Giải pháp để kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế khi đất nước bước vào kỷ nguyên mới
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.6301
Tóm tắt: Phát triển kinh tế tư nhân là một chủ trương lớn của Đảng ta trong đường lối đổi mới đất nước. Bài viết tóm tắt quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân qua các kỳ Đại hội và đề xuất một số giải pháp hiện thực hóa quan điểm của Đảng theo Nghị quyết 68-NQ/TW, để kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, góp phần chủ đạo vào tăng trưởng kinh tế hai con số, đưa Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.
PGS, TS ĐINH THỊ NGA
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

1. Mở đầu
Kỷ nguyên mới là giai đoạn lịch sử quan trọng, đánh dấu bước phát triển bứt phá của Việt Nam để trở thành quốc gia phát triển thịnh vượng. Trên con đường trở thành nước phát triển, thu nhập cao, Việt Nam cần những động lực tăng trưởng, trong đó kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất.
Trong những năm qua, khu vực kinh tế tư nhân đã có những đóng góp đáng kể vào quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy vậy, so với tiềm năng và yêu cầu phát triển của đất nước, vai trò của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam chưa được phát huy đầy đủ. Trong thời gian tới, cần các giải pháp tổng thể và đột phá để thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển, trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế Việt Nam.
2. Nội dung
2.1. Quan điểm của Đảng về phát triển khu vực kinh tế tư nhân
Đường lối, chủ trương của Đảng ta về phát triển kinh tế tư nhân có nhiều thay đổi kể từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới (năm 1986) cho đến nay. Từ Đại hội VI (năm 1986) đến Đại hội IX (năm 2001), Đảng ta chủ trương khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân nhưng còn ở mức độ hạn chế. Tại Đại hội X (năm 2006), lần đầu tiên Đảng ta xác định: “Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế”. Quan điểm này tiếp tục được khẳng định và hoàn thiện tại Đại hội XI (năm 2011) của Đảng.
Đại hội XII (năm 2016), Đảng ta khẳng định: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế...”(1). Chủ trương này được cụ thể hóa tại Hội nghị Trung ương 5 khóa XII thông qua Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03-6-2017 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đại hội XIII (năm 2021) của Đảng khẳng định: “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng”(2) và “Kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, được hỗ trợ phát triển thành các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao. Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân hợp tác, liên kết với doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, kinh tế hộ...”(3).
Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04-5-2025 của Bộ Chính trị “về phát triển kinh tế tư nhân” khẳng định: Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững; cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân giữ vai trò nòng cốt để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả, đưa đất nước thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, vươn lên phát triển thịnh vượng.
Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIV, Đảng ta khẳng định: “phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của các khu vực kinh tế. Phát triển kinh tế nhà nước hiệu quả, thật sự giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm các cân đối lớn, dẫn dắt và định hướng chiến lược; phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế khác giữ vai trò quan trọng”(4). Đảng ta khẳng định, tiếp tục “Đổi mới cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, đặc biệt từ năm 2025 khẳng định phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Bước đầu hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn, hoạt động đa ngành, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế”(5).
Có thể thấy, nhận thức và chủ trương phát triển kinh tế tư nhân của Đảng ta có những bước chuyển biến rất quan trọng, đột phá, mang tính cách mạng, phù hợp với bối cảnh lịch sử và thực tiễn qua các giai đoạn phát triển của đất nước.
2.2. Giải pháp phát triển khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam
Một là, tạo sự đồng thuận trong nhận thức về vai trò của khu vực kinh tế tư nhân, nhận thức rõ, phát triển khu vực kinh tế tư nhân là “điều kiện cần” để tiếp tục phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân đa dạng trên nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh là điều kiện để thúc đẩy phát triển các loại thị trường. Khu vực kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế. Quan điểm mới này sẽ là động lực thúc đẩy, tạo niềm tin cho khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam.
