Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí - truyền thông trong kỷ nguyên phát triển mới
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.4321
Tóm tắt: Bài viết phân tích tính tất yếu của việc tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng đối với báo chí - truyền thông trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới theo tinh thần Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ những thành tựu và hạn chế của phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí - truyền thông trong bối cảnh yêu cầu chuyển sang “quản trị tiên tiến”(1) của kỷ nguyên số; trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, bảo đảm báo chí - truyền thông thực hiện tốt vai trò, chức năng và sứ mệnh trong giai đoạn phát triển mới, góp phần thực hiện thắng lợi các đột phá chiến lược do Đại hội XIV đề ra.
PGS, TS MAI ĐỨC NGỌC
Học viện Báo chí và Tuyên truyền

1. Mở đầu
Báo chí - truyền thông luôn được Đảng xác định là lĩnh vực tư tưởng, văn hóa đặc biệt quan trọng, là công cụ tuyên truyền sắc bén và diễn đàn tin cậy của nhân dân, đồng thời là một bộ phận không thể tách rời nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra môi trường thông tin phức tạp, đa chiều và tốc độ cao, với sự chi phối mạnh mẽ của các tập đoàn công nghệ và các thế lực truyền thông xuyên biên giới, việc tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng đối với báo chí - truyền thông trở thành yêu cầu chiến lược, mang tính sống còn để bảo vệ nền tảng tư tưởng, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới.
Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định Việt Nam đã bước vào “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, với phương châm hành động “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển”. Trong bối cảnh đó, sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí - truyền thông cần được đổi mới mạnh mẽ, chuyển từ thích ứng bị động sang tiên phong, kiến tạo và dẫn dắt quá trình phát triển đất nước. Báo chí cách mạng Việt Nam không chỉ thực hiện chức năng thông tin, tuyên truyền mà còn giữ vai trò lực lượng xung kích trong cổ vũ tinh thần yêu nước, khơi dậy khát vọng phát triển và tạo sự đồng thuận xã hội, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
2. Nội dung
2. 1. Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí - truyền thông trong kỷ nguyên phát triển mới
Các nghiên cứu trước đây về sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí đã làm rõ vai trò, nguyên tắc lãnh đạo (tính đảng, tính nhân dân) và cơ chế vận hành truyền thống (Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ). Lý luận Mác - Lênin đã khẳng định, báo chí là công cụ tổ chức và tuyên truyền của Đảng, nhưng chưa giải quyết triệt để khoảng trống về tính linh hoạt và quản trị trong môi trường phân mảnh của truyền thông số. Nhu cầu tái cấu trúc sự lãnh đạo để đạt được tính đột phá và quản trị tiên tiến, đặc biệt là việc kết nối với yêu cầu chuyển đổi số trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng “hệ sinh thái số đồng bộ phục vụ hoạt động của Đảng”(2), là động lực chính của nghiên cứu này.
Cơ sở lý thuyết của nghiên cứu được đặt trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và được bổ sung bằng các quan điểm lý luận mới, mang tính thời đại được phản ánh trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV về “tư duy quản trị tiên tiến”(3), yêu cầu “phát triển bứt phá”(4) của đất nước và tăng cường “siết chặt kỷ luật, kỷ cương”(5). Nghiên cứu coi sự lãnh đạo trong kỷ nguyên số là một quá trình quản trị chiến lược, sử dụng dữ liệu và công nghệ để kiến tạo sự phát triển và bảo vệ “chủ quyền thông tin quốc gia trên không gian mạng”(6).
Nghiên cứu vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích quá trình vận động của sự lãnh đạo của Đảng qua 40 năm đổi mới; kết hợp phương pháp lịch sử - logic, phân tích - tổng hợp tài liệu, với nguồn sơ cấp là Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV nhằm làm rõ các quan điểm chỉ đạo và mục tiêu chiến lược mới. Đồng thời, nghiên cứu sử dụng các phương pháp tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, hệ thống và so sánh để đánh giá kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập, qua đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, toàn diện và khả thi, tác động đến ba đột phá chiến lược: Hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng hạ tầng(7).
