Chủ trương kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh trong bối cảnh mới
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.5720
Tóm tắt: Bài viết làm rõ quan điểm, chủ trương của Đảng về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh trong quá trình đổi mới; phân tích bối cảnh mới và yêu cầu kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh trong xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc; đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện chiến lược kết hợp phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh trong bối cảnh mới của đất nước.
PGS, TS ĐOÀN TRIỆU LONG
Học viện Chính trị khu vực III

1. Mở đầu
Kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh là những lĩnh vực trọng yếu của đất nước, có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Mỗi quốc gia tùy theo hoàn cảnh lịch sử, truyền thống, đặc điểm chế độ chính trị - xã hội và điều kiện cụ thể, có chính sách, phương thức phát triển kinh tế - xã hội đồng thời bảo đảm quốc phòng, an ninh và củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội. Đây là yêu cầu khách quan, nhiệm vụ chiến lược thường xuyên, lâu dài trong quá trình xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Phát triển kinh tế - xã hội tạo nguồn lực để củng cố và tăng cường khả năng quốc phòng, bảo đảm an ninh cho đất nước. Củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh là nền tảng cho kinh tế - xã hội phát triển bền vững. Trong quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế, Đảng ta đã từng bước nhận thức, bổ sung và hoàn thiện quan điểm, chủ trương, đường lối về kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh.
2. Nội dung
2. 1. Quan điểm, chủ trương của Đảng về kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh trong quá trình đổi mới
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nhấn mạnh: “Sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng - an ninh. Phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh, quốc phòng, an ninh với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và trên từng địa bàn”(1). Theo đó, quá trình phát triển đất nước phải bảo đảm gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên.
Chủ trương kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội được quy định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong khoản 4 Điều 3 Luật Quốc phòng Việt Nam năm 2018. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh nhằm tạo điều kiện thuận lợi phát huy mọi nguồn lực, tiềm năng đất nước, đẩy nhanh sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, tạo lập, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
Sự gắn kết chặt chẽ và đồng bộ, hiệu quả giữa “nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên” bảo đảm quốc phòng, an ninh với “nhiệm vụ trung tâm” phát triển kinh tế - xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong Chiến lược phát triển tổng thể quốc gia, tạo tiềm lực, sức mạnh toàn diện của đất nước. Đảng chủ trương thực hiện kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với “thế trận lòng dân” trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của các ngành, các địa phương, vùng miền và trong các dự án đầu tư lớn. Thực hiện đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, ổn định dân cư các vùng xung yếu, trọng điểm, vùng biên giới, hải đảo phù hợp với chiến lược quốc phòng và chiến lược an ninh quốc gia. Hoàn chỉnh chiến lược quốc phòng và chiến lược an ninh quốc gia phù hợp với tình hình mới, phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng kinh tế đối ngoại. Phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng lưỡng dụng và kết hợp sử dụng năng lực công nghiệp quốc phòng, an ninh tham gia phát triển kinh tế - xã hội.
Vận dụng quan điểm, chủ trương của Đảng về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng an ninh phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng giai đoạn cụ thể, Bộ Chính trị khóa XIII đã ban hành các nghị quyết chuyên đề về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh đối với 6 vùng của đất nước, thể hiện định hướng và chính sách trong phát triển kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng, an ninh trên các địa bàn chiến lược đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045(2).
Nghị quyết số 44-NQ/TW ngày 24-11-2023 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” yêu cầu: Gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước. Xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh, xây dựng nền quốc phòng, an ninh chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại. Cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược bảo vệ Tổ quốc; trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; trong từng địa phương, vùng, địa bàn chiến lược và trong từng nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch cụ thể.
Qua 40 năm đổi mới và hội nhập, những thành tựu về phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại đã góp phần quan trọng nâng cao tiềm lực, sức mạnh, vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc tế. Nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ mới, Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: Nhận diện sớm, tranh thủ mọi thuận lợi, thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; đẩy mạnh đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và tăng cường chủ động hội nhập quốc tế kết hợp chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ trọng tâm, trong đó phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên. Gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường với củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế. Tự chủ về chiến lược và mềm dẻo, linh hoạt về sách lược trong thực hiện, bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế(3).
