Diễn đàn

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân

27/01/2026 15:05

DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.26.8380
Tóm tắt: Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là mục tiêu của phát triển. Qua gần 40 năm đổi mới, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Bài viết khái quát những luận điểm cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân; kết quả vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân thời kỳ đổi mới và đề xuất một số kiến nghị để tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ này trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.

TS PHAN CÔNG KHANH

Các y, bác sĩ chăm sóc trẻ sơ sinh tại bệnh viện _Nguồn: vapa.org.vn

1. Mở đầu

Sinh thời, Hồ Chí Minh dành sự quan tâm đặc biệt đối với việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, công tác này luôn giữ vị trí ưu tiên trong các chiến lược, chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước ta. Qua gần 40 năm đổi mới, công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần nâng cao hạnh phúc của nhân dân và chất lượng của sự phát triển, được quốc tế đánh giá cao. Trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, cần tiếp tục vận dụng có hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh để việc bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân tiếp tục là mục tiêu, là động lực của phát triển; trong đó, người dân là chủ thể và đối tượng trung tâm trong xây dựng, thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

2. Nội dung

2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân

Chăm lo sức khỏe của nhân dân là một nội dung quan trong trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Có thể khái quát thành các luận điểm chính sau:

Thứ nhất, sức khỏe là vốn quý của con người, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, giữ gìn sức khỏe là bổn phận của công dân

Trong bài báo Sức khỏe và thể dục viết năm 1946, Hồ Chí Minh nêu mấy luận điểm rất đáng chú ý. Một, về vai trò của sức khỏe, Người viết: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới làm thành công”. Hai, về quan hệ giữa sức khỏe của người dân và sự phát triển của đất nước, Người khẳng định: “Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khỏe tức là cả nước mạnh khỏe”. Ba, Người rút ra kết luận: “Vậy nên luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi một người yêu nước”.

Thứ hai, chăm sóc sức khỏe toàn diện

Dân gian có câu Ăn được ngủ được là tiên. Hồ Chí Minh viết: Ăn khỏe, ngủ ngon, làm việc khỏe/ Trần mà như thế kém gì tiên. Không chỉ ăn khỏe, ngủ ngon mà Người còn nêu: làm việc khỏe. Làm việc khỏe là kết quả của sức khỏe, cả thể chất lẫn tinh thần; là thước đo hạnh phúc. Người khuyên đồng bào: “Mỗi ngày lúc ngủ dậy, tập một ít thể dục. Ngày nào cũng tập thì khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ, như vậy là sức khỏe”(1). Có thể xem đây là “định nghĩa” của Người về sức khỏe: khí huyết lưu thông là thể chất tốt, khi huyết lưu thông thì tinh thần sảng khoái, có được cả hai là sức khỏe.

Thứ ba, xây dựng nền y học khoa học, dân tộc và đại chúng

Trong Thư gửi Hội nghị Cán bộ y tế ngày 27-2-1955, Người căn dặn: “Xây dựng một nền y học của ta”, “một nền y tế thích hợp với nhu cầu của nhân dân ta”. Đây cũng là tư tưởng của Tuệ Tĩnh Thiền sư (1330 - 1400): Nam dược trị Nam nhân. Theo Hồ Chí Minh, nước nhà độc lập, “Y học càng phải dựa trên nguyên tắc: khoa học, dân tộc và đại chúng”. Có nghĩa là, khoa học là nền tảng của y học, dân tộc là cốt lõi của y học, phục vụ đại chúng là động lực của y học. Hồ Chí Minh căn dặn: “Ông cha ta ngày trước có nhiều kinh nghiệm quý báu về cách chữa bệnh bằng thuốc ta, thuốc bắc. Để mở rộng phạm vi y học, các cô, các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc “Đông” và thuốc “Tây””(2).

Hồ Chí Minh dùng từ “đặc biệt” khi bàn về chăm sóc sức khỏe thiếu niên, nhi đồng và phụ nữ. Trong Thư gửi giáo viên, học sinh, cán bộ thanh niên và nhi đồng (ngày 31-10-1955), Người nhấn mạnh: “Phải đặc biệt chú ý giữ gìn sức khỏe của các cháu”(3). Nói chuyện với nhân dân và cán bộ tỉnh Thái Bình, Người yêu cầu: “Phải đặc biệt chú ý đến sức lao động phụ nữ”(4).

Để xây dựng nền y học khoa học, dân tộc và đại chúng, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm việc đào tạo đội ngũ thầy thuốc. Sau lễ Độc lập không lâu, ngày 24-11-1945, Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 66-SL về việc trưng dụng các y sĩ, dược sĩ. Ngày 20-8-1948, Người ký Sắc lệnh số 234-SL mở Trường Y sĩ Việt Nam đào tạo cán bộ y tế cho cơ quan dân y và quân y. Nhiều lần, Hồ Chí Minh nêu vấn đề: “Cần giữ gìn sức khỏe của dân, cho nên cần có thầy thuốc”(5). Cần thầy thuốc thì phải trọng đãi thầy thuốc: “Chúng ta vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Vì vậy, nhân tài chuyên môn nhất là nhân tài về môn y tế, chỉ sẽ thiếu chứ chưa có thừa. Vì vậy, các ngành chuyên môn, nhất là ngành thuốc, sẽ được đặc biệt trọng đãi”(6).

