Phát huy vai trò của mô hình dân chủ số dưới sự lãnh đạo của Đảng
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.3069
Tóm tắt: Bài viết phân tích mô hình dân chủ số trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Chính phủ số, xã hội số và tăng cường sự tham gia của người dân vào quản trị nhà nước. Trên cơ sở đó, chỉ ra yêu cầu hoàn thiện thể chế, đồng bộ hóa hạ tầng số, tăng cường năng lực số của người dân và bảo đảm an toàn thông tin nhằm phát huy hiệu quả dân chủ số trong điều kiện chuyển đổi số quốc gia.
PGS, TS NGUYỄN TẤN VINH
PGS, TS VÕ HỮU PHƯỚC
Học viện Chính trị khu vực II

1. Mở đầu
Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, công nghệ số đang tái định hình cách thức người dân tiếp cận thông tin, tham gia đời sống chính trị - xã hội và giám sát hoạt động công vụ. Tại Việt Nam, yêu cầu thực hiện dân chủ trong kỷ nguyên số được đặt trong tổng thể chiến lược đổi mới quản trị quốc gia. Đại hội XIII khẳng định “Phát triển mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính của tăng trưởng kinh tế. Thực hiện chuyển đổi số trong quản trị quốc gia, quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh, tổ chức xã hội và quản lý tài nguyên quốc gia”(1).
Chuyển đổi số là động lực quan trọng của phát triển, đồng thời là phương thức nâng cao hiệu lực quản trị và mở rộng quyền làm chủ của Nhân dân. Việc xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số được xem là ba trụ cột tạo nền tảng để người dân tham gia sâu hơn vào đời sống chính trị - xã hội thông qua các nền tảng số(2).
Dân chủ số chỉ có thể phát huy đầy đủ dưới sự lãnh đạo toàn diện, thống nhất của Đảng. Các định hướng quan trọng như Nghị quyết 36a/NQ-CP ngày 14-10-2015 về Chính phủ điện tử; Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03-6-2025 phê duyệt chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030,... đã đặt cơ sở chính trị - pháp lý cho việc phát triển các mô hình dân chủ trên môi trường số, đồng thời khẳng định yêu cầu bảo đảm an ninh mạng, chủ quyền số và sự lành mạnh của không gian đối thoại.
Trong những năm qua, Việt Nam đã ghi nhận nhiều tiến bộ trong việc mở rộng sự tham gia của người dân, thúc đẩy dữ liệu mở và ứng dụng công nghệ trong quản trị công theo tinh thần chuyển đổi số quốc gia, nhưng thực tiễn triển khai vẫn bộc lộ không ít thách thức. Đó là, tình trạng phân mảnh nền tảng, thiếu liên kết đồng bộ dữ liệu giữa các cơ quan từ Trung ương đến địa phương(3); khoảng cách số giữa các nhóm dân cư còn đáng kể, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tham gia của người dân trên môi trường số(4). Trong bối cảnh đó, việc tiếp cận và nghiên cứu mô hình dân chủ số dưới góc độ lý luận và thực tiễn, đặc biệt là trong mối liên hệ với vai trò lãnh đạo của Đảng trong xây dựng Chính phủ số, xã hội số và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa trở thành yêu cầu cấp thiết, giúp làm rõ các điều kiện, cơ chế và giải pháp để dân chủ số thực sự trở thành động lực mới cho phát triển đất nước trong thời kỳ chuyển đổi số toàn diện.
2. Nội dung
2.1. Cơ sở lý luận về dân chủ và dân chủ số
Thứ nhất, khái niệm dân chủ số
Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam kiên trì xây dựng, đồng thời là mục tiêu và động lực quan trọng của phát triển đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh bản chất của dân chủ qua quan điểm “dân là chủ” và “dân làm chủ”, đặt nhân dân vào vị trí chủ thể quyết định đối với Nhà nước, xã hội và chính mình. Việc thực hành dân chủ phải gắn với pháp chế, kỷ cương và sự tôn trọng Hiến pháp, pháp luật; đây là điều kiện nền tảng để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Sự kết hợp hài hòa giữa dân chủ và pháp chế cũng thể hiện rõ ưu việt của hệ thống chính trị Việt Nam, hướng tới một xã hội công bằng và văn minh.