Hai là, hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Thể chế của Nhà nước không chỉ là hỗ trợ hay quản lý mà là phục vụ và chủ động kiến tạo cơ hội cho kinh tế tư nhân phát triển. Trong đó, cần chú trọng các cơ chế, chính sách có liên quan đến hỗ trợ thúc đẩy, khuyến khích và các ưu đãi trong tiếp cận nguồn lực. Bảo đảm nguyên tắc “nói đi đôi với làm”, “thực chất, hiệu quả”, chính sách hỗ trợ phù hợp, khả thi. Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho khu vực tư nhân phát triển, lấy sự hài lòng của doanh nghiệp, doanh nhân làm thước đo đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động của cán bộ, công chức, Nhà nước thực hiện đúng chức năng phục vụ, đồng hành cùng doanh nghiệp, doanh nhân.
Xây dựng thể chế cởi mở, kiến tạo phát triển, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chấp nhận rủi ro khi thực hiện các hoạt động kinh tế. Lãnh đạo Đảng, Nhà nước thường xuyên đối thoại, lắng nghe trực tiếp ý kiến và sáng kiến của doanh nghiệp một cách cởi mở, tin cậy. Tạo dựng lòng tin và sự yên tâm của cộng đồng doanh nghiệp với các cam kết của Đảng và Nhà nước về phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Hướng ưu tiên vào đội ngũ doanh nhân trẻ. Phát triển lành mạnh, đồng bộ các thị trường để doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận các nguồn lực với chi phí, chất lượng phù hợp.
Xác lập địa vị pháp lý cho hộ kinh doanh và các đối tượng kinh doanh cá thể khác, tạo dựng khung khổ pháp lý rõ ràng, phù hợp với thực tiễn và các nguyên tắc về khoa học pháp lý và thông lệ quốc tế thông qua ban hành Luật về kinh doanh cá thể, phản ánh đúng bản chất pháp lý, đặc điểm hoạt động của hộ kinh doanh. Luật về kinh doanh cá thể cần xây dựng theo hướng điều chỉnh đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, người kinh doanh trực tuyến, người lao động chuyên môn và tự do (như freelancers, nghệ sỹ)... Những đối tượng này rất cần những quy định rõ ràng, đơn giản, thuận tiện và chi phí thấp để tham gia khu vực kinh tế chính thức.
Hoàn thiện các quy định đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh về các nội dung như đăng ký, quản trị, chế độ kế toán, báo cáo tài chính, nguyên tắc chung về thuế, bảo hiểm xã hội và các nghĩa vụ, quyền lợi khác phù hợp với bản chất, đặc điểm kinh doanh cá thể, cá nhân kinh doanh. Đồng thời, bảo đảm sự quản lý hiệu quả của Nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh này.
Bên cạnh đó, thực hiện các giải pháp hỗ trợ kinh tế cá thể chuyển đổi sang hoạt động chính thức bao gồm: Ban hành ưu đãi “3 không” trong 3 năm đầu: (1) Không thuế thu nhập doanh nghiệp, (2) Không phí đăng ký kinh doanh, (3) Không lãi suất vay vốn tối đa 500 triệu đồng. Điều kiện để được ưu đãi là hộ kinh doanh phải chuyển đổi thành doanh nghiệp, sử dụng hóa đơn điện tử và kê khai thuế qua ứng dụng; Thực hiện “Chính sách Một ngày thành doanh nghiệp” cho phép đăng ký từ hộ kinh doanh cá thể thành doanh nghiệp bằng hình thức trực tuyến, miễn phí con dấu và mã số thuế tự động. Huy động sinh viên các ngành luật, kế toán, kinh tế... tham gia tư vấn chuyển đổi, hỗ trợ trực tiếp tại các chợ, khu phố cho các hộ kinh doanh.
Phòng, chống “lợi ích nhóm”, thao túng chính sách, cạnh tranh không lành mạnh trong quá trình phát triển kinh tế tư nhân. Tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng cho khu vực tư nhân phát triển minh bạch bằng năng lực chứ không phải bằng các mối quan hệ và cơ chế xin - cho. Đây là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp đầu tư phát triển bài bản, theo chiều sâu, có chiến lược bền vững cho các dự án dài hạn, cho đổi mới, sáng tạo và phát triển khoa học, công nghệ.