Thứ tư, đề cao vai trò của thầy thuốc: Lương y như từ mẫu

Trong Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc năm 1953, Người viết: “Thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt. Cần phải tận tâm tận lực phụng sự nhân dân. “Lương y phải kiêm từ mẫu””(7). Với cán bộ quân y, Người căn dặn: “Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu”(8).

Đề cao công sức, thấu hiểu sự vất vả của đội ngũ thầy thuốc, Hồ Chí Minh coi họ cũng là chiến sĩ. Năm 1947, khen ngợi sự tận tâm của các y sĩ, khán hộ, cứu thương, Người viết: “Tôi được báo cáo rằng: Các thầy thuốc và khán hộ đều hết lòng săn sóc thương binh một cách rất chu đáo. Thế là các bạn cũng trực tiếp tham gia kháng chiến cứu quốc(9). Hồ Chí Minh đánh giá cao vai trò của đội ngũ y tá: “Y tá chẳng những là một nghề nghiệp, mà lại là một nghĩa vụ (...). Việc giữ gìn và bồi dưỡng sức khỏe của dân tộc, người y tá phải gánh một phần quan trọng. Vì vậy, y tá là những chiến sĩ đánh giặc ốm, để bảo vệ sự khang kiện của giống nòi”. Người căn dặn: “Những chiến sĩ y tá phải có chí chịu khổ, chịu khó. Phải giàu lòng bác ái hy sinh”(10).

Thứ năm, phòng bệnh hơn chữa bệnh

Hồ Chí Minh rất coi trọng việc phòng bệnh. Trong Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc năm 1953, Người nêu nhiệm vụ của ngành y tế có 2 phần: “Phòng bệnh cũng cần thiết như trị bệnh”. Trong điều kiện kháng chiến, thiếu cơ sở y tế, dân trí thấp, đời sống khó khăn, Hồ Chí Minh chủ trương tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh. Người kêu gọi thi đua vệ sinh phòng bệnh bằng những việc cụ thể như ăn, mặc, ở vệ sinh, nhà cửa gọn gàng, v.v. Vận động đời sống mới, Người viết: “Sạch sẽ tức là một phần đời sống mới. Sạch sẽ thì ít đau ốm. Sức khỏe thì làm được việc, làm được việc thì có ăn”(11). Năm 1958, trong bài báo Vệ sinh yêu nước, Người căn dặn: “Phòng bệnh hơn trị bệnh”.

Thứ sáu, Đảng và Chính phủ có trách nhiệm chăm lo sức khỏe cho nhân dân

Trong Bài nói chuyện tại Hội nghị sản xuất cứu đói (năm 1956), Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”(12). Đời sống nhân dân gồm cả ăn, mặc, học hành, sức khỏe. Không chăm lo được cho nhân dân thì mọi chính sách sẽ thất bại. Người viết: “Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy cũng không thực hiện được”(13).

2.2. Kết quả vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của nhân dân thời kỳ đổi mới

Về thể chế

Đảng và Nhà nước đã ban hành các nghị quyết, văn bản pháp luật liên quan đến chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Từ năm 2005 đến nay, Đảng đã ban hành 3 nghị quyết về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Về văn bản pháp luật, tính từ năm 1989 đến nay, có khoảng 10 luật về bảo vệ sức khỏe nhân dân, phòng chống bệnh truyền nhiễm, khám bệnh, chữa bệnh, bảo hiểm y tế, người cao tuổi v.v. Bên cạnh đó là các luật liên quan đến an toàn thực phẩm; an toàn, vệ sinh lao động; bảo vệ môi trường; phòng chống tác hại thuốc lá v.v. Ngoài ra, Chính phủ đã ban hành và triển khai một số chương trình, chiến lược quan trọng như: Chương trình Sức khỏe Việt Nam(14), Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045(15) v.v.

Gần đây nhất, Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9-9-2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân đã nêu những vấn đề chiến lược, toàn diện về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; trong đó, nhấn mạnh sức khỏe là vốn quý nhất của con người, là nền tảng quan trọng nhất cho hạnh phúc của mọi người, cho sự tồn vong của dân tộc và sự phát triển thịnh vượng, bền vững của đất nước. Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là mục tiêu, là động lực, là nhiệm vụ chính trị hàng đầu, giữ vị trí ưu tiên trong các chiến lược, chính sách phát triển.

Về xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở y tế

Năm 1990, cả nước chỉ có 210.136 giường bệnh, tỷ lệ khoảng 30,23 giường bệnh/10.000 dân. Đến năm 2024, đã có hơn 320.000 giường, đạt tỷ lệ 34 giường bệnh/10.000 dân.