Từ những luận điểm đó, có thể thấy dân chủ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng và thực hiện là hình thức dân chủ cao, dựa trên việc bảo đảm quyền tự do, bình đẳng của công dân và khẳng định nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực chính trị. Trong bối cảnh mới, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa là quá trình làm sâu sắc, mở rộng và nâng tầm nền dân chủ đã xây dựng, nhằm bảo đảm nền dân chủ thấm sâu trong đời sống xã hội và trở thành sức mạnh quyết định đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước.
Trong kỷ nguyên số, việc thực hiện dân chủ của công dân trở thành chủ đề được quan tâm rộng rãi khi công nghệ số tác động mạnh đến cách thức công dân tham gia đời sống chính trị. Công dân không còn chỉ tiếp nhận thông tin một chiều, mà trở thành chủ thể tích cực, có khả năng bày tỏ quan điểm, đóng góp ý kiến và tham gia vào quá trình hoạch định chính sách thông qua các công cụ số. Hiểu một cách khái quát, dân chủ số là việc ứng dụng công nghệ để mở rộng và nâng cao sự tham gia của người dân vào đời sống chính trị.
Đại hội XIII khẳng định “Thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân”(5). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03-6-2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 xác định quan điểm “Người dân là trung tâm của chuyển đổi số”(6). Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 xác định khung pháp lý để người dân công khai thông tin, gửi ý kiến và giám sát bằng các phương thức điện tử(7).
Từ các định hướng về xây dựng Chính phủ số, chuyển đổi số quốc gia và thực hiện dân chủ ở cơ sở, kết hợp với đặc trưng của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ số có thể được hiểu là hệ thống các phương thức quản trị và tương tác xã hội được thiết lập trên nền tảng công nghệ số nhằm mở rộng và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thực hiện các quyền tham gia, giám sát, thảo luận và thụ hưởng các thành quả của quản lý nhà nước thông qua môi trường điện tử trên nguyên tắc tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình của bộ máy nhà nước. Theo cách tiếp cận này, dân chủ số gồm ba hợp phần chính:
(1) Hạ tầng công nghệ số: giữ vai trò nền tảng của dân chủ số. Đây là điều kiện kỹ thuật để vận hành các quy trình số, được thiết kế theo các nguyên tắc số hóa từ đầu (digital-by-design) và định hướng dựa trên dữ liệu (data-driven). Hạ tầng dữ liệu thống nhất, liên thông giúp tăng minh bạch, dữ liệu mở và tạo nền móng cho các hình thức tham gia mới của công dân.
(2) Nền tảng thúc đẩy sự tham gia của công dân: giữ vai trò trung tâm trong việc hiện thực hóa dân chủ số. Các nền tảng được phát triển theo hướng lấy người dùng làm trung tâm (user-driven) nhằm tạo điều kiện cho công dân tham gia thực chất vào tham vấn chính sách, xây dựng chính sách hoặc phản ánh, giám sát đô thị theo thời gian thực. Đây là cấu phần trực tiếp chuyển hóa công nghệ thành quyền tham gia chính trị của người dân.
(3) Cơ chế phản hồi - giải trình: là cốt lõi bảo đảm dân chủ số vận hành đúng bản chất. Các bảng dữ liệu trực quan (dashboard), dữ liệu mở và cơ chế phản hồi theo thời gian thực giúp giảm bất đối xứng thông tin, nâng minh bạch và bảo đảm tiếng nói của công dân được tiếp thu và giải trình một cách đầy đủ.
Thứ hai, vai trò lãnh đạo của Đảng trong định hướng và phát huy mô hình dân chủ số ở Việt Nam
Việc phát triển dân chủ số ở Việt Nam không tách rời đặc điểm của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Đại hội XIII khẳng định quan điểm “Dân là gốc” và phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”(8).
Trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia, Đảng và Nhà nước liên tục ban hành nhiều chủ trương quan trọng nhằm ứng dụng công nghệ số để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và mở rộng dân chủ. Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14-10-2015 về Chính phủ điện tử với mục tiêu: “nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn... Công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước trên môi trường mạng”(9). Nghị quyết số 52-NQ/TW nhấn mạnh “phát triển kinh tế số, xây dựng đô thị thông minh, chính quyền điện tử, tiến tới chính quyền số”(10), khẳng định chuyển đổi số là nhiệm vụ chiến lược, là công cụ để xây dựng Chính phủ số để nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý nhà nước. Quyết định 2629/QĐ-TTg ngày 01-12-2025 phê duyệt Chương trình phát triển Chính phủ số xác định mục tiêu “Đến năm 2030, Việt Nam hoàn thành xây dựng Chính phủ số, hình thành Chính phủ thông minh vận hành trên nền tảng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo”(11). Như vậy có thể thấy, Chính phủ số là cơ sở hạ tầng, còn dân chủ số là phương thức vận hành nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong môi trường hiện đại với mục tiêu cuối cùng là xây dựng một xã hội số và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân.
Trong định hướng phát triển, Đảng đã thông qua các nghị quyết nhằm dẫn dắt việc hình thành và phát huy dân chủ số. Nghị quyết số 52-NQ/TW yêu cầu “thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên tất cả các ngành, lĩnh vực và thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia”(12); Nghị quyết 35-NQ/TW nhấn mạnh nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền không gian mạng, chủ động đấu tranh với thông tin xấu độc, tạo môi trường số an toàn, lành mạnh để người dân thực hành dân chủ một cách văn minh và có trách nhiệm(13). Theo đó, vai trò lãnh đạo của Đảng trong phát huy mô hình dân chủ số thể hiện trên bốn phương diện cốt lõi:
- Định hướng tư tưởng: xác lập hệ giá trị và tầm nhìn phát triển phù hợp định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm hài hòa giữa quyền làm chủ của nhân dân và ổn định chính trị - xã hội.
- Lãnh đạo hoàn thiện thể chế: chỉ đạo xây dựng khung pháp lý về quản trị dữ liệu, dịch vụ công số, tham vấn chính sách trực tuyến và quyền tiếp cận thông tin, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho dân chủ số.
- Phát huy vai trò nhân dân: tăng cường cơ chế “Nhà nước - doanh nghiệp - người dân” trên nền tảng số, mở rộng kênh tham gia, huy động trí tuệ xã hội và củng cố đồng thuận trong không gian số.
- Bảo đảm an ninh - an toàn thông tin: kiểm soát rủi ro trên không gian mạng, bảo vệ dữ liệu và chủ quyền số, giữ vững ổn định chính trị trong quá trình mở rộng dân chủ và chuyển đổi số.
Những định hướng này khẳng định vai trò dẫn dắt của Đảng trong bảo đảm mô hình dân chủ số phát triển đúng hướng, bền vững và thấm sâu vào đời sống, qua đó nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia và củng cố quyền làm chủ của nhân dân trong kỷ nguyên số.
2.2. Thực trạng mô hình dân chủ số ở Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, hạ tầng công nghệ số và thể chế chính sách
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã xây dựng tương đối đầy đủ khung thể chế và nền tảng hạ tầng phục vụ chuyển đổi số - yếu tố cốt lõi của mô hình dân chủ số.
Về mặt pháp lý, nhiều văn bản quan trọng được ban hành như Luật An ninh mạng năm 2018, Nghị định 47/2020/NĐ-CP ngày 09-4-2020 về quản lý, kết nối, chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước, đặt nền móng cho Chính phủ số và dữ liệu mở. Gần đây, hệ thống pháp luật tiếp tục được hoàn thiện với Luật Giao dịch điện tử (sửa đổi), Luật Căn cước công dân (mới) và nhiều thông tư, nghị định hướng dẫn, tạo khung khổ pháp lý đồng bộ cho chuyển đổi số. Đặc biệt, Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06-01-2022 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 đã trở thành hành lang pháp lý cốt lõi cho nhiều dịch vụ số. Các quy định pháp luật này đóng vai trò then chốt trong việc mở rộng quyền tiếp cận dịch vụ công của người dân và xây dựng “công dân số”.
