Giá trị lịch sử và lý luận của tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.8967
Tóm tắt: Tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (năm 1925) của là bản cáo trạng sử dụng những luận cứ và bằng chứng sinh động để vạch trần bản chất phản động, phi nhân tính của chủ nghĩa thực dân Pháp. Bài viết khẳng định giá trị lịch sử, thời đại của tác, đồng thời nhấn mạnh vai trò tiên phong của Nguyễn Ái Quốc trong định hướng chiến lược cho phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới.
PGS, TS MAI ĐỨC NGỌC
Học viện Báo chí và Tuyên truyền

1. Mở đầu
Xuất bản lần đầu cách đây hơn 100 năm (năm 1925), tại Pari - trung tâm chính trị của đế quốc Pháp, Bản án chế độ thực dân Pháp (Bản án) là bản cáo trạng sâu sắc, trực tiếp thách thức cái gọi là sứ mệnh khai hóa văn minh - một luận điểm chính trị dùng để biện minh cho việc xâm chiếm và cai trị các dân tộc thuộc địa của thực dân Pháp. Nguyễn Ái Quốc đã sử dụng chính tài liệu và chứng cứ từ hệ thống cai trị thực dân để “kết tội” kẻ thống trị trước “tòa án lương tri nhân loại”. Với sự sắc sảo trong lập luận, Bản án chế độ thực dân Pháp đã phơi bày sự thống khổ cùng cực của nhân dân thuộc địa. Điều đó khẳng định tầm vóc của tác phẩm trong lịch sử tư tưởng cách mạng, đặc biệt trong việc cụ thể hóa học thuyết của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa.
2. Nội dung
2.1. Hoàn cảnh ra đời và phương pháp luận tố cáo trong tác phẩm
Bản án ra đời - lời tuyên chiến từ trung tâm quyền lực tư sản
Sự ra đời của Bản án chế độ thực dân Pháp là kết quả của quá trình hoạt cách mạng quốc tế của Nguyễn Ái Quốc. Giai đoạn Người hoạt động tại Pháp (1917-1923) là thời kỳ thu thập tài liệu, nghiên cứu kỹ lưỡng về bản chất của chủ nghĩa đế quốc nói chung, trong đó có đế quốc thực dân Pháp, không chỉ qua sách báo mà còn từ các báo cáo hành chính, công văn nội bộ và các vụ án pháp lý. Việc lựa chọn Pari - trung tâm văn hóa, chính trị của đế quốc Pháp, thủ đô quốc gia đề cao các lý tưởng tự do, bình đẳng, bác ái làm nơi công bố tác phẩm có ý nghĩa chiến lược sâu sắc, nhằm tối đa hóa hiệu ứng chính trị và lý luận cách mạng.
Với thủ pháp trực tiếp thách thức các giá trị “tự do, bình đẳng, bác ái” mà bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1789 tuyên bố, vạch trần sự mâu thuẫn giữa lý tưởng cách mạng tư sản với hành động thực dân tại thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc buộc chính quyền Pháp phải đối diện với sự thật rằng, hành vi cai trị của chúng hoàn toàn đi ngược lại các nguyên tắc mà chính mình đưa ra.
Tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp hướng đến đối tượng là nhân dân lao động Pháp, đặc biệt là giai cấp vô sản, nhân dân cần lao ở các thuộc địa của Pháp. Bản án mô tả sự thống khổ của nhân dân các dân tộc thuộc địa do chính các nhà tư bản và quan chức Pháp gây ra, đã tạo sự đồng cảm và xây dựng mặt trận thống nhất của giai cấp vô sản tại chính quốc và các dân tộc bị áp bức tại thuộc địa; hiện thực hóa một trong những luận điểm cơ bản của V.I.Lênin về sự đoàn kết quốc tế.
Tác phẩm được trình bày dưới hình thức một bản cáo trạng với ngôn ngữ sắc bén, lý lẽ chặt chẽ và cơ sở tài liệu vững chắc. Điều này đã biến Bản án chế độ thực dân Pháp thành một vũ khí lý luận, khiến chính quyền thực dân Pháp khó có thể bác bỏ hay vu khống mà không tự làm lộ sự dối trá, thâm độc và đầy mâu thuẫn của mình.