Hệ thống y tế ở xã, y tế thôn bản được củng cố. Việt Nam được quốc tế công nhận là một trong số ít các nước có mạng lưới y tế hoàn chỉnh tới tận thôn/ bản, bảo đảm có thể cung cấp các dịch vụ y tế cơ bản cho người dân. Năm 2022, tỷ lệ xã có trạm y tế là 99,6%; tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã là 97,3% giai đoạn 2011-2020(16). Chất lượng hoạt động của bệnh viện có nhiều cải thiện. Đến nay, tất cả bệnh viện đã áp dụng 83 tiêu chí về quản lý chất lượng bệnh viện của Bộ Y tế(17).

Tuy nhiên, sự phát triển của hệ thống bệnh viện còn chậm, chưa đáp ứng được nhu cầu khám, chữa bệnh của người dân. Tình trạng quá tải ở nhiều bệnh viện, nhất là các bệnh viện chuyên sâu, diễn ra nhiều năm nhưng chậm được giải quyết. Y tế cơ sở vẫn là khâu yếu trong công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Hầu hết các bệnh viện vẫn chưa thực hiện được việc chăm sóc toàn diện cho bệnh nhân nội trú. Sự chênh lệch giữa các vùng miền còn khá lớn về số lượng bệnh viện, tỷ lệ giường bệnh trên số dân, số lượng bác sĩ v.v. Vẫn còn thiếu hệ thống bệnh viện đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe tâm thần, sức khỏe người cao tuổi (lão khoa).

Nguồn nhân lực phục vụ công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân

Năm 2006, tổng số cán bộ y tế ở nước ta là 271.149. Trong đó, số bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng/10.000 dân lần lượt là 6,23; 1,27; 6,77. Đến năm 2023, cả nước có hơn 350.000 nhân viên y tế; trong đó có trên 96.200 bác sĩ, y tá và hộ lý/ 105.000 người. Số bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng/10.000 dân đều tăng hơn gấp đôi, lần lượt là 12,5; 3,06 và 15,0. Năm 2024, có 13,5 bác sĩ/10.000 dân.

Tuy tăng nhiều nhưng nhân lực y tế vẫn còn thiếu, một bộ phận chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng. Số bác sĩ và điều dưỡng /1.000 dân ở nước ta còn thấp so với các nước trong khu vực, khoảng 0,8 và 1,1. Các chỉ số này của Malaixia lần lượt là 1,5 và 3,5; Xinhgapo là 2,5 và 6,2; Trung Quốc là 2,0 và 3,7; Nhật Bản là 2,4 và 12,2. Tình trạng vi phạm tiêu chuẩn đạo đức trong khám, chữa bệnh vẫn còn diễn ra dưới nhiều hình thức.

Bên cạnh đó, chính sách đãi ngộ đối với y bác sĩ còn hạn chế nên nhiều y bác sĩ bỏ nghề hoặc chuyển từ các cơ sở công lập sang cơ sở ngoài công lập. Sau Covid-19, từ đầu năm 2021 đến tháng 6-2022, có 9.397 viên chức y tế xin thôi việc, bỏ việc; bao gồm 1.190 bác sĩ, 1.177 điều dưỡng, 267 kỹ thuật y, 1.126 viên chức y tế khác(18)...

Về phát triển y học cổ truyền, kết hợp y học cổ truyền và y học hiện đại

Mạng lưới khám bệnh, chữa bệnh y học cổ truyền tiếp tục được củng cố và phát triển. Tính đến tháng 7-2025, cả nước có 66 bệnh viện y dược cổ truyền công lập và 10 bệnh viện y học cổ truyền tư nhân; tỷ lệ giường bệnh y học cổ truyền đạt 16% trên tổng số giường bệnh chung(19). Ngày 25-12-2019, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 1893/QĐ-TTg ban hành Chương trình phát triển y dược cổ truyền, kết hợp y dược cổ truyền với y dược hiện đại đến năm 2030. Việc nghiên cứu các bài thuốc dân gian, nâng cao tính khoa học của y học cổ truyền được đẩy mạnh. Thời gian qua, Bộ Y tế đã xét duyệt, công nhận 997 bài thuốc gia truyền, 27 phương pháp chữa bệnh gia truyền; sưu tầm 357 bài thuốc dân gian, trong đó đã đưa vào sử dụng 49 bài thuốc; sưu tầm 114 phương pháp chữa bệnh dân gian, trong đó đưa vào sử dụng 22 phương pháp chữa bệnh.

Tuy nhiên, thể chế phát triển y dược cổ truyền chưa đầy đủ. Hệ thống bệnh viện đa khoa y dược cổ truyền chưa phủ khắp các tỉnh thành. Chưa bảo đảm 100% bệnh viện đa khoa có chuyên khoa y dược cổ truyền. Tỷ lệ khám, chữa bệnh bằng y dược cổ truyền, kết hợp y dược cổ truyền với y dược hiện đại ở tất cả các tuyến còn thấp.