2.2. Thực trạng sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí - truyền thông ở Việt Nam hiện nay
Kết quả sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí - truyền thông
Sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với báo chí - truyền thông trong nhiệm kỳ Đại hội XIII và suốt 40 năm đổi mới đã đạt được những kết quả quan trọng, mang ý nghĩa chiến lược, tạo nền tảng vững chắc cho công tác tư tưởng trong kỷ nguyên phát triển mới. Những thành tựu đó được thể hiện trên bốn trụ cột cơ bản: giữ vững định hướng chính trị; từng bước hoàn thiện thể chế; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; và thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực báo chí - truyền thông.
Thứ nhất, giữ vững định hướng chính trị và thống nhất ý chí toàn dân tộc
Thành tựu cốt lõi và quan trọng nhất trong sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí - truyền thông là việc giữ vững định hướng chính trị, tư tưởng, bảo đảm báo chí luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giữ vững tính đảng, tính nhân dân và tính chiến đấu. Thông qua sự lãnh đạo đúng đắn, báo chí - truyền thông đã thực sự trở thành công cụ sắc bén trong tuyên truyền, cổ động và tổ chức quần chúng, góp phần đưa các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống.
Đặc biệt, báo chí - truyền thông phát huy vai trò chủ đạo trong việc tạo dựng sự đồng thuận xã hội đối với các quyết sách chiến lược của đất nước, như công cuộc phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; xây dựng, chỉnh đốn Đảng; và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Qua đó, báo chí - truyền thông góp phần kiến tạo niềm tin xã hội, lan tỏa tinh thần yêu nước, khơi dậy khát vọng phát triển và củng cố ý chí tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin của dân tộc trong kỷ nguyên mới. Đây là minh chứng rõ nét cho vai trò của báo chí - truyền thông Việt Nam với tư cách lực lượng nòng cốt, chủ đạo trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí - truyền thông thể hiện tính đột phá sâu sắc trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Báo chí đã phát huy vai trò là công cụ sắc bén trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, kịp thời phát hiện và phản ánh các sai phạm, qua đó góp phần tạo dựng sự đồng thuận xã hội và hỗ trợ các cơ quan chức năng xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Thực tiễn này không chỉ củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, mà còn khẳng định rõ tinh thần “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ” trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, hướng tới mục tiêu xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.
Đồng thời, sự lãnh đạo của Đảng còn được thể hiện ở việc kịp thời điều chỉnh, bổ sung các nguyên tắc hoạt động báo chí - truyền thông trong bối cảnh mới, đặt ra yêu cầu ngày càng cao về tính chuyên nghiệp, tính nhân văn và trách nhiệm xã hội. Điều đó góp phần nâng cao chất lượng báo chí, hạn chế xu hướng thương mại hóa, giật gân, câu view, bảo đảm vai trò dẫn dắt và uy tín của thông tin chính thống trong đời sống xã hội.
Thứ hai, đột phá trong hoàn thiện thể chế quản lý và tối ưu hóa hệ thống báo chí - truyền thông
Sự lãnh đạo của Đảng đã tạo ra bước đột phá quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về báo chí - truyền thông, từng bước chuyển từ mô hình quản lý hành chính truyền thống sang quản lý bằng thể chế hiện đại, chuyên nghiệp, tinh gọn và hiệu quả, qua đó đặt nền tảng cho sự phát triển bền vững của hệ thống báo chí - truyền thông.