Thành lập Ủy ban Giám sát thực thi pháp luật kinh doanh trực thuộc Chính phủ, với sự tham gia của đại diện Bộ Tư pháp, hiệp hội doanh nghiệp và chuyên gia độc lập. Ủy ban này có nhiệm vụ rà soát toàn diện các văn bản pháp luật từ trung ương đến địa phương, loại bỏ các quy định chồng chéo và công bố báo cáo định kỳ 3 tháng/lần; có quyền yêu cầu các bộ, ngành và địa phương giải trình về các quy định gây cản trở doanh nghiệp. Đổi mới kiểm tra, giám sát của nhà nước sang hợp tác, phục vụ bằng mô hình giám sát thông minh, sử dụng AI phân tích dữ liệu từ hóa đơn điện tử, IoT và báo cáo tài chính để xếp hạng rủi ro. Doanh nghiệp được chia thành ba nhóm: xanh (kiểm tra 3 năm/lần), vàng (kiểm tra 1 năm/lần) và đỏ (kiểm tra thường xuyên, đột xuất). Đồng thời, triển khai cơ chế tự giám sát cộng đồng, trao quyền tự giám sát cho hiệp hội ngành nghề thông qua hệ thống báo cáo trực tuyến, giảm áp lực từ cơ quan nhà nước. Chính phủ giao chỉ tiêu (KPI) về phát triển doanh nghiệp cho các bộ, ngành địa phương nhằm cải thiện môi trường kinh doanh. Tăng cường sự tham gia của xã hội, các hiệp hội trong công tác theo dõi, giám sát, đánh giá việc thực hiện chỉ số phát triển doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục cải cách thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, giảm ít nhất 30% thời gian xử lý thủ tục hành chính; ít nhất 30% chi phí kinh doanh, đặc biệt là hải quan, chi phí tuân thủ quy định, chi phí không chính thức và bãi bỏ ít nhất 30% điều kiện.
Cải cách bộ máy quản lý nhà nước theo hướng tinh gọn và số hóa. Tiếp tục tích cực thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2017 “về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” ở cả cấp trung ương và địa phương. Các sở, ban, ngành sau khi sáp nhập cần tiếp tục công việc, đẩy nhanh năng suất làm việc, cải cách thủ tục hành chính để tăng hiệu lực, hiệu quả của toàn bộ hệ thống quản lý. Áp dụng công nghệ blockchain để số hóa quy trình cấp phép, bảo đảm tính minh bạch. Phổ cập chữ ký số trong hoạt động doanh nghiệp. Xây dựng ứng dụng “Cổng Doanh nghiệp Việt Nam” tích hợp 100% dịch vụ công trên điện thoại, hỗ trợ tự động điền form và liên hệ với chuyên viên qua rôbốt trò chuyện chatbot giúp tiết kiệm chi phí của các doanh nghiệp.
Ba là, xây dựng Chiến lược phát triển doanh nghiệp tư nhân Việt Nam, trong đó xác định rõ mục tiêu phát triển, lộ trình và các giải pháp chính sách cụ thể, gắn với xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển các ngành, lĩnh vực ưu tiên phát triển của đất nước.
Nhà nước khuyến khích và có chính sách thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam hoạt động trong các lĩnh vực chiến lược, động lực đối với sự phát triển đất nước giàu mạnh, phồn vinh; các ngành, lĩnh vực có tác động lan tỏa tới các lĩnh vực khác; các doanh nghiệp tạo lập được mạng lưới, liên kết, hình thành chuỗi giá trị, cộng sinh trong hệ sinh thái để cùng phát triển.