Đặc trưng chính luận và thủ pháp phản đề mácxít
Bản án là một tác phẩm chính luận mẫu mực theo phong cách mácxít, kết hợp nhuần nhuyễn giữa sự nhiệt huyết cách mạng, tính chiến đấu cao và khách quan khoa học dựa trên phân tích các cấu trúc:
Thứ nhất, tính xác thực và phương pháp “lấy gậy ông đập lưng ông”
Đây là phương pháp nổi bật nhất, phản ánh sâu sắc về hệ thống chính quyền thực dân, từ sự bóc lột thuế khóa, sự tàn nhẫn của “công lý thuộc địa” đến các vụ án cụ thể, đều được dẫn chứng bằng số liệu, thống kê, thư từ và các báo cáo chính thức của chính quyền thực dân và từ báo chí của tư sản Pháp. Tác giả chỉ sắp xếp lại và phân tích các dữ kiện có sẵn, thông qua lăng kính phê phán giai cấp, các dữ kiện đó trở thành bằng chứng không thể chối cãi. Điều này khiến lời tố cáo có sức thuyết phục, nâng tầm tác phẩm từ một tài liệu tố cáo thông thường thành một bản án phân tích cấu trúc tội ác của chủ nghĩa thực dân.
Thứ hai, thủ pháp phản đề sắc bén và châm biếm sâu cay
Nghệ thuật chính luận này tạo ra sự mỉa mai, châm biếm và hiệu ứng phê phán mạnh mẽ, làm nổi bật đạo đức giả của kẻ thống trị. Tác giả đặt những tuyên bố cao đẹp của Pháp, như: Khai hóa văn minh, Tự do, Bình đẳng, Bác ái,… đối lập trực tiếp với hành động tàn bạo. Trong chương Thuế máu, đối lập khẩu hiệu “Mẫu quốc đang lâm nguy” với hành động cưỡng bức đưa hàng chục vạn người bản xứ ra chiến trường; Chương Công lý đối lập hình ảnh “nữ thần Công lý” với “cán cân bị chảy lỏng” do tham nhũng và “cái kiếm chém giết” dân lành.
Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra sự thay đổi ngôn từ đột ngột theo nhu cầu của đế quốc. Trước chiến tranh, người dân thuộc địa chỉ là “tên da đen bẩn thỉu”, “Annamít bẩn thỉu”. Khi cần hy sinh xương máu, họ lập tức biến thành “con yêu”, “bạn hiền”, “chiến sĩ bảo vệ công lý và tự do”. Người viết: “Ấy thế mà cuộc chiến tranh vui tươi vừa bùng nổ, thì lập tức họ biến thành những đứa “con yêu”, những người “bạn hiền” của các quan cai trị phụ mẫu nhân hậu, thậm chí của cả các quan toàn quyền lớn, toàn quyền bé nữa. Đùng một cái, họ (những người bản xứ) được phong cho cái danh hiệu tối cao là “chiến sĩ bảo vệ công lý và tự do”(1). Khi chiến tranh kết thúc, họ lại bị đẩy trở về với thân phận cũ. Người viết: “Khi đại bác đã ngấy thịt đen, thịt vàng rồi, thì những lời tuyên bố tình tứ của các ngài cầm quyền nhà ta bỗng dưng im bặt như có phép lạ, và cả người Nêgrô lẫn người “Annamít” mặc nhiên trở lại “giống người bẩn thỉu”(2).
Sự thay đổi ngôn từ trong các hoàn cảnh này vạch trần bản chất của chủ nghĩa thực dân. Đối với họ, con người thuộc địa chỉ là một vật phẩm, một nguồn tài nguyên được định giá theo lợi ích kinh tế và chiến lược của mẫu quốc.
2.2. Sự bóc lột tàn bạo là cơ chế hút máu có hệ thống và chiến lược
Sự bóc lột, đặc biệt là bóc lột về kinh tế là mục tiêu cốt lõi, là động lực và là cơ sở duy trì toàn bộ hệ thống cai trị thực dân. Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần cơ chế này qua ba hình thức bóc lột chủ yếu, mang tính hệ thống.