Về tăng cường độ bao phủ của một số dịch vụ y tế cơ bản

Năm 1998, tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế chỉ đạt 12,70%. Năm 2009, đạt 58% dân số. Đến năm 2023, tỷ lệ này là 93,35%, tương ứng với hơn 93,307 triệu người. Số lượt người có thẻ bảo hiểm y tế đi khám bệnh, chữa bệnh tăng nhanh qua từng năm: năm 2009 có 88,6 triệu lượt; đến hết năm 2023 có 174 triệu lượt(20). Chỉ số bao phủ các dịch vụ thiết yếu của Việt Nam đạt 70/100 điểm, cao hơn so với mức trung bình của khu vực Đông Nam Á (61 điểm) và toàn cầu (67 điểm).

Tuy nhiên, độ bao phủ bảo hiểm y tế ở nước ta rộng nhưng chưa bền vững. Ngân sách nhà nước cho y tế và bảo hiểm y tế có tăng, nhưng tổng chi chăm sóc sức khỏe bình quân theo đầu người vẫn thấp. Vẫn còn một bộ phận dân số, đặc biệt là người nghèo, cận nghèo, người dân tộc thiểu số và lao động tự do chưa có thẻ bảo hiểm y tế, cần các chính sách hỗ trợ đặc thù hơn. Có hiện tượng “phân biệt đối xử” giữa người khám chữa bệnh theo bảo hiểm y tế và khám chữa bệnh dịch vụ ở một số bệnh viện công lập.

Về tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh và chỉ số phát triển con người (HDI)

Tuổi thọ trung bình ở nước ta tuy đã có sự cải thiện rất lớn trong thời kỳ đổi mới, nhưng vẫn còn thấp hơn một số nước trong khu vực và trên thế giới. Trong khi tuổi thọ trung bình là 74,6 tuổi thì tuổi thọ khỏe mạnh chỉ 65,3 tuổi; nghĩa là người từ 65 tuổi trở lên có 10 năm là sống chung với nhiều loại bệnh. Tuổi thọ khỏe mạnh của một số nước như Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản tương ứng là: 68,3; 68,7 và 74,1.

Năm 1990, HDI của Việt Nam đạt 0,499, đến năm 2024 đã là 0.766 (tăng gần 53,5%), đứng thứ 93/193 quốc gia và vùng lãnh thổ(21). Tuy nhiên, tốc độ tăng HDI vẫn còn chậm so với khu vực, không có đột phá, thứ hạng chưa được cải thiện rõ rệt, vẫn ở nhóm trung bình. Chỉ số thu nhập thấp và chỉ số giáo dục tụt hậu ảnh hưởng gián tiếp đến tuổi thọ và làm chậm đà phát triển chung, dù giá trị HDI tuyệt đối có tăng.

Việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em

Tỷ số tử vong mẹ/100.000 trẻ đẻ sống giảm liên tục trong thời kỳ đổi mới nhưng vẫn còn cao so với một số nước trong khu vực và trên thế giới (năm 2019 là 46, so với Trung Quốc là 15,7). Tỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi tuy có xu hướng giảm nhưng vẫn còn cao so với một số nước. Theo số liệu Tổng điều tra dinh dưỡng quốc gia năm 2019-2020, tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi (chiều cao theo tuổi) ở trẻ em dưới 5 tuổi còn ở mức cao: 19,6%. Tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ em lứa tuổi học đường (5-19 tuổi) tăng từ 8,5% năm 2010 lên thành 19% năm 2020; tại các đô thị lớn là 26%. Con số này đang tiệm cận các nước phát triển(22).

Chiều cao trung bình của nam thanh niên Việt Nam 18 tuổi là 168,1cm, của nữ là 156,2cm. Chiều cao trung bình của nam nữ thanh niên 18 tuổi trên thế giới lần lượt là 176,1cm và 163,1cm(23). Theo Bảng thống kê chiều cao trung bình của các quốc gia trên thế giới dựa trên nghiên cứu của NCD Risk Factor Collaboration, chiều cao người Việt đang đứng thứ 153 trên tổng số 201 quốc gia/vùng lãnh thổ. Ở Đông Nam Á, chiều cao của người Việt Nam xếp sau Xinhgapo, Malaixia và Thái Lan(24).

Về công tác phòng bệnh

Công tác phòng bệnh được đẩy mạnh. Đến năm 2022, 63/63 tỉnh, thành phố đã thành lập Trung tâm Kiểm soát bệnh tật. Nhân lực làm công tác y tế dự phòng được quan tâm đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn. Công tác phòng, chống và quản lý bệnh không lây nhiễm, quản lý sức khỏe người dân bước đầu được triển khai tại cấp xã.