Về nền tảng hạ tầng, trong những năm qua, nền tảng VneID đưa 6 nhóm giấy tờ chính lên nền tảng điện tử, gồm: hơn 20,2 triệu giấy phép lái xe, gần 7,5 triệu đăng ký xe, hơn 26,4 triệu thẻ bảo hiểm y tế, cùng với hàng trăm nghìn giấy xác nhận tình trạng hôn nhân và phiếu lý lịch tư pháp(14), trên 57,9 triệu tài khoản VneID. Cổng dịch vụ công quốc gia kết nối, chia sẻ, xác thực 49/76 dịch vụ công thiết yếu, trong đó, 23/25 dịch vụ công thiết yếu theo Đề án 06 đã được thực hiện toàn trình, giúp tiết kiệm cho nhà nước, xã hội gần 3.500 tỷ đồng/năm(15).
Thứ hai, nền tảng thúc đẩy sự tham gia của công dân
Trên phạm vi quốc gia, các bộ, ngành đã công khai dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trên Cổng Thông tin điện tử để lấy ý kiến nhân dân với nhiều dự thảo luật quan trọng có hàng triệu lượt đóng góp tham gia. Như trong đợt lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Đất đai với hơn 9 triệu lượt ý kiến(16), dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, có hơn 3 triệu ý kiến từ cán bộ, đảng viên, nhân dân qua nền tảng VneID(17).
Ở cấp địa phương, nhiều mô hình tham gia số được triển khai. Tiêu biểu là Hue-S - “siêu ứng dụng” đô thị thông minh của Huế, với chức năng “Phản ánh hiện trường” cho phép người dân gửi kiến nghị kèm hình ảnh, tọa độ. Hay ứng dụng Công dân Thủ đô số - iHanoi của Hà Nội, tích hợp các chức năng phản ánh hiện trường, phản ánh thủ tục hành chính và đăng ký tiếp công dân trực tuyến. Bên cạnh ứng dụng riêng, chính quyền các cấp còn sử dụng Zalo Official Account (Zalo OA) như một kênh tương tác phổ biến, với 14.733 tài khoản của cơ quan nhà nước các cấp tính đến tháng 9-2025(18), việc ứng dụng Zalo OA giúp người dân tương tác thuận tiện hơn.
Thứ ba, cơ chế phản hồi - giải trình của cơ quan công quyền
Cùng với mở rộng sự tham gia của người dân, các cơ quan nhà nước cũng chú trọng hơn đến công khai, minh bạch và phản hồi kiến nghị của người dân. Mô hình “Quốc hội điện tử” giúp kết nối hoạt động tiếp xúc cử tri với hệ thống thông tin của Quốc hội. Theo Báo cáo Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV, đã tiếp nhận và giải quyết 1.433/1.472 kiến nghị của cử tri (tỷ lệ 97,4%)(19). Điều này cho thấy trách nhiệm giải trình được nâng lên rõ rệt. Ở địa phương, các phản ánh “nóng” của người dân qua ứng dụng số được tiếp nhận và xử lý nhanh hơn, góp phần giảm điểm nóng và nâng cao hiệu quả quản trị. Nhiều nền tảng còn cung cấp chức năng theo dõi tiến độ xử lý phản ánh, giúp người dân giám sát minh bạch(20).