Một là, Thuế máu là bản cáo trạng không chỉ tố cáo sự tàn nhẫn mà còn vạch trần bản chất vô đạo đức có hệ thống và sự coi thường sinh mạng con người của chủ nghĩa thực dân.
Khái niệm Thuế máu là một sáng tạo chính luận mang tính bước ngoặt, vượt ra khỏi ý nghĩa của một khoản thuế thông thường, mà là hình thức bóc lột sinh mạng - vốn quý nhất của con người, nhằm phục vụ lợi ích chiến tranh của chủ nghĩa đế quốc. Người viết: “Tổng cộng có 700.000 người bản xứ đã đặt chân lên đất Pháp; và trong số ấy, 80.000 người không bao giờ còn trông thấy mặt trời trên quê hương đất nước mình nữa!”(3). Sự hy sinh này hoàn toàn bị tước đi tính tự nguyện, được thực hiện thông qua các sắc lệnh bắt lính và bắt phu cưỡng chế, bóc lột quyền được sống và quyền tự do của con người.
Nguyễn Ái Quốc mô tả sự tàn nhẫn vô đạo đức của chính quyền Pháp sau Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất. Những người lính và thợ thuyền đã hy sinh tuổi xuân, máu xương để bảo vệ mẫu quốc, nhưng khi chiến tranh kết thúc, họ bị đối xử tệ hại, bị trả về cho chế độ cai trị hà khắc hơn. Người ta hứa hẹn về quyền công dân, về sự đối đãi công bằng, nhưng tất cả chỉ là lời dối trá. Người viết: “Để ghi nhớ công lao người lính An Nam, chẳng phải người ta đã lột hết tất cả của cải của họ, từ chiếc đồng hồ, bộ quần áo mới toanh mà họ bỏ tiền túi ra mua, đến các vật kỷ niệm đủ thứ, v.v. trước khi đưa họ đến Mácxây xuống tàu về nước, đó sao? Chẳng phải người ta đã giao họ cho bọn súc sinh kiểm soát và đánh đập họ vô cớ đó sao? Chẳng phải người ta đã cho họ ăn như cho lợn ăn và xếp họ như xếp lợn dưới hầm tàu ẩm ướt, không giường nằm, không ánh sáng, thiếu không khí đó sao? Về đến xứ sở, chẳng phải họ đã được một quan cai trị biết ơn đón chào nồng nhiệt bằng một bài diễn văn yêu nước. “Các anh đã bảo vệ Tổ quốc, thế là tốt. Bây giờ, chúng tôi không cần đến các anh nữa, cút đi!”, đó sao? Thế là những “cựu binh” - đúng hơn là cái xác còn lại - sau khi đã dũng cảm bảo vệ chính nghĩa và công lý nay tay không trở về với chế độ bản xứ của họ, một chế độ không biết gì đến chính nghĩa và công lý cả”(4).
Tác phẩm không chỉ thức tỉnh nhân dân Việt Nam và các dân tộc thuộc địa về bản chất phi nhân tính, phi đạo đức của chủ nghĩa đế quốc, mà còn góp phần quan trọng vào việc quốc tế hóa cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, kêu gọi sự đoàn kết các giai cấp cần lao.
Hai là, siết cổ tài chính qua thuế khóa và chính sách độc quyền
Thuế khóa là công cụ kinh tế chính để rút cạn nguồn lực, làm tê liệt sức sản xuất và đẩy nhân dân thuộc địa vào tình trạng bần cùng hóa. Chế độ thuế khóa tại Đông Dương được Nguyễn Ái Quốc mô tả là một mạng lưới siết chặt, phi lý và đa dạng đến mức bao trùm mọi mặt đời sống, từ thuế thân (thuế đầu người), thuế ruộng đất, thuế muối, thuế chợ,… cho đến các loại thuế khác.
(1) sự phi lý và gian lận trong thu thuế. Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh thủ đoạn gian lận trong đo đạc ruộng đất để tăng thuế; hay buộc người nông dân phải nộp thuế cho cả những phần đất không có khả năng canh tác hoặc chưa được khai hoang. Hệ thống này buộc người nông dân phải bán lúa gạo ngay cả trong thời điểm mất giá để kịp nộp thuế và tránh bị đánh đập, bắt bớ, tạo nên một vòng xoáy nợ nần và bần cùng hóa nông dân không lối thoát.