Ban hành chính sách ưu đãi đặc biệt với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới, sáng tạo, phát triển các viện nghiên cứu tư nhân. Huy động nguồn lực, đầu tư tập trung, trọng tâm, trọng điểm, hỗ trợ cho các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có khả năng. Những doanh nghiệp lớn làm chủ các công nghệ chiến lược và tiến trình chuyển đổi số quốc gia, có quy mô lớn, có năng lực mạnh để phát triển hạ tầng, có năng lực cạnh tranh toàn cầu. Hỗ trợ, thúc đẩy phát triển các công ty “kỳ lân” là công ty thường tập trung trong các lĩnh vực công nghệ, như công nghệ tài chính (fintech), thương mại điện tử, trí tuệ nhân tạo...
Để có thêm nhiều công ty “kỳ lân”, cần có thị trường sôi động, giàu tiềm năng phát triển, có khả năng và tỷ lệ ứng dụng công nghệ số cao, sẵn sàng đón nhận sản phẩm mới; tiếp đến là nguồn nhân lực, nhân tài; các chính sách hỗ trợ đổi mới sáng tạo. Việt Nam cũng hội tụ được một số điểm như: có dân số đông và dân số vàng, tăng trưởng kinh tế nhanh, tầng lớp trung lưu ngày càng tăng và tốc độ ứng dụng công nghệ nhanh. Đặc biệt, Việt Nam có nhiều nhân tài với những động lực mạnh mẽ và mong muốn thành công. Số lượng sinh viên tốt nghiệp các khoa và trường kỹ thuật ngày càng tăng, nguồn cung nhân lực công nghệ và kỹ thuật số có tiềm năng lớn. Cần có chính sách áp dụng trong dài hạn nhằm khuyến khích, thu hút nhân tài trong và ngoài nước. Đưa Việt Nam thành điểm đến hấp dẫn, thu hút nhân lực chất lượng cao thông qua cơ chế cấp phép lao động linh hoạt, chính sách thuế thu nhập hấp dẫn cho những nhân tài trong lĩnh vực công nghệ. Xây dựng mạng lưới, kết nối khu vực tư nhân Việt Nam với khu vực tư nhân nước ngoài tại Việt Nam, với chuỗi giá trị toàn cầu và thế giới. Xây dựng cơ chế để thu hút người Việt Nam ở nước ngoài cống hiến cho hoạt động kinh tế trong nước dưới nhiều hình thức.
Thay đổi phương thức hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp trên nguyên tắc hỗ trợ theo yêu cầu của doanh nghiệp, có đối ứng từ phía doanh nghiệp, với thủ tục đơn giản; hỗ trợ gắn với một hệ sinh thái cộng sinh gồm nhiều doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp chủ lực, đầu tàu và các doanh nghiệp khác. Phát huy vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp, hoạt động hiệu quả, thực sự là cầu nối giữa Nhà nước và doanh nghiệp. Phân nhóm các doanh nghiệp để có chiến lược hỗ trợ phù hợp gồm: nhóm các doanh nghiệp lớn hoạt động trong các lĩnh vực hiện có, nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ và nhóm các doanh nghiệp hoạt động trên các lĩnh vực khởi nghiệp sáng tạo.
Ban hành các chính sách hỗ trợ để khuyến khích doanh nghiệp quy mô lớn thực hiện chiến lược phát triển các ngành kinh tế quan trọng (công nghiệp bán dẫn, AI, công nghiệp nền tảng, công nghiệp công nghệ số...), các dự án lớn, quan trọng quốc gia, gồm các dự án nghiên cứu phát triển công nghệ cốt lõi. Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp lớn đầu tư mở rộng kinh doanh ra thị trường nước ngoài, qua đó cạnh tranh, xâm nhập thị trường nước ngoài để từng bước trở thành tập đoàn kinh tế quy mô khu vực và toàn cầu. Đào tạo và nâng cao trình độ kiến thức cho doanh nhân, người quản lý doanh nghiệp về quản trị doanh nghiệp, công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, hội nhập và cạnh tranh quốc tế, văn hóa doanh nhân và trách nhiệm xã hội doanh nghiệp...