Với những nỗ lực trong xây dựng, hoàn thiện và tăng cường dân chủ xã hội chủ nghĩa trên nền tảng số, Việt Nam đã đạt được những kết quả: (1) sự minh bạch và tham gia chính sách được mở rộng với quá trình công khai dự thảo và lấy ý kiến trực tuyến văn bản quy phạm pháp luật ngày càng bài bản, qua đó huy động được nguồn tri thức xã hội rộng lớn. Minh bạch trở thành chuẩn mực mới trong xây dựng chính sách. (2) Sự phát triển của các nền tảng tương tác như Hue-S, iHanoi, hay các kênh Zalo OA của chính quyền đã rút ngắn đáng kể khoảng cách giữa cơ quan công quyền và người dân. Các phản ánh “nóng” được tiếp nhận, xử lý và phản hồi nhanh hơn, giúp giảm điểm nóng, củng cố tính kịp thời và hiệu lực trong quản trị địa phương. (3) Hệ thống dịch vụ công trực tuyến tiếp tục mở rộng. Cổng Dịch vụ công quốc gia đã cung cấp 4,5 nghìn dịch vụ công trực tuyến; có hơn 12,17 triệu tài khoản; hơn 287 triệu hồ sơ đồng bộ; hơn 30,2 triệu lượt thực hiện các dịch vụ tiện ích(21). Những con số này phản ánh rõ hiệu quả của số hóa thủ tục hành chính và mức độ chấp nhận ngày càng cao của người dân. (4) Nâng cao trách nhiệm giải trình với số lượng kiến nghị của cử tri gửi tới Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV được giải quyết, cho thấy cơ quan lập pháp và hành pháp đã chủ động hơn trong việc tiếp thu, phản hồi và giải trình. Chính quyền lắng nghe, phản hồi nhanh tạo hiệu ứng củng cố niềm tin chính trị và gắn kết Đảng - Nhà nước - nhân dân.
Tuy đạt được nhiều thành tựu, nhưng quá trình thực hiện dân chủ số của Việt Nam vẫn còn một số hạn chế, thách thức:
Một là, khoảng cách số sẽ khiến xuất hiện xu hướng bất bình đẳng trong tiếp cận
Khoảng cách số đang tạo ra nguy cơ bất bình đẳng mới trong mô hình dân chủ số, khi quyền tham gia chính trị trên môi trường số tập trung chủ yếu vào nhóm cư dân đô thị có điều kiện hạ tầng và kỹ năng công nghệ tốt hơn. Ngược lại, người dân ở nông thôn, miền núi và nhóm yếu thế ít được tiếp cận.
Dữ liệu từ VNeID cho thấy dù đã cấp 86 triệu thẻ căn cước công dân gắn chíp và thu nhận trên 75,16 triệu hồ sơ định danh điện tử, kích hoạt trên 53,88 triệu tài khoản(22), những tài khoản chưa có hoặc chưa kích hoạt định danh điện tử mức độ cao, đồng nghĩa với một bộ phận lớn người dân chưa thể tham gia đầy đủ vào các kênh phản hồi và tương tác số.
Hệ quả là dữ liệu góp ý trên các nền tảng số có nguy cơ thiên lệch khi phản ánh chủ yếu vấn đề của cư dân thành thị (ùn tắc giao thông, ô nhiễm, thủ tục hành chính...), trong khi các mối quan tâm đặc thù của nông thôn như thủy lợi, giá nông sản hay y tế cơ sở có thể bị mờ nhạt. Điều này đặt ra yêu cầu bảo đảm tính đại diện và bao trùm trong toàn bộ quá trình thực hiện dân chủ số.
Hai là, chất lượng phản hồi và rủi ro của “bệnh hình thức số”
Việc ứng dụng các nền tảng số giúp tỷ lệ giải quyết phản ánh tăng mạnh, nhưng những con số ấn tượng này không đồng nghĩa với chất lượng phản hồi. Nguy cơ “tự động hóa sự quan liêu” xuất hiện khi bộ máy hành chính chạy theo số lượng mà thiếu phân tích chiều sâu.