Việc triển khai Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí quốc gia là dấu mốc có ý nghĩa chiến lược, thể hiện tầm nhìn và quyết tâm chính trị của Đảng trong việc sắp xếp, cơ cấu lại hệ thống báo chí từ trạng thái phân tán, chồng chéo sang tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại, phù hợp với xu thế truyền thông số và yêu cầu quản lý nhà nước. Thông qua việc giảm đầu mối, tập trung nguồn lực cho các cơ quan báo chí chủ lực, Quy hoạch đã góp phần tối ưu hóa đầu tư, nâng cao chất lượng nội dung, tăng cường năng lực cạnh tranh và khả năng dẫn dắt dư luận xã hội, nhất là trong bối cảnh thông tin xuyên biên giới ngày càng phức tạp.
Song song với đó, Đảng đã chỉ đạo rà soát, bổ sung và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về báo chí - truyền thông, đặc biệt là các quy định liên quan đến quản lý không gian mạng, qua đó tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm kỷ cương, kỷ luật, xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng báo chí và mạng xã hội để vi phạm pháp luật, chống phá Đảng và Nhà nước. Những kết quả này khẳng định vai trò lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng trong xây dựng thể chế báo chí vững mạnh, đồng thời tạo điều kiện để các cơ quan báo chí phát huy tính chủ động, sáng tạo trong khuôn khổ định hướng chính trị, tư tưởng, đáp ứng yêu cầu “tăng cường siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đẩy mạnh phân cấp, kiểm soát quyền lực chặt chẽ, hiệu quả”(8) theo tinh thần Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV.
Thứ ba, xung kích trong bảo vệ nền tảng tư tưởng và thúc đẩy chuyển đổi số
Trong bối cảnh môi trường thông tin số phức tạp, đa chiều, báo chí - truyền thông dưới sự lãnh đạo của Đảng đã khẳng định vai trò là lực lượng xung kích trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác kịp thời, có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch. Thông qua sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng, các cơ quan báo chí chủ lực đã xây dựng nhiều chuyên mục, chuyên trang chuyên sâu, sử dụng lập luận khoa học và phương pháp tiếp cận hiện đại để làm rõ bản chất các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả cách mạng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, qua đó góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp đổi mới.
Đồng thời, trước yêu cầu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự lãnh đạo của Đảng đã thúc đẩy quá trình chuyển đổi số mạnh mẽ trong lĩnh vực báo chí - truyền thông. Nhiều cơ quan báo chí đã chủ động đầu tư công nghệ, xây dựng mô hình tòa soạn hội tụ, đa nền tảng, nâng cao năng lực sản xuất và phân phối nội dung phù hợp với xu hướng tiêu dùng thông tin mới, đặc biệt là đối tượng công chúng trẻ. Qua đó, báo chí - truyền thông từng bước thu hẹp khoảng cách công nghệ với các nền tảng xuyên biên giới, gia tăng khả năng tiếp cận và ảnh hưởng xã hội.
Bên cạnh đó, báo chí - truyền thông còn phát huy vai trò là kênh quan trọng trong công tác đối ngoại, quảng bá hình ảnh đất nước, con người và văn hóa Việt Nam, cũng như những thành tựu của 40 năm đổi mới. Việc mở rộng các sản phẩm truyền thông đa ngữ, ứng dụng công nghệ hiện đại trong truyền tải thông tin đã góp phần nâng cao uy tín và vị thế quốc tế của Việt Nam, phục vụ hiệu quả mục tiêu hội nhập quốc tế và bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc.
Những kết quả này cho thấy sự linh hoạt, chủ động và khả năng thích ứng của phương thức lãnh đạo của Đảng, từ việc định hướng nâng cao tư duy và năng lực quản trị hiện đại của đội ngũ cán bộ, đến việc chỉ đạo xây dựng hạ tầng công nghệ phục vụ chuyển đổi số, tạo nền tảng vững chắc để báo chí - truyền thông tiếp tục phát triển đột phá trong giai đoạn tới.