2.2. Bối cảnh mới và yêu cầu kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh trong xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
Tình hình thế giới, bối cảnh quốc tế, xu thế vận động của thời đại luôn có những tác động, ảnh hưởng lớn đối với quá trình xây dựng, phát triển của mọi quốc gia, dân tộc, trong đó có Việt Nam. Việc đánh giá, nhận định đúng đắn tình hình thế giới, bối cảnh quốc tế, xu thế vận động của thời đại sẽ giúp các quốc gia, dân tộc hoạch định đường lối, đề ra chủ trương, chính sách phù hợp trong chiến lược xây dựng và bảo vệ đất nước; từ đó hạn chế những tác động, ảnh hưởng tiêu cực, tranh thủ những thời cơ, vận hội cho phát triển.
Các nghiên cứu dự báo rằng, trong thập niên tới, cục diện thế giới chuyển biến nhanh, khó lường. Hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế lớn, song vẫn còn nhiều trở ngại, thách thức mới. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu, đồng thời, sự cạnh tranh của các nước lớn, chủ nghĩa bảo hộ và các hạn chế thương mại quốc tế gia tăng. Tập hợp lực lượng, liên kết, cạnh tranh lợi ích giữa các nước vừa mang lại cơ hội, vừa đặt các nước khác, nhất là các nước vừa và nhỏ trước nhiều khó khăn, thách thức. Sự cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ - Nga, Mỹ - Trung Quốc ngày càng quyết liệt, tác động mạnh mẽ đến phát triển kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh của các quốc gia trên thế giới. Thế giới đang đối mặt với nhiều thách thức an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, nước biển dâng, thiên tai, dịch bệnh, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh mạng, an ninh thông tin...
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra những thay đổi sâu sắc về kinh tế, xã hội trên toàn thế giới, dựa trên các thành tựu khoa học và công nghệ như: trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big data), internet kết nối vạn vật (IoT), điện toán lượng tử (quantum computing), người máy (robotics), sinh học tổng hợp (synthetic biology), khoa học vật liệu (materials science)... Việc ứng dụng các tiến bộ, thành tựu khoa học, công nghệ trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh tạo ra hệ thống vũ khí, trang bị kỹ thuật thế hệ mới, làm xuất hiện các hình thái chiến tranh, phương thức tác chiến mới, cả trên bộ, trên biển, trên trời, không gian mạng và vũ trụ.
Các nước lớn với trình độ phát triển cao, sử dụng những thành tựu khoa học và công nghệ để chi phối, can thiệp, tác động vào hệ thống kinh tế, chính trị của các nước khác. Các nước đang phát triển, nếu không tận dụng được các cơ hội của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các thành tựu khoa học, công nghệ, sẽ đứng trước nguy cơ ngày càng tụt hậu và phụ thuộc về kinh tế, quốc phòng, an ninh vào các nước lớn. Thực tiễn cho thấy, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực xã hội, mang đến những cơ hội, điều kiện thuận lợi để phát triển nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương tiếp tục giữ vị trí chiến lược quan trọng, động lực tăng trưởng của kinh tế thế giới, song phải đối mặt với nhiều thách thức như cạnh tranh chiến lược và sự thỏa hiệp giữa các nước lớn; tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo, tài nguyên làm gia tăng mức độ rủi ro, bất ổn đối với môi trường chính trị, kinh tế, an ninh của các nước. Uy tín và vị thế, vai trò của ASEAN ngày càng được khẳng định, nâng cao trong cộng đồng quốc tế song cũng đối mặt với nhiều thách thức.