Nghịch lý thể hiện rõ ở trường hợp Quốc hội với tỷ lệ giải quyết 1.433/1.472 kiến nghị là rất cao, nhưng quy mô này quá nhỏ so với 101 triệu dân. Trong khi đó, riêng dự thảo Luật Đất đai đã nhận hơn 9 triệu lượt góp ý, vượt xa khả năng xử lý thủ công (nếu dành 5 phút để đọc một ý kiến thì tổng thời gian cần thiết lên tới 45 triệu phút), điều hoàn toàn bất khả thi nếu không có công nghệ hỗ trợ như trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu lớn hay tự động hóa. Vì vậy, các góp ý quy mô lớn thường chỉ được tổng hợp về số lượng, còn chiều sâu nội dung bị bỏ sót. Điều này dẫn đến tình trạng “lắng nghe nhưng không thấu hiểu”, làm cho phản hồi trở nên hình thức, khuôn mẫu và giảm niềm tin của người dân vào đối thoại chính sách. Đây chính là biểu hiện điển hình của “bệnh hình thức số” trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.
Ba là, luồng thông tin bị cản trở, các “ốc đảo dữ liệu” (data silo) phân mảnh
Từ khi thực hiện Quyết định số 112/2001/QĐ-TTG ngày 25-7-2001 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2005 cho đến nay, hệ thống nền tảng số của Việt Nam phát triển nhanh, nhưng chủ yếu theo chiều rộng. Các hệ thống, nền tảng phát triển nhiều, song khả năng liên kết lại chưa tương xứng. Chính sự thiếu kết nối này khiến luồng thông tin bị đứt đoạn, dữ liệu bị chia cắt và nguồn lực bị phân tán.
Hiện có hàng chục ứng dụng và hàng trăm cổng thông tin của các bộ, ngành, địa phương, nhưng các nền tảng này giải quyết được nhu cầu riêng lẻ, nhưng không liên thông nên phản ánh của người dân từ cấp phường, xã không chắc đã được chuyển lên hệ thống của thành phố hoặc trung ương để tổng hợp và phân tích.
Khi dữ liệu bị “giam” trong từng nền tảng riêng biệt, người dân buộc phải cài nhiều ứng dụng, tạo nhiều tài khoản và phải nhớ nhiều quy trình, gây mệt mỏi và giảm động lực tham gia. Lớn hơn, sự phân mảnh này khiến Chính phủ khó có được bức tranh thời gian thực về tâm tư, nhu cầu và xu hướng phản ánh của người dân, làm hạn chế hiệu quả của quản trị số.
Bốn là, vấn đề an ninh mạng và thách thức từ mặt trái của kết nối
Việc mở rộng dân chủ số nhất là khi dữ liệu bị phân mảnh tại nhiều cơ quan với mức độ bảo mật khác nhau, tạo điều kiện cho các hành vi xâm nhập, thao túng và đánh cắp dữ liệu, bởi khi thông tin được số hóa càng nhiều, càng dễ bị khai thác. Bên cạnh đó là tin giả và thông tin xấu độc lan truyền nhanh, dễ tác động đến người dân khi họ tham gia vào môi trường mạng hằng ngày, từ đó gây nhiễu loạn quá trình hình thành dư luận và quyết sách. Nguy cơ tiếp theo đến từ các lỗ hổng bảo mật, khi cơ quan nhà nước sử dụng các nền tảng của doanh nghiệp để tương tác với người dân đặt ra câu hỏi về quyền chủ quyền dữ liệu, bảo đảm an toàn dữ liệu. Tất cả những yếu tố này cho thấy dân chủ số, bên cạnh cơ hội, còn chứa đựng những rủi ro pháp lý và kỹ thuật cần được kiểm soát chặt chẽ.
Năm là, điểm nghẽn “năng lực xử lý dữ liệu, công nghệ” trong quy trình xây dựng chính sách
Một vấn đề nổi lên trong bối cảnh đẩy mạnh dân chủ số là quy mô dữ liệu người dân tạo ra và khả năng xử lý của bộ máy nhà nước. Lượng thông tin ngày càng lớn, đa dạng và đến từ nhiều kênh khác nhau, nhưng phần lớn được xử lý bằng các phương thức truyền thống, phụ thuộc vào hoạt động tổng hợp thủ công. Trong điều kiện thiếu các công cụ như AI, phân tích dữ liệu lớn, tóm tắt tự động, nhiều cơ quan soạn thảo buộc phải dựa vào các báo cáo tổng hợp cuối cùng. Điều này khiến nhiều nội dung quan trọng trong góp ý của người dân có thể không được phản ánh đầy đủ vào quá trình xây dựng chính sách.