Tuy nhiên, các nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh phòng bệnh còn chưa đồng bộ; chậm ban hành luật, chính sách và các chiến lược để phòng bệnh không lây nhiễm (bệnh mạn tính). Việc khám sức khỏe định kỳ cho người dân và khám sàng lọc để phát hiện bệnh không lây nhiễm chưa được coi trọng đúng mức. Việc phân bổ nguồn lực cho y tế dự phòng và cung ứng dịch vụ về y tế dự phòng vẫn còn nhiều hạn chế.

Bên cạnh đó, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của nhân dân còn phải đối mặt với các vấn đề về môi trường, tài nguyên suy thoái, rượu bia, thuốc lá v.v. Ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất, ô nhiễm rác thải, thực phẩm bẩn v.v. vẫn đang là vấn đề nan giải, chưa có cách giải quyết hiệu quả. Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ: “Nếu chúng ta chỉ tập trung vào chữa bệnh mà bỏ qua vấn đề môi trường, để nước bị ô nhiễm, thực phẩm không an toàn, thì bệnh tật sẽ luôn sinh ra từ đó. Nguồn gốc căn cơ của bệnh không được xử lý, ô nhiễm như thế làm sao tránh được ung thư phổi (...). Nếu ăn uống không an toàn, xây bao nhiêu bệnh viện cũng không thể đủ được, đào tạo bao nhiêu bác sĩ cũng không thể giải quyết được việc này”(25).

Trong sản xuất nông nghiệp, mỗi năm, Việt Nam sử dụng khoảng 100.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật, bình quân mỗi người dân hấp thụ gián tiếp khoảng 1,1 kg mỗi năm thông qua thực phẩm hoặc môi trường. Việt Nam hiện có khoảng 4.000 loại thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, cao gấp nhiều lần so với các nước trong khu vực (Trung Quốc chỉ khoảng 630 loại, Thái Lan và Malaixia khoảng 400-600 loại). Điều này dẫn đến tạo kẽ hở cho việc nhập lậu, hàng giả, pha trộn hoạt chất sai quy chuẩn làm gia tăng tình trạng ô nhiễm(26).

Về rác thải, mỗi ngày cả nước phát sinh trên 69.400 tấn rác thải sinh hoạt, khoảng 62,97% được xử lý bằng chôn lấp (phần lớn là chôn lấp không hợp vệ sinh), còn lại được xử lý bằng hình thức đốt. Chỉ một số đô thị lớn triển khai thí điểm phân loại rác nhưng kết quả còn hạn chế. Riêng rác thải nhựa trên đất liền, mỗi năm, phát sinh 1,8 triệu tấn nhưng chỉ khoảng 27% được thu gom, phân loại và tái chế.

2. 3. Kiến nghị một số nhiệm vụ, giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong kỷ nguyên phát triển mới

Thứ nhất, thực hiện hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nhất là Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9-9-2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân

Về mặt thể chế, chúng ta đã ban hành khá đầy đủ, vấn đề đặt ra là làm thế nào để triển khai hiệu quả trong thực tế. Nguyên nhân khiến việc triển khai thể chế ở Việt Nam gặp vướng mắc là do: 1) Nhận thức và quyết tâm của những người thực hiện (tổ chức đảng, chính quyền, lãnh đạo các đơn vị liên quan); 2) Nguồn lực con người; 3) Nguồn lực tài chính; 4) Thủ tục hành chính cản trở; 5) Công tác kiểm tra, kiểm soát chưa tốt. Từ đây, xin đề xuất một số kiến nghị:

Một là, đổi mới cách triển khai và thực hiện nghị quyết theo phương châm “5 rõ” và “2 thật”: rõ việc, rõ người, rõ thời gian, rõ trách nhiệm và rõ kết quả; hành động thật và kết quả thật. Ví dụ, để thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW, Bộ Y tế, sở y tế, bệnh viện v.v. có bao nhiêu đầu việc phải làm (rõ việc); bộ phận nào, cá nhân nào thực hiện (rõ người); thời gian hoàn thành (rõ thời gian), kết quả cụ thể (rõ kết quả); nếu thực hiện không hiệu quả, trách nhiệm đến đâu (rõ trách nhiệm). Các cấp, các ngành, các cá nhân liên quan cần có chương trình, kế hoạch hành động cụ thể, mới mẻ, không “loanh quanh vào những việc mà chúng ta đang làm” như Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ ra(27), công khai ở những phạm vi nhất định để đông đảo nhân dân, cán bộ cùng theo dõi, động viên, hỗ trợ, kiểm tra v.v.

Hai là, nghiên cứu toàn diện những điểm nghẽn về thể chế liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân như: đào tạo nhân lực, phát triển hệ thống bệnh viện, chi trả bảo hiểm y tế, mua sắm thuốc và vật tư y tế, v.v. Khi phát hiện điểm nghẽn cần từng bước tháo gỡ, nếu thấy cần thiết phải ban hành pháp luật cụ thể để ràng buộc trách nhiệm.