Trong nước, sau 40 năm đổi mới và hội nhập sâu rộng, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng lên, là nền tảng quan trọng để đất nước tự tin, tự chủ, tự cường trong giai đoạn phát triển mới. Cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị cùng với những quyết sách chiến lược, đột phá về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, về đổi mới, xây dựng và thi hành pháp luật, về phát triển kinh tế tư nhân, về chủ động hội nhập quốc tế... tạo tiền đề phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Chủ trương điều chỉnh, sắp xếp địa giới hành chính cấp tỉnh, tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trong cả nước tạo ra những nguồn lực mới, không gian mới và cả tư duy, tầm nhìn mới trong phát triển đất nước, thực hiện kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh trong xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, nền kinh tế của đất nước còn nhiều điểm nghẽn, khó khăn và thách thức như: nguy cơ tụt hậu về công nghệ; nguy cơ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”; tốc độ già hóa dân số nhanh; chênh lệch giàu, nghèo, chênh lệch phát triển giữa các vùng, miền; các thách thức an ninh phi truyền thống diễn biến phức tạp (biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước, ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên...). Phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh trên một số lĩnh vực, địa bàn chưa được chú trọng. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước tiếp tục thực hiện nhiều thủ đoạn, tăng cường chống phá công khai và trực diện đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, xóa bỏ nền tảng tư tưởng và sự lãnh đạo của Đảng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị - xã hội. Cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, các lợi ích chính đáng, hợp pháp của Việt Nam trên biển còn nhiều thách thức, phức tạp.
Bối cảnh mới của thế giới, khu vực, trong nước đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với quá trình phát triển đất nước, trong đó có chủ trương, chính sách kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng nhận định: Bối cảnh thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, tạo ra nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức lớn đan xen; trong nước đang triển khai những quyết sách chiến lược mang tính cách mạng, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới cao hơn; đồng thời đây cũng là bước ngoặt mới, vận hội mới mang tính lịch sử đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc(4).
2.3. Một số giải pháp thực hiện chiến lược kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh trong bối cảnh mới
Thứ nhất, cần bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất giữa chủ trương, đường lối của Đảng và cơ chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong tổ chức triển khai thực hiện kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Việc gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh cần đặt trong một chỉnh thể thống nhất trên phạm vi cả nước, trong các địa bàn, vùng miền và trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh. Phát triển kinh tế nhanh, bền vững phải gắn với thực hiện an sinh xã hội, tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, tạo sự đoàn kết, đồng thuận trong xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Mục đích của kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh hướng đến sự phát triển bền vững của kinh tế - xã hội, sự vững chắc của quốc phòng, an ninh, từ đó nâng cao tiềm lực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, chủ động ngăn ngừa, hóa giải các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, thực hiện thành công hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, nội dung kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh phải toàn diện, trọng điểm trong quy hoạch tổng thể quốc gia, các chiến lược phát triển đất nước trên các lĩnh vực; trong gắn kết các lĩnh vực khoa học, công nghệ, giáo dục, văn hóa, y tế... với bảo đảm quốc phòng, an ninh; trong gắn kết phát triển kinh tế - xã hội với hoạt động của các lực lượng vũ trang; trong tập trung các nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh. Đầu tư trọng điểm xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, nhất là ở các địa bàn chiến lược, tuyến biên giới, hải đảo. Đầu tư nguồn lực và có cơ chế đặc thù để phát triển các doanh nghiệp quốc phòng, tập đoàn kinh tế quốc phòng, khu kinh tế - quốc phòng tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở các địa bàn chiến lược, vùng biên giới, biển, đảo, vùng đặc biệt khó khăn. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng lưỡng dụng, vừa đáp ứng yêu cầu trang thiết bị, vũ khí cho lực lượng vũ trang để bảo vệ Tổ quốc, an ninh quốc gia vừa tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng đất nước
Thứ ba, nghiên cứu đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách để kịp thời tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực để kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.
Thực tiễn cho thấy, một số cơ chế, chính sách chậm sửa đổi, bổ sung nên chưa tạo được động lực trong phát huy nội lực và thu hút các nguồn lực thực hiện phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; kết hợp quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội. “Nguồn lực đầu tư cho quốc phòng, an ninh trong một số lĩnh vực chưa được tăng cường đúng mức. Xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng, an ninh trên một số lĩnh vực, địa bàn có mặt còn hạn chế. Phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh chưa thực sự đi vào chiều sâu”(5). Do đó, cần nghiên cứu xây dựng thể chế để thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; xây dựng cơ chế, chính sách quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống. Thực hiện gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường với củng cố quốc phòng, an ninh.