Khi dữ liệu không được phân tích sâu, dân chủ số dễ rơi vào tình trạng “thu thập thì nhiều, chuyển hóa thì ít”, khiến việc “đồng sáng tạo chính sách” khó hình thành. Đây không phải là giới hạn của người dân tham gia, mà là giới hạn về năng lực công nghệ và hạ tầng dữ liệu của chính bộ máy tiếp nhận.
2.3. Giải pháp phát huy vai trò của mô hình dân chủ số dưới sự lãnh đạo của Đảng
Một là về hạ tầng công nghệ số và hoàn thiện thể chế
Để khắc phục tình trạng luồng thông tin bị cản trở cần tiếp tục hoàn thiện khung thể chế cho dân chủ số, trong đó luật hóa cơ chế tham vấn công chúng trên nền tảng số, bảo đảm quyền chính trị của người dân theo Hiến pháp năm 2013. Việc phát triển hạ tầng số đồng bộ - đặc biệt ở khu vực nông thôn, miền núi, là điều kiện tiên quyết nhằm thu hẹp khoảng cách số và mở rộng quyền tiếp cận của mọi công dân. Cùng với đó, cần hình thành Cổng dân chủ số quốc gia tích hợp toàn bộ hoạt động góp ý, phản ánh và giám sát của người dân; đồng thời liên thông cơ sở dữ liệu giữa các bộ, ngành và địa phương để xử lý, phân tích hiệu quả các nguồn dữ liệu góp ý còn rời rạc hiện nay.
Hai là, phát triển nền tảng thúc đẩy sự tham gia của công dân
Từ thực tế nhiều nền tảng đã cho thấy hiệu quả (như Hue -S, iHanoi, Zalo OA) nhưng chưa có sự thống nhất toàn quốc, cần chuẩn hóa và nhân rộng các mô hình này theo hướng tích hợp đa chức năng: góp ý luật, phản ánh vấn đề nóng, phản ánh thủ tục hành chính trên một hệ thống chung. Để giải quyết tình trạng xử lý ý kiến thủ công, cần ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích, phân loại và tổng hợp ý kiến, giúp phản ánh chính xác “tiếng nói số” của người dân trong hoạch định chính sách. Bên cạnh đó, việc nâng cao năng lực số của công dân, đặc biệt nhóm yếu thế, thông qua phổ cập kỹ năng số cơ bản là giải pháp then chốt bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau. Vai trò cầu nối của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cũng cần được phát huy trên nền tảng số nhằm mở rộng kênh tham gia, nâng cao chất lượng giám sát và phản biện xã hội.
Ba là, hoàn thiện cơ chế phản hồi - giải trình và bảo đảm môi trường số an toàn
Nhằm khắc phục tình trạng phản hồi chưa đồng đều giữa các địa phương và tăng tính minh bạch, cần chuẩn hóa quy trình tiếp nhận - xử lý - phản hồi kiến nghị của người dân, kèm theo chỉ tiêu đánh giá bắt buộc đối với từng cấp chính quyền. Minh bạch hóa tiến độ xử lý theo một số mô hình đã có sẽ giúp củng cố niềm tin và nâng cao trách nhiệm giải trình. Cùng với đó, việc bảo vệ dữ liệu cá nhân, tăng cường an ninh mạng và khắc phục các lỗ hổng bảo mật phải được coi là nhiệm vụ trọng tâm để bảo đảm niềm tin của người dân vào môi trường số. Đặc biệt, trong bối cảnh tin giả, thông tin độc hại lan nhanh trên mạng, cần phát triển hệ thống cảnh báo sớm, bộ lọc thông tin tự động và đội ngũ phản ứng nhanh theo tinh thần Nghị quyết 35 -NQ/TW nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng và giữ gìn môi trường đối thoại lành mạnh. Cuối cùng, phát triển đội ngũ cán bộ có năng lực số, kỹ năng phân tích dữ liệu và tư duy đổi mới là điều kiện quyết định để vận hành hiệu quả cơ chế phản hồi - giải trình trong mô hình dân chủ số.