Thứ tư, đóng góp quan trọng vào việc thực hiện ba đột phá chiến lược của quốc gia
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, báo chí - truyền thông đã được định hướng phát huy hiệu quả các chức năng tuyên truyền, phản biện và giám sát xã hội, qua đó góp phần thúc đẩy thực hiện ba đột phá chiến lược về thể chế, nguồn nhân lực và hạ tầng.
Trên phương diện hoàn thiện thể chế, báo chí - truyền thông tích cực tổ chức các diễn đàn khoa học, thu thập ý kiến chuyên gia và nhân dân, tham gia phản biện xã hội đối với các dự thảo luật, cơ chế, chính sách lớn. Hoạt động này góp phần nâng cao tính thực tiễn, tính dân chủ và tính khả thi của các quyết sách chiến lược, đặc biệt là các nghị quyết về phân cấp, phân quyền và các luật kinh tế quan trọng.
Trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực, báo chí - truyền thông giữ vai trò kênh giám sát xã hội quan trọng đối với công tác cán bộ, tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, qua đó thúc đẩy việc thực hiện chủ trương “có vào, có ra”, “có lên, có xuống”(9), đồng thời góp phần hình thành yêu cầu về “tư duy và năng lực quản trị tiên tiến”(10) đối với đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược.
Đối với đột phá về hạ tầng, báo chí - truyền thông làm tốt công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận xã hội đối với các chủ trương lớn về chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển kinh tế số, qua đó huy động nguồn lực đầu tư cho hạ tầng số và hạ tầng giao thông đa phương thức, phục vụ trực tiếp cho quá trình quản lý, quản trị và kiến tạo phát triển đất nước.
Hạn chế và thách thức sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí - truyền thông
Mặc dù đạt được những thành tựu có ý nghĩa quan trọng, công tác lãnh đạo của Đảng đối với báo chí - truyền thông vẫn còn những hạn chế mang tính hệ thống, trở thành rào cản đối với yêu cầu phát triển đột phá trong giai đoạn mới. Việc nhận diện và phân tích đầy đủ các hạn chế này là cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng để đề xuất các giải pháp phù hợp.
Một là, đổi mới phương thức lãnh đạo chưa theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ truyền thông và yêu cầu quản trị tiên tiến. Ở một số cấp ủy và cơ quan quản lý, tư duy lãnh đạo vẫn nặng về quản lý hành chính, can thiệp vi mô, chậm chuyển sang tư duy quản trị hiện đại và lãnh đạo kiến tạo. Chính điều đó dẫn đến việc chỉ đạo, định hướng thông tin trong một số trường hợp còn thiếu linh hoạt, chưa kịp thời trước các sự kiện lớn phát sinh nhanh trên không gian mạng, tạo khoảng trống để tin giả, thông tin xấu độc lan truyền, tác động tiêu cực đến dư luận xã hội.
Bên cạnh đó, phương thức kiểm soát nội dung và đánh giá hiệu quả truyền thông hiện nay vẫn chủ yếu dựa vào quy trình hành chính và các chỉ số định lượng đơn giản, chưa ứng dụng hiệu quả các công cụ phân tích dữ liệu lớn và đánh giá tác động truyền thông một cách khoa học. Sự thiếu hụt các công cụ quản trị hiện đại làm hạn chế khả năng dự báo, phân tích dư luận theo nhóm đối tượng, khiến công tác lãnh đạo trong một số tình huống còn mang tính bị động, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển đột phá của báo chí - truyền thông trong kỷ nguyên số.
Hai là, những lỗ hổng trong lãnh đạo hoạt động truyền thông xuyên biên giới và bảo đảm chủ quyền thông tin quốc gia. Hiện nay, khuôn khổ pháp lý và các công cụ quản lý, kỹ thuật chưa theo kịp thực tiễn phát triển nhanh của các nền tảng công nghệ xuyên biên giới như Facebook, Google, TikTok..., dẫn đến hạn chế trong việc kiểm soát quyền lực thông tin, dòng dữ liệu và nghĩa vụ tài chính của các chủ thể này. Tình trạng này không chỉ gây thất thoát nguồn thu quảng cáo, suy giảm nguồn lực tài chính của các cơ quan báo chí, mà còn tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định chính trị - xã hội khi không gian số bị lợi dụng để lan truyền thông tin sai trái, độc hại.