Thực hiện phát triển kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội; gắn tăng trưởng nhanh với phát triển bao trùm, bền vững và lấy con người làm trung tâm, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội trong từng chính sách. Xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh làm động lực chính cho phát triển và phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Xây dựng quy hoạch phát triển bền vững các ngành kinh tế biển đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường biển, quản lý tài nguyên biển để khai thác, sử dụng hiệu quả không gian biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ vững chắc chủ quyền và các lợi ích quốc gia trên biển. Có chính sách ưu tiên nguồn lực cho phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, góp phần thực hiện có hiệu quả chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trên các vùng ven biển, hải đảo.
Thứ tư, xây dựng cơ chế, chính sách tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang trong tham gia lao động sản xuất, thực hiện kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh trên các địa bàn chiến lược, biên giới, hải đảo. Từ thực tiễn và yêu cầu của đất nước, tham gia lao động sản xuất là một trong ba chức năng cơ bản của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trước yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay, nhiệm vụ này cần tiếp tục đẩy mạnh, gắn phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, khu vực phòng thủ vững mạnh trên địa bàn chiến lược, biên giới, biển, đảo.
Các doanh nghiệp quốc phòng và đơn vị quân đội được giao nhiệm vụ tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước phù hợp với nhiệm vụ quốc phòng; tuân thủ quy định của pháp luật; luôn phát huy tinh thần tự lực, tự cường, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, góp phần tăng cường tiềm lực và thế trận quốc phòng, an ninh. Đầu tư xây dựng khu vực phòng thủ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gắn với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Triển khai đề án xây dựng thành các trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ, quốc phòng, kết hợp hoạt động kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh trên biển, nhất là vùng biển, đảo xa bờ. Xây dựng các trung tâm hậu cần nghề cá lớn gắn với ngư trường Biển Đông và Hoàng Sa, Trường Sa; hiện đại hóa và mở rộng quy mô ngành nuôi trồng hải sản trên biển, công nghệ cao. Xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ trên một số đảo trọng yếu, các đặc khu biển, đảo phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
3. Kết luận
Việt Nam xác định hoàn thành mục tiêu chiến lược đến năm 2045 trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao(6); là quốc gia tham gia chủ động, tích cực và trách nhiệm trong giải quyết các vấn đề khu vực và quốc tế, bảo vệ vững chắc chủ quyền và lợi ích quốc gia. Trong bối cảnh mới của đất nước, cần xác định nhận thức và tư duy mới thực hiện chiến lược kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc; làm cho các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại cùng phát triển, tạo ra sức mạnh, tiềm lực tổng hợp, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở luật pháp quốc tế. Thực hiện chiến lược kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh trong bối cảnh mới của đất nước với tư duy và tầm nhìn chiến lược, dài hạn, chủ động kiến tạo, đột phá phát triển; nâng cao tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình phát triển, lấy phát triển để duy trì ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước, nâng cao đời sống và hạnh phúc của nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
_________________
Bài đăng trên số đặc biệt năm 2026 chào mừng Đại hội XIV của Đảng
Ngày nhận bài: 26-11-2025; Ngày bình duyệt: 30-12-2025; Ngày duyệt đăng: 05-01-2026.
Email tác giả: trieulong1503@gmail.com
(1) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.82.
(2) Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 10-2-2022 của Bộ Chính trị về “phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”; Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 2-4-2022 của Bộ Chính trị khóa XIII về “phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”; Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 7-10-2022 của Bộ Chính trị về “phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đông Nam Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”; Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 06-10-2022 của Bộ Chính trị về “phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”; Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 3-11-2022 của Bộ Chính trị về “phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”; Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 23-11-2022 của Bộ Chính trị về “phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.
(3), (4), (5) ĐCSVN: Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2025, tr.26, 25, 301.
(6) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr 112.