3. Kết luận
Dân chủ số là xu hướng tất yếu trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, khi công nghệ số trở thành nền tảng cho quản trị công hiện đại. Việc ứng dụng công nghệ vào các hoạt động tham gia, giám sát và phản biện xã hội góp phần mở rộng quyền làm chủ của Nhân dân, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của bộ máy nhà nước. Tuy vậy, những hạn chế về hạ tầng số, khoảng cách tiếp cận, phân mảnh dữ liệu và rủi ro an ninh mạng cho thấy dân chủ số chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được phát triển một cách bài bản, đồng bộ và có định hướng rõ ràng.
Trong điều kiện Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảng có vai trò quyết định. Sự chỉ đạo thống nhất về tư tưởng, thể chế, tổ chức thực hiện và an ninh không gian mạng là yếu tố bảo đảm dân chủ số vận hành đúng mục tiêu, phù hợp với đặc thù dân chủ xã hội chủ nghĩa. Thời gian tới, việc phát huy dân chủ số đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, hiện đại hóa hạ tầng dữ liệu, ứng dụng công nghệ mới trong xử lý thông tin, nâng cao năng lực số của người dân và củng cố các cơ chế phản hồi - giải trình. Khi các điều kiện này được đáp ứng, dân chủ số sẽ trở thành một cấu phần quan trọng của quản trị quốc gia hiện đại, góp phần củng cố quyền làm chủ của Nhân dân và tạo động lực mới cho phát triển đất nước trong kỷ nguyên số.
_________________
Bài đăng trên số đặc biệt năm 2026 chào mừng Đại hội XIV của Đảng
Nhận bài: 03-12-2025; Ngày bình duyệt:20-12-2025; Ngày duyệt đăng: 05-1-2026.
Email tác giả: vinhnguyenktpt@gmail.com
(1), (5), (8) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.227, 38, 96.
(2) Nguyễn Thị Linh: Quan điểm Đại hội XIII của Đảng về đẩy mạnh chuyển đổi số, https://www.quanlynhanuoc.vn.
(3) Trần Quảng Sơn: Dữ liệu mở trong chuyển đổi Chính phủ số tại Việt Nam, https://tapchicongthuong.vn.
(4) Tuấn Dũng: Thu hẹp khoảng cách số để không ai bị bỏ lại phía sau, https://vneconomy.vn.
(6) Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
(7) Luật số 10/2022/QH15 về Thực hiện dân chủ ở cơ sở.
(9) Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14-10-2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử.
(10), (12) Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27-9-2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
(11) Quyết định 2629/QĐ-TTg ngày 01-12-2025 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt chương trình phát triển Chính phủ số.
(13) Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị về Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
(14) Trung Hiếu, Uyển Hương: VNeID - Căn cước số Việt Nam và hệ sinh thái số toàn diện, https://nhandan.vn.
(15) Mai Huệ: Đã kích hoạt được trên 57,9 triệu tài khoản VneID, https://lsvn.vn.
(16) Thu Cúc: Hơn 9 triệu ý kiến đóng góp cho dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), https://baochinhphu.vn.
(17) Nguyên Bảo: Lan tỏa tinh thần góp ý vào các văn kiện Đại hội XIV của Đảng từ cơ sở, https://baochinhphu.vn.
(18) Zalo nhận giải Chuyển đổi số Việt Nam 2025, https://www.vietnam.vn.
(19) Thu Hằng: 97,4% kiến nghị của cử tri được giải quyết, trả lời, https://nhandan.vn.
(20) Lê Mỹ: Người dân TPHCM đã có thể kết nối với chính quyền bằng App Công dân số, https://vietnamnet.vn.
(21) Mạnh Tuyền: Cổng Dịch vụ công quốc gia đã cung cấp 4,5 nghìn dịch vụ công trực tuyến, https://tcnn.vn.
(22) Vương Trần: Bộ Công an đã kích hoạt trên 53,88 triệu tài khoản định danh điện tử, https://laodong.vn.