Chủ quyền thông tin quốc gia đang chịu sức ép ngày càng lớn từ các thuật toán, chính sách kiểm duyệt nội dung và cơ chế phân phối thông tin do các tập đoàn công nghệ nước ngoài chi phối. Trong khi đó, sự phụ thuộc của báo chí trong nước vào các nền tảng này làm suy giảm khả năng tự chủ chiến lược về thông tin. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với sự lãnh đạo của Đảng trong việc hoàn thiện thể chế, phát triển công cụ quản lý và giải pháp công nghệ mang tính đột phá, nhằm từng bước giành lại quyền kiểm soát không gian số, bảo đảm an ninh chính trị, tư tưởng và lợi ích quốc gia - dân tộc trong kỷ nguyên số.
Ba là, điểm nghẽn từ nhân tố cán bộ và năng lực quản trị. Đây là một trong những hạn chế cốt lõi, được Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV thẳng thắn chỉ ra. Một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý báo chí - truyền thông hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu về tư duy chiến lược và năng lực quản trị tiên tiến trong môi trường số. Hạn chế về kiến thức và kỹ năng trong các lĩnh vực như kinh tế báo chí hiện đại, quản trị dữ liệu, phân tích dữ liệu lớn và chuyển đổi số ở tầm chiến lược đã làm giảm hiệu quả trong việc xây dựng và triển khai các chiến lược phát triển báo chí số.
Bên cạnh đó, công tác thẩm định, đánh giá cán bộ ở một số nơi còn mang tính hình thức, chưa gắn chặt với kết quả thực tiễn và chưa thực hiện chủ trương “có vào, có ra”, “có lên, có xuống”. Vì thế làm suy giảm động lực đổi mới, sáng tạo trong đội ngũ cán bộ chủ chốt, làm hạn chế khả năng tạo ra những đột phá trong phương thức lãnh đạo báo chí - truyền thông trước yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Bốn là, sự thiếu vắng hệ sinh thái số đồng bộ trong công tác lãnh đạo của Đảng và quản lý báo chí - truyền thông. Mặc dù Đảng đã xác định chủ trương tạo bước đột phá đi đầu về chuyển đổi số, song việc xây dựng “hệ sinh thái số đồng bộ phục vụ hoạt động của Đảng”(11) trong lĩnh vực báo chí - truyền thông còn manh mún, thiếu tính liên thông giữa các cơ quan lãnh đạo, quản lý và các cơ quan báo chí. Việc chưa hình thành một nền tảng công nghệ thống nhất, như trung tâm chỉ huy và phân tích thông tin quốc gia, để thu thập và xử lý dữ liệu dư luận theo thời gian thực đã hạn chế khả năng nắm bắt kịp thời diễn biến tâm lý xã hội, làm giảm hiệu quả chỉ đạo, định hướng thông tin. Sự phân mảnh về hạ tầng và dữ liệu không chỉ làm suy giảm hiệu quả đấu tranh trên không gian mạng, mà còn ảnh hưởng đến tính đồng bộ, kỷ luật và kỷ cương trong điều hành hoạt động báo chí - truyền thông.
Năm là, việc thiếu cơ chế tài chính đặc thù, cùng với sự phụ thuộc lớn vào nguồn thu thương mại, đang đặt báo chí - truyền thông trước áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt. Trong bối cảnh đó, không ít cơ quan báo chí buộc phải chạy theo xu hướng giật gân, câu khách, làm suy giảm chất lượng nội dung chiến lược, ảnh hưởng đến uy tín thông tin chính thống và làm suy yếu vai trò xung kích của báo chí trên mặt trận tư tưởng. Mô hình tự chủ tài chính hiện hành, nếu không được điều chỉnh phù hợp, có nguy cơ cản trở mục tiêu tự chủ chiến lược về thông tin và sự phát triển bền vững của báo chí cách mạng.