(2) độc quyền rượu và thuốc phiện là một chiến lược hủy diệt của thực dân Pháp. Đây là chính sách bóc lột tàn bạo nhất vì nó mang mục tiêu kép: tối đa hóa lợi nhuận cho tư bản Pháp và hủy diệt giống nòi, triệt tiêu ý chí phản kháng. Chính quyền thực dân buộc người dân phải tiêu thụ một lượng rượu nhất định với chất lượng tồi tệ và giá cắt cổ. Rượu độc không chỉ để bóc lột tiền bạc mà còn phá hoại sức khỏe thể chất, trí tuệ và tinh thần của người dân lao động, làm suy yếu nền tảng xã hội.
Người đã so sánh đầy chua xót: ““Ngày nay người Pháp lại cấm rượu”. Nhưng, một bàn tay ranh mãnh nào đó đã dán ngay vào dưới tấm bảng bức thư của ngài Xarô chỉ thị cho người thuộc quyền ngài tăng số đại lý bán lẻ rượu và thuốc phiện ở các làng An Nam, kèm theo lời phê: “Thế mà người An Nam lại đã có: những 10 trường học, những 1.500 đại lý rượu và thuốc phiện cho 1.000 làng kia đấy!””(5). Sự chênh lệch về mặt thống kê này là minh chứng hùng hồn rằng, đối với chính quyền thực dân, việc đầu độc và làm ngu dân quan trọng hơn gấp nhiều lần so với việc giáo dục họ.
(3) Nô lệ hóa sức lao động và chiến lược cướp đất
Sự bóc lột lao động được thực hiện dưới hình thức cưỡng bức, đẩy người dân vào tình trạng vô sản hóa. Người dân bị bắt đi phu, làm việc trong các công trình công cộng, đồn điền và hầm mỏ với điều kiện lao động tồi tệ, không có bảo hộ an toàn và mức lương rẻ mạt. Bản án đã chỉ rõ, đây là hình thức nô lệ hóa trá hình, nơi công nhân và phu mỏ không còn quyền lợi gì, bị đối xử còn tệ hơn súc vật. Ruộng đất bị tước đoạt thông qua nhiều thủ đoạn: dùng vũ lực quân sự, lợi dụng các sắc lệnh pháp lý, hoặc thông qua việc mua chuộc, đồng lõa với các thế lực phong kiến tay sai... nhằm tạo ra một đội quân lao động dự bị khổng lồ, luôn trong tình trạng đói kém và buộc phải chấp nhận mọi điều kiện bóc lột vô lý trong các đồn điền cao su, hầm mỏ của các công ty tư bản Pháp.
2.3. Áp bức chính trị, pháp lý
Để bảo vệ cơ chế bóc lột kinh tế và duy trì trật tự cai trị, chính quyền thực dân đã thiết lập hệ thống áp bức chính trị và pháp lý, mọi quyền tự do dân chủ bị tước đoạt và pháp luật bị biến thành công cụ đàn áp tinh vi.
Một là, chuyên chế chính trị và tước đoạt mọi quyền tự do
Dưới ách cai trị của Pháp, Việt Nam và các nước thuộc địa khác là một nhà tù khổng lồ, nơi mọi quyền tự do cơ bản của con người đều bị tước đoạt, trái ngược hoàn toàn với Hiến pháp Pháp tại chính quốc:
Kiểm soát tự do ngôn luận và báo chí. Tự do báo chí là một khái niệm xa xỉ. Mọi ấn phẩm, thư từ, ngay cả những lời than vãn nhỏ nhất, đều phải chịu sự kiểm duyệt gắt gao. Nguyễn Ái Quốc đã châm biếm sâu cay những người “đấu tranh cho tự do báo chí” ở Đông Dương, bởi việc viết lách đồng nghĩa với việc đối diện tù đày, bạo lực và thậm chí là cái chết.
Tước đoạt quyền hội họp và lập hội. Mọi tổ chức chính trị, hội nghề nghiệp, ngay cả các tổ chức từ thiện của người bản xứ, đều bị đặt trong vòng nghi ngờ và kiểm soát chặt chẽ. Sự tồn tại của các tổ chức này bị xem là mối đe dọa trực tiếp đối với quyền lực thống trị của chủ nghĩa thực dân.