Ba là, định kỳ, Chính phủ, Bộ Y tế và chính quyền các tỉnh, thành phố tổ chức đối thoại với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực y tế để lắng nghe ý kiến và những khó khăn của họ. Đây là cách mà Bộ Y tế và một số địa phương đã thực hiện. Tuy nhiên, cần mở rộng đối tượng tham dự (đại biểu Quốc hội, các chuyên gia trong lĩnh vực lập pháp có liên quan, các nhà khoa học v.v.).

Bốn là, đổi mới việc tổ chức Hội nghị triển khai công tác y tế toàn quốc hằng năm theo hướng thực hiện nghiêm túc các nội dung liên quan trong Kết luận số 226-KL/TW ngày 11-12-2025 của Ban Bí thư về việc chấn chỉnh lề lối làm việc, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Định kỳ, tổ chức Hội nghị bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân cấp tỉnh và cấp toàn quốc với sự tham gia của các bộ ngành liên quan và chính quyền các địa phương. Cấp toàn quốc thì có sự tham dự chỉ đạo của một đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng. Cấp tỉnh có sự tham dự chỉ đạo của chủ tịch tỉnh.

Năm là, các văn kiện của Đảng nên nhấn mạnh quan điểm y tế là một trụ cột quan trọng của xã hội, bên cạnh giáo dục và văn hóa. Đây là phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại phiên thảo luận tổ của Quốc hội ngày 25-11-2025: văn hóa, y tế và giáo dục là những trụ cột quan trọng của xã hội, không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực để phát triển nguồn nhân lực(28).

Sáu là, trong bối cảnh tổ chức lại chính quyền địa phương như hiện nay, cần đưa vấn đề bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của nhân dân vào các chương trình đào tạo lý luận chính trị, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý; với các nội dung chính: tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của nhân dân; nhiệm vụ, giải pháp...).

Thứ hai, về xây dựng cơ sở y tế và phát triển đội ngũ nhân lực ngành y tế.

Nghề y là một nghề đặc biệt, về vị trí, tầm quan trọng đối với xã hội; về quá trình đào tạo; về cường độ lao động; về lương tâm và lòng nhân ái; v.v. Vì vậy, nghề y phải được đối xử như một nghề đặc biệt; nghĩa là có những chính sách đặc thù, về chế độ làm việc, chế độ đào tạo, phụ cấp ưu đãi. Xin kiến nghị như sau:

Một là, nghiên cứu, ưu tiên chuyển đổi các công sở dôi dư sau sáp nhập thành bệnh viện, trường học, công viên sinh thái, nhà dưỡng lão. Xử lý dứt điểm tình trạng các bệnh viện “nghìn tỷ” xây dựng dở dang kéo dài, lãng phí; các thiết bị y tế hiện đại hàng chục tỷ đồng nhưng không sử dụng được.

Hai là, tiếp tục cải cách tiền lương, phụ cấp đối với người làm việc tại các cơ sở y tế công lập theo hướng tăng thỏa đáng các chế độ phụ cấp đặc thù như: phụ cấp ưu đãi nghề, phụ cấp thường trực, chống dịch, phẫu thuật, thủ thuật v.v. Nghiên cứu miễn giảm học phí đối với sinh viên y tế. Bác sĩ, dược sĩ được xếp lương bậc 2 ngay khi tuyển dụng.

Ba là, rà soát, sắp xếp lại các trường đào tạo y tế. Cần xem xét lại việc cho phép các trường đại học đa ngành đào tạo y bác sĩ, tiêu chuẩn tuyển sinh ngành y tế. Không thể vì thiếu bác sĩ mà cho phép mở rộng đào tạo ngành y. Việc có nhiều trường đa ngành đào tạo y tế dẫn đến phân tán nguồn lực, chất lượng không đồng đều, sinh viên thực hành quá tải, điểm đầu vào thấp (do cạnh tranh, chạy theo nhu cầu thị trường...) ảnh hưởng nghiêm trọng đến chuyên môn sâu, tay nghề thực tế, làm suy yếu năng lực đào tạo nhân lực y tế chất lượng cao. Trước năm 2000, việc thi vào trường Y (nhất là Trường Đại học Y Hà Nội cực kỳ khó khăn, đòi hỏi học sinh phải có thành tích xuất sắc vượt trội, giúp chọn lọc ra những nhân tài thực sự, tạo nên thế hệ bác sĩ giỏi chuyên môn và tận tâm.

Bốn là, xây dựng chế độ chuyên gia y tế, ưu đãi các tài năng để họ không bị cuốn vào công việc quản lý, phải làm nhiều việc ngoài chuyên môn (như quản lý tài chính, xây dựng, mua sắm, họp hành chính v.v.). Các chuyên gia được công nhận dựa theo bộ tiêu chuẩn nhất định, xếp ở những cấp bậc nhất định; chế độ đãi ngộ tương đương với các cấp bậc lãnh đạo, quản lý; có vai trò nhất định trong những vấn đề chuyên môn.