Từ những hạn chế và thách thức nêu trên, có thể thấy yêu cầu đổi mới mang tính đột phá về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí - truyền thông mang tính tất yếu và cấp thiết. Để hiện thực hóa tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045, sự lãnh đạo của Đảng không chỉ dừng lại ở việc duy trì định hướng chính trị, mà cần được đổi mới toàn diện, đồng bộ trên ba trụ cột đột phá chiến lược do Đại hội XIV xác định: hoàn thiện thể chế; phát triển nguồn nhân lực; và xây dựng hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng số phục vụ quản trị và chủ quyền thông tin quốc gia(12).
2.3. Một số giải pháp đột phá nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí - truyền thông trong kỷ nguyên phát triển mới
Hệ thống giải pháp được đề xuất trên cơ sở phân tích toàn diện những hạn chế, thách thức hiện nay, bám sát các quan điểm chỉ đạo và mục tiêu chiến lược trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, đặc biệt là yêu cầu đổi mới đột phá phương thức lãnh đạo và nâng cao năng lực quản trị tiên tiến trong lĩnh vực báo chí - truyền thông.
Một là, thể chế hóa tư duy lãnh đạo kiến tạo phát triển và lãnh đạo bằng chiến lược
Các cấp ủy đảng cần đổi mới căn bản phương thức lãnh đạo đối với báo chí - truyền thông, chuyển từ chỉ đạo hành chính, can thiệp chi tiết sang lãnh đạo bằng chiến lược, định hướng chính trị lớn và mục tiêu phát triển dài hạn. Theo đó, mô hình lãnh đạo cần được tái cấu trúc theo hướng: Đảng định hướng chiến lược; Nhà nước đặt hàng chiến lược, kiến tạo môi trường phát triển; các cơ quan báo chí - truyền thông thực hiện quyền tự chủ trong khuôn khổ định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng.
Phương thức lãnh đạo mới cần khuyến khích báo chí tham gia phản biện chính sách, giám sát xã hội một cách công khai, minh bạch và có trách nhiệm, qua đó vừa phát huy vai trò dân chủ của báo chí, vừa bảo đảm kỷ luật, kỷ cương trong thực hiện phương châm hành động “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển” của Đại hội XIV.
Hai là, hoàn thiện thể chế quản lý truyền thông xuyên biên giới gắn với kiểm soát quyền lực hiệu quả
Sự lãnh đạo của Đảng cần thúc đẩy việc hoàn thiện đồng bộ và kịp thời khuôn khổ pháp lý nhằm quản lý hoạt động thông tin trên các nền tảng xuyên biên giới, bảo đảm các tập đoàn công nghệ tuân thủ nghiêm pháp luật Việt Nam về nội dung, dữ liệu, nghĩa vụ tài chính và trách nhiệm xã hội. Việc đẩy mạnh phân cấp trong quản lý báo chí - truyền thông phải được thực hiện song hành với cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ, hiệu quả, bảo đảm sự phối hợp và giám sát lẫn nhau giữa cơ quan lãnh đạo của Đảng, cơ quan quản lý nhà nước và các cơ quan kiểm tra, giám sát của Đảng. Cách tiếp cận này vừa tạo điều kiện phát huy tính chủ động, sáng tạo của các chủ thể, vừa giữ vững kỷ luật, kỷ cương, đúng với tinh thần “tăng cường siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đẩy mạnh phân cấp, kiểm soát quyền lực chặt chẽ, hiệu quả”(13) được nhấn mạnh trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV.
