ thông, giúp học sinh sớm tiếp cận với công nghệ, hiểu rõ về sáng tạo nội dung số và cách sử dụng không gian mạng một cách an toàn, hiệu quả.
Bằng cách thực hiện các giải pháp trên, Bộ Giáo dục và Đào tạo có thể góp phần tạo ra một thế hệ nhân lực có tư duy sáng tạo, năng lực công nghệ và khả năng hội nhập trong nền kinh tế văn hóa số.
Chính phủ chỉ đạo các địa phương thúc đẩy phát triển văn hóa số
Trước hết, các địa phương cần thúc đẩy phong trào bình dân học vụ số, tạo điều kiện thuận lợi để người dân tiếp cận công nghệ số. Đây là cơ sở quan trọng để phát triển văn hóa số. Trên cơ sở các chiến lược, chính sách của Trung ương, các địa phương triển khai thực hiện chuyển đổi số trong quản lý, phát triển văn hóa. Bên cạnh đó, cần dựa trên những điều kiện cụ thể của từng địa phương để ban hành chính sách ưu đãi, khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân phát triển văn hóa số.
3. Kết luận
Xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hóa số đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng. Bằng cách hoàn thiện khung pháp lý, hỗ trợ công nghiệp văn hóa số, nâng cấp hạ tầng công nghệ, đào tạo nhân lực và nâng cao nhận thức xã hội, Việt Nam có thể phát triển một nền văn hóa số bền vững, xây dựng nền văn hóa Việt Nam hiện đại, hội nhập, giàu bản sắc và thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số và sự phát triển chung của đất nước trong kỷ nguyên số. Việc xây dựng, hoàn thiện thể chế văn hóa số không chỉ khắc phục những mặt còn hạn chế, bất cập về quản lý, quản trị phát triển văn hóa mà còn là nhiệm vụ thiết thực góp phần thực hiện đột phá chiến lược hoàn thiện thể chế phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới.
_________________
Bài đăng trên số đặc biệt năm 2026 chào mừng Đại hội XIV của Đảng
Ngày nhận bài: 25-12-2025; Ngày bình duyệt: 31-12-2025; Ngày duyệt đăng: 05-01-2026.
Email tác giả: nguyenduybacvanhoa@gmail.com
(1) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.172.
(2) Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-quoc-gia-119241224180048642.htm.
(3) Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội XIV của Đảng, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-du-thao-bao-cao-chinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiii-tai-dai-hoi-xiv-cua-dang-119251015171703632.htm.