Thúc đẩy mạnh mẽ việc phân cấp cho thị trường thông qua các cơ chế cho khu vực tư nhân tham gia vào đầu tư công. Giao nhiệm vụ, đặt hàng với các doanh nghiệp trong triển khai các công trình, dự án lớn, trọng điểm quốc gia cần đưa vào nghị quyết của Bộ Chính trị để khi ban hành, tạo sự yên tâm, tạo niềm tin, hứng khởi, giúp khu vực kinh tế tư nhân hoạt động, phát triển lành mạnh, hiệu quả. Giảm bớt các lĩnh vực do khu vực công cung cấp sang cho khu vực tư nhân để tạo không gian thị trường rộng lớn hơn cho hoạt động của kinh tế tư nhân.
Nâng cấp hệ thống giáo dục đáp ứng sự vận động và thay đổi mau lẹ của thực tiễn phát triển, của khoa học, công nghệ. Cần xây dựng Chiến lược phát triển giáo dục đào tạo và Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ phù hợp với bối cảnh mới để nâng cấp chất lượng nguồn nhân lực và trình độ khoa học, công nghệ của đất nước. Chỉ khi nâng cấp được chất lượng nhân lực và trình độ khoa học, công nghệ, khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam mới có khả năng đóng góp nhiều hơn vào xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ. Vì vậy, cần xây dựng chiến lược và đầu tư bài bản cho giáo dục đào tạo và khoa học, công nghệ với các giải pháp phù hợp.
Bốn là, chính sách hỗ trợ tiếp cận nguồn lực cần được thiết kế hiệu quả từ khâu ý tưởng chính sách đến triển khai thực hiện.
Giảm chi phí vốn, thủ tục tiếp cận vốn và đa dạng hóa các kênh cung ứng vốn. Có chính sách sách khuyến khích các ngân hàng đẩy mạnh hình thức cho vay thế chấp dựa trên tài sản hình thành trong tương lai. Hiện nay, khoảng 30-35% doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tiếp cận vốn vay ngân hàng bằng tài sản thế chấp hiện có, trong khi đó, chỉ một vài ngân hàng thực hiện cho vay dựa trên tài sản hình thành trong tương lai với cách cho vay nhỏ giọt. Nếu doanh nghiệp được cho vay theo hình thức này, họ sẽ tiếp cận được nguồn vốn rất lớn. Thí điểm mô hình “Ngân hàng doanh nghiệp nhỏ” do hiệp hội ngành nghề quản lý, cho phép huy động vốn nội bộ và cho vay lãi suất thấp.
Chính phủ cần hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn với chi phí thấp. Một trong những giải pháp là bảo lãnh cho các tập đoàn tư nhân lớn vay vốn từ các tổ chức tài chính quốc tế như ADB, WB, AIIB... Nhiều quốc gia đã phát triển mô hình ngân hàng phát triển để cung cấp vốn ưu đãi cho doanh nghiệp tư nhân đầu tư hạ tầng trong và ngoài nước. Chính phủ tái cấu trúc Ngân hàng Phát triển Việt Nam, thực hiện đúng chức năng, tăng khả năng huy động vốn từ các tổ chức tài chính toàn cầu, quỹ đầu tư quốc tế hoặc quỹ hưu trí trong nước. Điều này giúp tạo nguồn vốn dài hạn, ổn định cho doanh nghiệp tư nhân, thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng bền vững.
Việt Nam cần phát triển một sàn giao dịch chứng khoán riêng cho doanh nghiệp khởi nghiệp và doanh nghiệp nhỏ và vừa. Giúp doanh nghiệp có thể dễ dàng huy động vốn mà không cần đáp ứng các tiêu chí niêm yết nghiêm ngặt áp dụng với các doanh nghiệp trên sàn chứng khoán lớn. Điều này giúp các doanh nghiệp khởi nghiệp dù chưa có tiềm lực tài chính vẫn có thể tiếp cận được nguồn vốn từ các nhà đầu tư nhỏ và các nhà đầu tư mạo hiểm.
Thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm của Nhà nước để hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp trong giai đoạn đầu, nhiều rủi ro. Nhà nước tham gia với vai trò nhà đầu tư chính kết hợp với các quỹ tư nhân, tạo nguồn lực tài chính vững mạnh và chia sẻ rủi ro với các nhà đầu tư khác. Cơ chế hoạt động của các quỹ đầu tư mạo hiểm không chỉ đóng góp vốn mà còn cần có hệ thống giám sát và quản lý chuyên nghiệp để bảo đảm hiệu quả đầu tư, các khoản đầu tư được minh bạch, phù hợp với thông lệ quốc tế và nguyên tắc thị trường, giúp xây dựng niềm tin cho các nhà đầu tư tư nhân, từ đó khuyến khích họ tham gia nhiều hơn vào thị trường vốn khởi nghiệp.
Khuyến khích đầu tư từ cộng đồng và nhà đầu tư nhỏ lẻ. Việc phát triển các nền tảng gọi vốn cộng đồng sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp khởi nghiệp tiếp cận dễ dàng với các nguồn lực từ các nhà đầu tư nhỏ lẻ. Các nền tảng này không chỉ giúp doanh nghiệp huy động vốn mà còn cho phép họ thử nghiệm sản phẩm, dịch vụ trên thị trường, thu thập phản hồi từ người dùng. Để bảo vệ nhà đầu tư và xây dựng niềm tin, các nền tảng này cần được thiết kế thân thiện, dễ sử dụng và có hệ thống giám sát minh bạch.
Áp dụng các chính sách thuế ưu đãi đặc biệt cho các nhà đầu tư tiềm năng và quỹ đầu tư mạo hiểm nhằm khuyến khích họ đầu tư vào các doanh nghiệp khởi nghiệp. Các ưu đãi có thể bao gồm miễn giảm thuế thu nhập với các khoản đầu tư vào khởi nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định, qua đó giúp nhà đầu tư giảm thiểu rủi ro tài chính khi đầu tư vào các dự án mới. Chính sách này sẽ thu hút thêm nguồn vốn và hệ sinh thái khởi nghiệp, giúp doanh nghiệp khởi nghiệp tiếp cận dễ dàng hơn với nguồn lực tài chính để phát triển.
Hình thành các quỹ đầu tư đa sở hữu sớm nhất có thể (đa dạng, nhiều cấp độ quốc gia, địa phương và huy động vốn cộng đồng), cung cấp các loại vốn (thiên thần, mạo hiểm, đầu tư dài hạn...) cho tổ chức kinh tế tư nhân. Quốc hội sửa đổi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp để giảm thuế cho toàn bộ khối doanh nghiệp nhỏ và vừa để nuôi dưỡng nguồn thu, hỗ trợ tái đầu tư vào sản xuất - kinh doanh. Cho phép doanh nghiệp phát hành trái phiếu doanh nghiệp xanh với lãi suất ưu đãi 5%/năm cho các dự án tiết kiệm năng lượng.
Ban hành gói tín dụng ưu đãi đặc thù. Ngân hàng Nhà nước nên tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại với lãi suất 0%, kèm điều kiện lãi suất cho vay tối đa 5%/năm(6) cho doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực ưu tiên (nông nghiệp sạch, công nghệ số...). Đồng thời, phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp xanh cho phép doanh nghiệp tư nhân huy động vốn dài hạn với lãi suất thấp hơn 2-3% so thị trường, dành cho các dự án trong lĩnh vực năng lượng.
Thực hiện các biện pháp để nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam. Đây là một kênh gọi vốn quan trọng để giúp các doanh nghiệp có thêm nguồn lực phát triển trong dài hạn. Bên cạnh đó cũng cần nâng chỉ số xếp hạng tín nhiệm quốc gia để sớm khai thông luồng vốn đầu tư gián tiếp của các quỹ đầu tư nước ngoài vào doanh nghiệp Việt Nam.