Ba là, tăng cường cơ chế lãnh đạo dựa trên phản hồi chính sách và thực hành dân chủ thực chất
Sự lãnh đạo của Đảng cần được thể chế hóa thông qua việc thiết lập cơ chế phản hồi chính sách kịp thời, sử dụng báo chí - truyền thông như một kênh quan trọng để tiếp nhận, tổng hợp và phân tích ý kiến, nguyện vọng của nhân dân. Trên cơ sở đó, các cấp ủy đảng và cơ quan quản lý nhà nước phải nâng cao trách nhiệm giải trình, thực hiện việc cung cấp thông tin và phản hồi công khai, minh bạch đối với những vấn đề xã hội do báo chí phản ánh. Cơ chế này không chỉ góp phần hoàn thiện quá trình hoạch định và thực thi chính sách, mà còn củng cố niềm tin xã hội, tăng cường sự đồng thuận và phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân trong bối cảnh phát triển mới.
Bốn là, thực hiện đột phá đi đầu về chuyển đổi số trong lãnh đạo, chỉ đạo báo chí - truyền thông
Sự lãnh đạo của Đảng cần được triển khai nhất quán theo yêu cầu tạo bước đột phá đi đầu về chuyển đổi số trong công tác xây dựng Đảng, trọng tâm là xây dựng hệ sinh thái số đồng bộ phục vụ hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo và quản trị báo chí - truyền thông. Trong đó, cần nghiên cứu hình thành một nền tảng quản trị thông tin quốc gia (National Information Governance Platform - NIGP) với vai trò là công cụ công nghệ lõi, tích hợp các giải pháp phân tích dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo nhằm giám sát, phân tích, dự báo dư luận xã hội, chỉ số rủi ro truyền thông và mức độ đồng thuận chính sách theo thời gian thực.
Trên cơ sở đó, hệ thống truyền đạt và giám sát thực thi nghị quyết, chỉ thị cần được số hóa, bảo đảm việc truyền tải chỉ đạo được thông suốt, đồng thời có thể đánh giá hiệu quả thực hiện bằng các chỉ số đo lường định lượng, khách quan. Cùng với đó, cần ưu tiên đầu tư chiến lược cho hạ tầng công nghệ lõi và phát triển các nền tảng số “Make in Vietnam”, qua đó nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và bảo đảm chủ quyền thông tin quốc gia trên không gian mạng.
Năm là, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo báo chí - truyền thông đáp ứng yêu cầu quản trị tiên tiến
Công tác cán bộ cần được đổi mới căn bản theo tinh thần Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, “tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược, cán bộ cấp cơ sở”(14), trong đó có cán bộ trực tiếp lãnh đạo báo chí - truyền thông, có tư duy đổi mới, năng lực quản trị hiện đại và khả năng thích ứng với môi trường số. Trên cơ sở đó, cần xây dựng khung năng lực chuyên biệt cho cán bộ lãnh đạo báo chí - truyền thông, bao gồm năng lực chính trị, năng lực quản trị chiến lược, quản trị dữ liệu, kinh tế báo chí và chuyển đổi số. Cơ chế đánh giá, bổ nhiệm cán bộ phải dựa trên kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị gắn với hiệu quả hoạt động thực tiễn, được lượng hóa bằng các chỉ số cụ thể; đồng thời thực hiện nghiêm chủ trương “có vào, có ra”, “có lên, có xuống”. Cùng với đó, cần hoàn thiện cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, tạo động lực cho đội ngũ cán bộ báo chí - truyền thông phát huy vai trò dẫn dắt trong kỷ nguyên phát triển mới.