Hệ thống kiểm soát hành chính. Người dân thuộc địa bị kiểm soát hành chính gắt gao, việc đi lại giữa các địa phương hoặc ra nước ngoài đều cần giấy phép phức tạp. Mục tiêu là ngăn chặn sự giao lưu tư tưởng, sự liên kết tổ chức và sự đoàn kết của những người có tinh thần phản kháng, bảo đảm sự cô lập về mặt thông tin và chính trị.
Hai là, “Tiêu chuẩn kép” và sự vô hiệu hóa pháp quyền
Chương Công lý là bản cáo trạng về sự vô hiệu hóa pháp quyền và sự tha hóa của hệ thống tư pháp. Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần, công lý thuộc địa không dựa trên luật pháp mà dựa trên sự phân biệt chủng tộc có tổ chức và đặc quyền của kẻ thống trị.
Nguyễn Ái Quốc chỉ ra sự bất công trong việc áp dụng luật pháp đối với người Pháp và người bản xứ. Tòa án thực dân được thiết lập để bảo vệ quyền lợi và đặc quyền của người Pháp, đồng thời là công cụ trừng phạt không khoan nhượng, tùy tiện đối với người bản xứ. Ngay cả các quy tắc tố tụng cũng được đơn giản hóa, rút ngắn đối với người bản xứ, bảo đảm tốc độ trừng phạt nhanh chóng và hà khắc.
Trong chế độ thực dân, mạng sống của người bản xứ không có giá trị pháp lý tương đương với người Pháp. Nguyễn Ái Quốc liệt kê hàng loạt vụ án gây rúng động, nơi các quan chức Pháp gây ra cái chết hoặc hành hạ dã man người dân bản xứ nhưng chỉ phải chịu những hình phạt tượng trưng hoặc trắng án do hệ thống tư pháp bảo vệ họ. Cán cân công lý đã bị bán rẻ vì sự tham nhũng và nghiện ngập (rượu và thuốc phiện) của giới chức. Người chỉ ra, một quan chức Pháp bắn vỡ sọ một người An Nam chỉ vì một lỗi nhỏ; một Công sứ Pháp chỉ bị phạt 200 phrăng vì hành vi bạo lực tàn bạo... “cùng một hành động, nếu là của lũ “bôsơ” thì là tội ác, nhưng nếu là của người Pháp thì lại là văn minh!”(6). Điều này khẳng định rằng, trong chế độ thuộc địa, luật pháp không phải là công lý mà là sự hợp pháp hóa bạo lực chuyên chế nhằm bảo vệ quyền lực và lợi ích kinh tế của kẻ thống trị. Các nhà tù là biểu tượng vật chất của nền công lý này, nơi mọi quyền con người bị xóa bỏ.
2.4. Hủy diệt văn hóa bằng Chiến lược ngu dân và chiến tranh tâm lý
Chiến lược “ngu dân” là cấp độ đàn áp sâu sắc và thâm độc nhất, nhằm kiểm soát tư tưởng và triệt tiêu mọi khả năng tự chủ của thuộc địa. Đây là một tội ác nhằm mục tiêu diệt chủng tinh thần, bảo đảm sự thống trị lâu dài.
Một là, hạn chế giáo dục và bóp nghẹt trí tuệ
Chính quyền thực dân chủ động kìm hãm sự phát triển của giáo dục nhằm ngăn chặn sự hình thành một tầng lớp trí thức bản xứ có tư tưởng độc lập, có khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc, cụ thể:
Số lượng trường học bị giới hạn tối đa. Sự tương phản về mặt thống kê giữa số lượng trường học ít ỏi và số lượng lớn các cơ sở sản xuất và buôn bán rượu, thuốc phiện được sử dụng trong Bản án như một luận cứ sắc bén để tố cáo mục đích thực sự của chính quyền thực dân.
Nội dung giáo dục bị kiểm duyệt nghiêm ngặt. Chương trình giảng dạy được thiết kế nhằm mục đích tuyên truyền tư tưởng nô dịch, ca ngợi mẫu quốc và các giá trị thực dân, đồng thời bóp méo lịch sử, văn hóa bản địa. Mục đích không phải là khai hóa, mà là tạo ra những người bản xứ trung thành, không có khả năng tư duy phê phán và độc lập.