Năm là, để đến năm 2027, trạm y tế cấp xã có ít nhất từ 4-5 bác sĩ, tỷ lệ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tại trạm y tế cấp xã lên trên 20%, cần xây dựng chế độ phân công công tác bắt buộc đối với sinh viên ngành y tế (có ưu đãi đối với sinh viên tốt nghiệp xuất sắc): các sinh viên mới ra trường phải về công tác tại cơ sở, vùng sâu, vùng xa ít nhất 2 năm; kết hợp thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu bắt buộc sau đào tạo.

Thứ ba, xử lý triệt để vấn đề môi trường, gốc rễ của bệnh tật, xây dựng một môi trường sống và làm việc trong lành. Về vấn đề này, đề xuất một số kiến nghị:

Một là, xác định đầy đủ nguyên nhân, mức độ gây ra từng loại ô nhiễm (không khí, nguồn nước, đất và rác thải), ở những khu vực khác nhau và có lộ trình xử lý phù hợp, hiệu quả, thời gian cụ thể, chuẩn bị về hạ tầng và các điều kiện kỹ thuật, có tính đến tác động đối với đời sống của nhân dân.

Hai là, tích cực thúc đẩy phát triển nền nông nghiệp xanh, nông nghiệp sinh thái, an toàn và bền vững. Tuyên truyền, hướng dẫn nông dân không lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật. Xem xét lại toàn bộ quy trình quản lý các loại thuốc và phân bón nông nghiệp, từ cấp phép, hậu kiểm đến công khai dữ liệu. Sàng lọc, rút gọn danh mục thuốc bảo vệ thực vật, loại bỏ những hoạt chất độc hại, lạc hậu mà thế giới đã cấm sử dụng. Nghiên cứu sản xuất và gia tăng tỷ lệ sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật sinh học.

Ba là, phát triển hệ thống giao thông công cộng sử dụng năng lượng tái tạo, thuận lợi cho sự di chuyển của người dân. Khuyến khích nhân dân sử dụng xe đạp bằng những chính sách hiệu quả như nhiều nước đã làm thành công.

Bốn là, phát triển hệ thống cây xanh đô thị và các công viên để hấp thu khí thải CO2, thu hút người dân tham gia thể dục thể thao, rèn luyện sức khỏe. Các không gian tự nhiên như hồ nước, bờ sông, bờ biển cần được bảo vệ, phát triển thành không gian chung của cộng đồng, nhiều người có thể hưởng thụ, không chỉ dành cho một số ít người. Sớm khắc phục, sửa chữa những sai lầm, yếu kém về quản lý đô thị trước đây, quy hoạch lại đô thị để có những đô thị hiện đại, văn minh, xanh sạch đẹp; xử lý những khu nhà nhiều ngõ hẻm quanh co, xây dựng thiếu đồng bộ.

Năm là, tiếp tục tích cực xử lý rác thải đô thị bằng những giải pháp đồng bộ về quản lý, tuyên truyền, hướng dẫn, phân loại, thu gom, tái chế, xử lý v.v. Đầu tư xây dựng các nhà máy xử lý rác thải thành phân bón. Các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh bao bì, sản phẩm nhựa có trách nhiệm thu hồi và xử lý rác thải từ sản phẩm mà họ tạo ra, như tài trợ cho hệ thống thu gom rác thải tái chế; siêu thị có trách nhiệm thu hồi bao bì, khuyến khích người dân đổi lấy ưu đãi. Nghiên cứu việc thu phí thu gom rác theo khối lượng.

Sáu là, phát triển hệ thống thu gom, xử lý và tái chế nước thải, không xả nước thải chưa xử lý ra môi trường; tiến tới cung cấp nước tinh khiết có thể uống trực tiếp. Nghiên cứu việc thu thuế nước. “Thu tiền để thấy trách nhiệm của chúng ta trong tiết kiệm nước, trách nhiệm với vấn đề ô nhiễm môi trường”(29).

Bảy là, thông tin minh bạch, chính xác về mức độ các loại ô nhiễm ở những đô thị lớn để cảnh báo người dân có biện pháp đề phòng và chính quyền có trách nhiệm. Không né tránh việc công khai các vấn đề ảnh hưởng sức khỏe nhân dân. Xử lý nghiêm những tiêu cực như Tổng Bí thư đã nêu: “Các đối tượng ở trạm quan trắc thông đồng với nhà máy để cho các chỉ số mức độ ô nhiễm không chính xác”(30).

Thứ tư, tiếp tục thúc đẩy chuyển đổi số trong ngành y tế một cách toàn diện và hiệu quả. Tính đến ngày 30-6-2025, Bộ Y tế đã kết nối 100% dịch vụ công trực tuyến lên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính; đã hoàn thành hạ tầng kỹ thuật của các nền tảng số: nền tảng hồ sơ sức khỏe điện tử; nền tảng hỗ trợ tư vấn khám chữa bệnh từ xa v.v.. Tuy nhiên, công tác chuyển đổi số còn chậm, nhất là việc triển khai bệnh án điện tử và ký số. Nhiều nơi vẫn làm thủ tục trên giấy song song với số hóa, chưa giảm tải được công việc cho cán bộ y tế. Dữ liệu chưa được chia sẻ, người dân phải khai báo lại thông tin nhiều lần, y bác sĩ vẫn tốn thời gian nhập liệu thủ công. Điểm nghẽn chính của chuyển đổi số trong ngành y tế là hạ tầng số, nguồn nhân lực và thói quen của người dân. Đây là những vấn đề chung trong chuyển đổi số quốc gia, cần có những giải pháp tổng thể và đồng bộ.