Sáu là, xây dựng cơ chế, chính sách tài chính bền vững nhằm tạo cơ sở cho phát triển đột phá báo chí - truyền thông
Sự lãnh đạo của Đảng cần được cụ thể hóa bằng việc hoàn thiện cơ chế tài chính đặc thù cho báo chí - truyền thông, khắc phục tình trạng phụ thuộc quá mức vào nguồn thu thương mại. Theo đó, Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị cần định hướng Chính phủ nghiên cứu thành lập Quỹ phát triển báo chí chiến lược quốc gia, với nguồn vốn ổn định, quy mô đủ lớn, trong đó có phần trích lập từ thuế dịch vụ số và quảng cáo xuyên biên giới. Quỹ hoạt động theo cơ chế “đặt hàng nhiệm vụ chính trị chiến lược”, bảo đảm nguồn lực tương xứng cho các cơ quan báo chí - truyền thông chủ lực thực hiện nhiệm vụ của công tác tư tưởng trong bối cảnh mới.
Đồng thời, cho phép thí điểm mô hình doanh nghiệp truyền thông công ích đối với một số cơ quan báo chí - truyền thông nòng cốt, trên cơ sở tách bạch rõ nguồn lực công ích và nguồn lực thương mại, nhằm vừa bảo đảm vai trò chính trị, vừa tạo động lực đổi mới và nâng cao năng lực cạnh tranh. Cùng với đó, cần sớm hoàn thiện khung pháp lý về chia sẻ doanh thu và bảo vệ bản quyền số, từng bước khôi phục và gia tăng giá trị kinh tế chính đáng của báo chí - truyền thông, tạo nền tảng tài chính vững chắc cho sự phát triển bền vững và tự chủ chiến lược về thông tin.
3. Kết luận
Sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định đối với sự phát triển đúng hướng và bền vững của báo chí - truyền thông cách mạng. Thông qua phân tích thực tiễn, nghiên cứu đã làm rõ những thành tựu nổi bật trong việc giữ vững định hướng chính trị, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và từng bước hoàn thiện thể chế, đặc biệt là việc triển khai Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí quốc gia. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế mang tính hệ thống, như sự chậm đổi mới của tư duy và phương thức lãnh đạo so với tốc độ phát triển công nghệ; những điểm nghẽn về năng lực quản trị tiên tiến của đội ngũ cán bộ; cùng nghịch lý kinh tế báo chí - truyền thông trong bối cảnh cạnh tranh số và xuyên biên giới. Những hạn chế này đang trực tiếp cản trở việc phát huy đầy đủ vai trò xung kích của báo chí - truyền thông trong tiến trình phát triển đột phá của đất nước.
Việc triển khai đồng bộ và quyết liệt các giải pháp đã đề xuất sẽ tạo ra nền tảng thể chế, nguồn lực và động lực mới, góp phần nâng cao năng lực tự chủ chiến lược về thông tin, thúc đẩy báo chí - truyền thông Việt Nam chuyển mình toàn diện. Qua đó, báo chí - truyền thông sẽ tiếp tục khẳng định vai trò lực lượng nòng cốt trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, đóng góp thiết thực vào mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam phát triển, thu nhập cao, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 2045.
_________________
Bài đăng trên số đặc biệt năm 2026 chào mừng Đại hội XIV của Đảng
Ngày nhận bài: 19-12-2025; Ngày bình duyệt: 30-12-2025; Ngày duyệt đăng: 05-01-2025.
Email tác giả: maiducngoc195@gmail.com
(1) Phụ lục 5, tr.32; Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội XIV của Đảng, tr.50.
(2) Phụ lục 5, tr.32.
(3) Phụ lục 5, tr.32; Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội XIV của Đảng, tr.50.
(4) Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội XIV của Đảng, tr.3.
(5) Phụ lục 5, tr.16, 32 .
(6) Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
(7) Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội XIV của Đảng, tr.3, 50.
(8) Phụ lục 5, tr.32.
(9) Phụ lục 5, tr.32.
(10) Phụ lục 5, tr.32; Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội XIV của Đảng, tr.50.
(11) Phụ lục 5, tr.32.
(12) Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội XIV của Đảng, tr.3, 50.
(13) Phụ lục 5, tr.32.
(14) Phụ lục 5, tr.32; Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội XIV của Đảng, tr.50.