Kiểm soát du học. Việc du học tại Pháp và các nước khác bị kiểm soát hành chính gắt gao. Mục tiêu là ngăn chặn người bản xứ tiếp xúc với các luồng tư tưởng tiến bộ, chủ nghĩa Mác - Lênin và các cuộc cách mạng dân chủ tư sản, duy trì sự lạc hậu về tư tưởng.
Chính sách ngu dân được tóm tắt trong một nhận định sắc sảo: Mục tiêu là: ““Làm cho dân ngu để dễ trị”, đó là chính sách mà các nhà cầm quyền ở các thuộc địa của chúng ta ưa dùng nhất”(7), biến một dân tộc có truyền thống văn hiến thành một dân tộc mù chữ, nghiện ngập và hoàn toàn phụ thuộc vào sự dẫn dắt của ngoại bang.
Hai là, tuyên truyền lừa bịp và sự hèn nhát của quan lại
Chủ nghĩa thực dân không chỉ đàn áp bằng vũ lực và luật pháp, bằng chính sách ngu dân mà còn tích cực tuyên truyền để làm tê liệt ý chí phản kháng và gây chia rẽ xã hội. Chính quyền thực dân tạo ra một ảo tưởng về sự “cứu rỗi” và “phát triển” cho các dân tộc chậm tiến nhờ sự hiện diện của Pháp. Bản án đã lật tẩy sự giả dối này bằng cách phơi bày sự tàn bạo, bệnh tật và đói nghèo đi kèm với những công trình kiến thiết ít ỏi mà thực dân luôn khoe khoang, ca tụng.
Nguyễn Ái Quốc dành riêng một chương để châm biếm giới chức cai trị. Đó là những kẻ vô lại, tham lam, bất tài tại Pháp, được cử sang thuộc địa để trở thành “ông hoàng, bà chúa” và tha hồ vơ vét, áp bức, tham nhũng. Sự yếu kém về đạo đức và năng lực của tầng lớp cai trị này càng làm nổi bật tính chất phi lý, mục ruỗng của chế độ thực dân và sự lựa chọn nhân sự thối nát của mẫu quốc. Tác phẩm kết thúc bằng lời kêu gọi thống thiết, chuyển từ vai trò tố cáo sang vai trò kêu gọi hành động và tổ chức, thúc giục các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản trên toàn thế giới đoàn kết lại để lật đổ chế độ thực dân.
2.5. Tầm vóc lý luận và giá trị vượt thời gian của Tác phẩm
Bản án không chỉ là công trình lý luận chính trị góp phần quan trọng vào sự phát triển và cụ thể hóa học thuyết Mác - Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa:
Thứ nhất, tác phẩm Bản án đã cụ thể hóa học thuyết Lênin về “Thuộc địa là mắt xích”
V.I.Lênin đã nêu ra quan điểm về phong trào đấu tranh của các thuộc địa. Tuy nhiên, trước khi Bản án ra đời, phong trào tập trung chủ yếu vào cuộc đấu tranh giai cấp tại các nước tư bản. Nguyễn Ái Quốc đã cụ thể hóa luận điểm của V.I.Lênin và chứng minh bằng thực tiễn. Tác phẩm chỉ rõ rằng, sự giàu có và phồn vinh của mẫu quốc được xây dựng bằng lợi nhuận khổng lồ từ sự bóc lột thô bạo ở thuộc địa. Do đó, phong trào giải phóng dân tộc không chỉ là những cuộc đấu tranh cục bộ, mà là một bộ phận hữu cơ của cuộc đấu tranh giai cấp vô sản thế giới. Sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp là một luận điểm trung tâm, được chứng minh bằng nguồn thu từ về sự bóc lột kinh tế tại thuộc địa đã nuôi sống chủ nghĩa tư bản tại chính quốc.