3. Kết luận

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến hạnh phúc của nhân dân, luôn coi hạnh phúc nhân dân là mục tiêu tối thượng, đã có những chỉ dẫn sâu sắc về chăm sóc sức khỏe qua việc nhấn mạnh “Y tế phải phục vụ nhân dân”, “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”, và xây dựng y tế cơ sở, kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền, thực hành y đức. Vận dụng tư tưởng của Người, công tác y tế Việt Nam những năm qua đã đạt thành tựu to lớn trong phòng chống dịch, nâng cao sức khỏe cộng đồng, thể hiện tinh thần “bác sĩ như mẹ hiền” và lan tỏa sâu rộng trong dân tộc, với hệ thống y tế bao phủ và ý thức chăm sóc sức khỏe toàn dân ngày càng nâng cao.

Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV và Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09-9-2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân đã đề ra những giải pháp đột phá để xây dựng một nước Việt Nam khỏe mạnh, mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe, sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh.

_________________

Bài đăng trên số đặc biệt năm 2026 chào mừng Đại hội XIV của Đảng

Ngày nhận bài: 15-12-2025; Ngày bình duyệt: 27-12-2025; Ngày duyệt đăng: 05-01-2026.

Email tác giả: phancongkhanh@gmail.com

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.241.

(2), (12), (13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.9, Sđd, tr.344, 518, 518.

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.186.

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.15, Sđd, tr.259.

(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Sđd, tr.72.

(6), (8), (9), (11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Sđd, tr.488, 487, 16, 111.

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8, Sđd, tr.154.

(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, Sđd, tr.34.

(14) Quyết định số 1092/QĐ-TTg ngày 2-9-2018 của Thủ tướng Chính phủ.

(15) Quyết định số 89/QĐ-TTg ngày 23-01-2024 của Thủ tướng Chính phủ.

(16) N.Dung: Hơn 90% trạm y tế xã có bác sĩ làm việc, https://nld.com.vn, ngày 16-1-2025.

(17) Bộ 83 tiêu chí quản lý chất lượng bệnh viện của Bộ Y tế (ban hành theo Quyết định 6858/QĐ-BYT 2016), chia làm 5 nhóm chính: Hướng đến người bệnh (19 tiêu chí), Phát triển nguồn nhân lực (14 tiêu chí), Hoạt động chuyên môn (38 tiêu chí), Cải tiến chất lượng (8 tiêu chí) và Tiêu chí đặc thù (4 tiêu chí); được dùng để cải thiện chất lượng dịch vụ, nâng cao sự hài lòng người bệnh và tuân thủ chuẩn mực y tế

(18) Cần làm gì để ngăn ‘làn sóng’ nhân viên y tế bỏ việc, nghỉ việc? https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn, ngày 20-7-2022.

(19) Minh Hoàng: Y dược cổ truyền chưa phát triển tương xứng với tiềm năng và thế mạnh vốn có, https://nhandan.vn, ngày 4-7-2025.

(20) Thùy Giang: Hành trình của nền y tế trí tuệ và những khát vọng dựng xây đất nước, https://mega.vietnamplus.vn, ngày 20-8-2025.

(21) Ngọc Diệp: Phát triển con người trong kỷ nguyên AI: Cơ hội và thách thức cho Việt Nam, https://vjst.vn, ngày 12-5-2025.

(22) Trần Huyền: Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thấp còi còn cao, https://dansinh.dantri.com.vn, ngày 05-6-2025.

(23) P.V: Người Việt cần cao bao nhiêu để đạt chiều cao trung bình của WHO?, https://tienphong.vn, ngày 29-2-2024.

(24) Lê Nga: Chiều cao người Việt tăng nhưng vẫn thuộc top thấp, https://vnexpress.net/chieu-cao-nguoi-viet-tang-nhung-van-thuoc-top-thap-4904443.html, ngày 22-6-2025.

(25), (26) Ánh Phương: Quản lý thuốc bảo vệ thực vật và phân bón: Lỗ hổng minh bạch, nỗi lo dài hạn, https://vov.vn, ngày 24-6-2025.

(27), (28) Ánh Phương: Tổng Bí thư Tô Lâm: Thực phẩm không an toàn, xây bao nhiêu bệnh viện cũng thiếu, https://vov.vn, ngày 25-11-2025.

(29), (30) Phạm Đông: Không giải quyết vấn đề ô nhiễm, xây bao nhiêu bệnh viện nữa cũng không đủ, https://laodong.vn, ngày 15-12-2025.