Hỗ trợ doanh nghiệp thông qua Chương trình chuyển đổi số quốc gia. Phát huy hiệu quả Quỹ đổi mới sáng tạo quốc gia, tập trung hỗ trợ các startup công nghệ. Thúc đẩy ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất. Cần thành lập các quỹ đầu tư cho đổi mới sáng tạo, hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ tiên tiến, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh. Triển khai “Chương trình Công nghệ 4.0 cho SME (doanh nghiệp nhỏ và vừa)”, cấp hỗ trợ mua phần mềm quản lý và hỗ trợ 70% chi phí thuê chuyên gia nước ngoài. Hỗ trợ pháp lý và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp. Cần giảm bớt các rào cản pháp lý cho các doanh nghiệp khởi nghiệp bằng cách đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm chi phí và rút ngắn thời gian thành lập doanh nghiệp khởi nghiệp. Hệ sinh thái khởi nghiệp nên được tạo dựng toàn diện, bao gồm các trung tâm đổi mới sáng tạo, và vườn ươm doanh nghiệp kết nối giữa các tổ chức tài chính, viện nghiên cứu, trường đại học và các cơ quan chính quyền. Các trung tâm này không chỉ hỗ trợ về tài chính mà còn cung cấp, tư vấn kinh doanh, kỹ thuật, đào tạo và kết nối với nhà đầu tư. Hệ sinh thái này tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển từ giai đoạn ý tưởng đến khi có sản phẩm trên thị trường, góp phần giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư và giúp khởi nghiệp hiệu quả, bền vững hơn.
Việt Nam cần tận dụng quy mô thị trường 100 triệu dân để thương lượng chuyển giao công nghệ từ các tập đoàn đa quốc gia. Chiến lược và chính sách thu hút đầu tư nước ngoài yêu cầu các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) phải bảo đảm tỷ lệ kết nối tối thiểu với doanh nghiệp tư nhân trong nước trong chuỗi cung ứng của họ. Một trong những giải pháp then chốt là yêu cầu tỷ lệ sở hữu bắt buộc trong các dự án trọng điểm. Ví dụ, doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, điện tử phải thành lập liên doanh với tỷ lệ 51% thuộc doanh nghiệp Việt Nam. Bên cạnh đó, cần có chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp FDI theo tỷ lệ nội địa hóa. Nếu tỷ lệ nội địa hóa ít nhất là 30% và các mức ưu đãi sẽ tăng dần tương ứng theo mức tăng tỷ lệ nội địa hóa thì có thêm không gian cho doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển.
Đối với nhóm ngành công nghệ cao (như điện tử, AI, năng lượng tái tạo), các dự án phải đáp ứng yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa tối thiểu 10% trong 5 năm đầu và tăng lên trong các năm tiếp theo, cam kết đầu tư tối thiểu 3% doanh thu hằng năm vào R&D, và sử dụng tối thiểu 30% nguyên liệu thân thiện môi trường. Trong lĩnh vực dịch vụ (logistics, tài chính), doanh nghiệp FDI cần hợp tác đào tạo lao động chất lượng cao và chuyển giao hệ thống quản trị tiên tiến.
Thành lập quỹ chuyển giao công nghệ quốc gia để tạo nguồn lực tài chính bền vững. Quỹ này được tài trợ từ 2% lợi nhuận hằng năm của các dự án FDI, dùng để hỗ trợ nghiên cứu ứng dụng tại các trường đại học. Intel Việt Nam là điển hình khi cam kết đóng góp 20 triệu USD/năm vào quỹ để phát triển nhân lực AI. Để tránh tình trạng doanh nghiệp FDI hoạt động biệt lập, cần xây dựng chương trình “Đối tác cung ứng quốc gia”, yêu cầu doanh nghiệp nhà nước và FDI cam kết mua tối thiểu 20% nguyên liệu đầu vào từ doanh nghiệp nội địa. Bên cạnh đó, Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia cần thiết lập kết nối doanh nghiệp FDI với startup trong nước thông qua các chương trình Business matching hub (chương trình Kết nối kinh doanh), incubators (chương trình Vườn ươm) và accelerators (chương trình Tăng tốc), sử dụng dữ liệu lớn để kết nối FDI với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước, tạo ra hệ sinh thái khởi nghiệp sôi động.