Thứ hai, tác phẩm đặt nền móng cho tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường giải phóng dân tộc
Bản án là bước trưởng thành quan trọng, mang tính quyết định trong quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, thể hiện là một chiến sĩ cộng sản quốc tế. Tác phẩm không chỉ dừng lại ở việc kêu gọi sự quan tâm, mà là sự thức tỉnh giai cấp. Tác phẩm chỉ ra kẻ thù không chỉ là một chính phủ cụ thể, mà là một hệ thống chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc. Tác phẩm đã làm rõ mối liên hệ hữu cơ giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa thực dân.
Bản án không chỉ là tiếng nói của người dân Việt Nam mà là tiếng nói chung của các dân tộc bị áp bức trên thế giới, đặt nền móng lý luận cho việc thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á châu ngày 9-7-1925, thể hiện tầm nhìn chiến lược về sự đoàn kết quốc tế của các dân tộc. Người viết: “Vận dụng công thức của Các Mác, chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em. Hội Liên hiệp thuộc địa thành lập chính là để giúp đỡ anh em trong công cuộc ấy”(8).
Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với các dân tộc thuộc địa, đặc biệt là sau khi V.I.Lênin qua đời: “Trong năm qua, nhân dân bị áp bức ở các nước phương Đông đã nhận ra rằng, họ đã tìm thấy một Đảng lớn mạnh lấy tên là Đảng Lênin để thay thế cho một vài cá nhân. Và bây giờ, nhân dân các nước thuộc địa đều đặt hy vọng được giải phóng vào Đảng này cũng như một năm trước đây đã đặt hy vọng vào Lênin”(9). Nhận định này không chỉ là sự tôn vinh mà còn là sự định hướng chiến lược cho các dân tộc bị áp bức đi theo con đường của V.I.Lênin, con đường của Đảng Cộng sản.
Thứ ba, tác phẩm thể hiện rõ giá trị nhân văn và đạo đức cách mạng
Giá trị lớn lao của Bản án thể hiện ở tinh thần nhân đạo và khát vọng công lý cao cả. Tác phẩm thể hiện rõ quan điểm giai cấp đấu tranh, bảo vệ những người nông dân, công nhân, lính thợ, những người đã bị tước đoạt cả tài sản lẫn sinh mạng một cách phi nhân tính. Nguyễn Ái Quốc tin rằng, với sự thật được phơi bày bằng lý lẽ chặt chẽ và hệ thống minh chứng tin cậy, nhân dân tiến bộ Pháp và nhân dân thế giới sẽ nhận ra tội ác, từ đó đứng về phía người bị áp bức, tạo ra sức mạnh đoàn kết quốc tế để lật đổ chế độ thực dân. Đây là một niềm tin sắt đá vào khả năng thức tỉnh của lương tri nhân loại và sức mạnh của lý luận chính trị mácxít.
3. Kết Luận
Bản án là một kiệt tác chính luận, bản cáo trạng lịch sử vô giá và là một công trình lý luận chính trị quan trọng. Bằng phong cách chính luận khoa học, sắc bén và thủ pháp phản đề đầy châm biếm, Nguyễn Ái Quốc đã phơi bày một cách hệ thống và có căn cứ sự thống khổ cùng cực của các dân tộc thuộc địa dưới ách cai trị của thực dân Pháp. Tác phẩm không chỉ thức tỉnh nhân dân Việt Nam và các dân tộc thuộc địa về bản chất phi nhân tính, phi đạo đức của chủ nghĩa đế quốc, mà còn góp phần quan trọng vào việc quốc tế hóa cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, kêu gọi sự đoàn kết các giai cấp cần lao. Bản án là một tác phẩm kinh điển, khẳng định tầm nhìn chiến lược và sự đóng góp của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh vào sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, là nguồn tài liệu lý luận quan trọng cho việc nghiên cứu lịch sử cách mạng và tư tưởng chính trị Việt Nam hiện đại. Tầm vóc tư tưởng của tác phẩm vẫn còn nguyên giá trị, là sự đúc kết về bản chất của chủ nghĩa đế quốc và con đường giải phóng của nhân loại.
_________________
Ngày nhận: 17-11-2025; Ngày bình duyệt: 10-12-2025; Ngày duyệt đăng: 20-01-2026.
Email tác giả: maiducngoc195@gmail.com
(1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.25, 32, 26, 32, 42, 98, 108, 138, 223.