Thành lập Viện Nghiên cứu công nghệ công nghiệp để hỗ trợ đổi mới công nghiệp, đặc biệt là trong một số lĩnh vực Việt Nam có lợi thế để nghiên cứu các công nghệ mới và tạo điều kiện chuyển giao công nghệ từ nước ngoài sang các công ty địa phương.
Nhà nước cần cung cấp thông tin thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp tham gia hội chợ thương mại quốc tế, tận dụng các hiệp định thương mại tự do để thúc đẩy xuất khẩu. Xây dựng nền tảng “Export hub Vietnam” tích hợp dữ liệu 200 thị trường, sử dụng AI để kết nối doanh nghiệp với nhà phân phối toàn cầu.
Quy định cụ thể để các doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước khi tham gia các dự án trọng điểm quốc gia như dự án đường sắt, đường bộ cao tốc và cảng hàng không... phải dành ít nhất 30% giá trị đơn hàng cho doanh nghiệp tư nhân Việt Nam tham gia hoặc liên doanh có sự tham gia của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam.
Thực hiện Chính sách “Ưu tiên mua hàng Việt”. Khuyến khích doanh nghiệp nhà nước dành một tỷ lệ nhất định giá trị hợp đồng mua nguyên liệu, dịch vụ từ doanh nghiệp tư nhân trong nước thay vì nhập khẩu(7). Phát huy tối đa vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp, ngành hàng hoặc các cơ chế cung cấp thông tin từ khu vực công để thúc đẩy việc kết nối. Bên cạnh đó, cần xây dựng chuỗi cung ứng nội địa trên cơ sở phát triển nền tảng kết nối B2B (business to business), B2C (business to consumer), C2C (consumer to consumer), sử dụng AI để kết nối doanh nghiệp tư nhân với FDI và doanh nghiệp nhà nước. Tiếp tục hỗ trợ xuất khẩu đa kênh, thành lập mạng lưới thương vụ số gồm 50 văn phòng đại diện tại các thị trường trọng điểm (Mỹ, EU, Nhật Bản), cung cấp miễn phí thông tin về tiêu chuẩn, đối thủ cạnh tranh. Đồng thời, tài trợ 70% chi phí tham gia hội chợ quốc tế cho doanh nghiệp tư nhân lần đầu xuất khẩu.
3. Kết luận
Để trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam cần xác định đúng và trúng các động lực tăng trưởng. Một động lực quan trọng nhất mà Đảng ta đã xác định là khu vực kinh tế tư nhân. Khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam đang đóng góp ngày càng quan trọng vào nền kinh tế quốc gia, thể hiện ở tỷ trọng trong GDP, tạo việc làm, bảo đảm an sinh xã hội... Tuy vậy, trong bối cảnh mới, bên cạnh sự nỗ lực tự thân, khu vực kinh tế tư nhân cần các giải pháp mang tính đột phá từ phía Nhà nước. Các giải pháp được đề xuất trong bài viết gồm các giải pháp nhận thức, các chính sách cụ thể đối với khu vực kinh tế tư nhân, góp phần vào việc hiện thực hóa chủ trương của Đảng về thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển theo đúng mục tiêu đã xác định, đóng góp ngày càng tương xứng với vai trò là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế.
_________________
Bài đăng trên số đặc biệt năm 2026 chào mừng Đại hội XIV của Đảng
Ngày nhận bài: 16-12-2025; Ngày bình duyệt: 26-12-2025; Ngày duyệt đăng: 05-01-2026.
Email tác giả: nga79qlkt@yahoo.com.vn
(1) ĐCSVN: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.107.
(2), (3) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 129, 130.
(4), (5) Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn.
(6) Dựa trên tỷ lệ lạm phát hiện tại thì đây là mức lãi suất phù hợp để có thể huy động được nguồn vốn và phù hợp với mục tiêu ưu đãi
(7) Với điều kiện chất lượng và giá cả dịch vụ tương đương.