Thực tiễn

Phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại trong kỷ nguyên mới

04/02/2026 11:09

DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.2068
Tóm tắt: Phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại là tư duy chiến lược mang tính đột phá, thể hiện tầm nhìn chiến lược, nhất quán của Đảng trong dự thảo các Văn kiện Đại hội XIV. Quan điểm này kế thừa và phát triển đường lối kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh; đồng thời, đánh dấu bước tiến mới trong tư duy của Đảng về xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.

Trung tướng, PGS, TS NGUYỄN VĂN BẠO
Nguyên Giám đốc Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng cùng các lãnh đạo Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng tham quan sản phẩm Công nghiệp quốc phòng trưng bày tại triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam 2024.
Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng cùng các lãnh đạo Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng tham quan sản phẩm Công nghiệp quốc phòng trưng bày tại triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam_Ảnh: IT

1. Mở đầu

Quan điểm phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại là sự kết tinh trí tuệ của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phản ánh tầm nhìn chiến lược sâu sắc của Đảng trong dự thảo các Văn kiện Đại hội XIV. Đây không chỉ là chủ trương mang tính lý luận, mà còn là yêu cầu thực tiễn cấp bách, nhằm xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đồng thời, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực tự cường của đất nước.

2. Nội dung

1. Cơ sở lý luận phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Việc phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại của Đảng là sự kế thừa có tính hệ thống từ nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế với quốc phòng.

Tính “lưỡng dụng” của công nghiệp quốc phòng, an ninh xuất phát từ bản chất của quân đội như một lực lượng sản xuất đặc biệt, nơi các tiến bộ kỹ thuật và tổ chức được thử nghiệm và ứng dụng trước tiên. C.Mác khẳng định: “Nói chung quân đội đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế”(1). Đồng thời, cho rằng sự phát triển quân đội gắn liền với quá trình tiến bộ của lực lượng sản xuất xã hội: “Cũng ở đây lần đầu tiên sử dụng máy móc với quy mô lớn... Còn trong quân đội thì cũng lần đầu tiên tiến hành phân công lao động bên trong một ngành sản xuất”(2). Những luận điểm này cho thấy, xuyên suốt lịch sử, chính nhu cầu quân sự với những đòi hỏi khắt khe về kỹ thuật, tổ chức và kỷ luật đã trở thành một động lực tiên phong thúc đẩy sự tiến bộ của lực lượng sản xuất xã hội. Trên thực tế, nhiều phát minh công nghệ nền tảng, từ cơ khí chính xác đến công nghệ thông tin, viễn thông, đều ra đời từ nhu cầu quốc phòng trước khi được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất dân sự.

Kế thừa và vận dụng sáng tạo nguyên lý đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiện thực hóa thành phương châm “vừa kháng chiến vừa kiến quốc”. Người căn dặn: “Phải kết hợp chặt chẽ và thực hiện tốt mối quan hệ giữa sản xuất và chiến đấu. Phải phát triển công nghiệp quốc phòng để “chế nhiều vũ khí, dụng cụ, sản phẩm để đánh giặc và để cung cấp cho nhân dân””(3). Tư tưởng này của Người không chỉ dừng lại ở yêu cầu phát triển ngành quân giới, mà đã đặt nền móng cho một mô hình phát triển “lưỡng dụng” toàn diện, công nghiệp quốc phòng, an ninh phải vừa là công cụ bảo vệ Tổ quốc, vừa là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân.

Nguyên tắc “tự chủ, tự lực, tự cường” trong phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh có cơ sở lý luận vững chắc, bắt nguồn từ sự vận dụng sáng tạo của V.I.Lênin và Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mỗi nước.

Trong bối cảnh Nhà nước Xôviết non trẻ bị bao vây, V.I.Lênin đã xác định rõ mối quan hệ hữu cơ giữa kinh tế và quốc phòng. Người khẳng định: “vì chúng ta chủ trương bảo vệ Tổ quốc, nên chúng ta đòi hỏi phải có thái độ nghiêm túc đối với khả năng quốc phòng và đối với vấn đề chuẩn bị chiến đấu của nước nhà”(4). Để hiện thực hóa điều đó, V.I.Lênin chỉ rõ: “Muốn bảo vệ chính quyền của công nông... chúng ta phải có Hồng quân mạnh mẽ”(5) và “phải giữ cho Hồng quân của chúng ta trong thế sẵn sàng chiến đấu và tăng cường năng lực chiến đấu”(6). Điểm cốt lõi trong tư tưởng V.I.Lênin là việc xác định nền tảng kinh tế cho sức mạnh quốc phòng: “Cuộc chiến tranh cách mạng này cần phải được chuẩn bị lâu dài, nghiêm túc, bắt đầu phát triển kinh tế”(7). Luận điểm này chỉ rõ tự chủ về kinh tế là điều kiện tiên quyết để xây dựng nền quốc phòng tự chủ, tạo cơ sở lý luận vững chắc cho nguyên tắc “tự chủ, tự lực, tự cường” trong phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa và nâng tư tưởng này lên một tầm cao mới trong điều kiện một dân tộc thuộc địa vừa giành được độc lập. Người khẳng định một cách chắc chắn: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”(8) và chỉ rõ mối quan hệ nhân quả: “Có tự lập mới độc lập, có tự cường, mới tự do”(9). Tư tưởng tự lực cánh sinh của Người trở thành nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt, bất biến trong xây dựng tiềm lực quốc phòng, khẳng định rằng sức mạnh thực sự phải được xây dựng từ nội lực. Thực tiễn lịch sử Việt Nam đã chứng minh rõ ràng chân lý này, chỉ khi tự chủ được về công nghiệp quốc phòng, an ninh, quốc gia mới thực sự làm chủ được vận mệnh của mình và giữ vững thế chủ động chiến lược.

Yêu cầu “hiện đại” trong phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh được Ph.Ăngghen xem xét trong mối quan hệ biện chứng giữa phát triển vũ khí, trang bị và nghệ thuật quân sự. Trong các tác phẩm của mình, ông khẳng định: “Vũ trang, biên chế, tổ chức, chiến thuật, chiến lược phụ thuộc trước hết vào trình độ sản xuất đạt được trong một thời điểm nhất định và vào phương tiện giao thông... Việc phát minh ra những vũ khí tốt hơn và việc thay đổi chất liệu người lính”(10). Luận điểm này có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc, khẳng định vũ khí không chỉ là công cụ chiến tranh, mà chính là yếu tố kiến tạo nên hình thái tổ chức và trình độ nghệ thuật quân sự của mỗi thời đại. Mỗi bước tiến trong công nghệ vũ khí đều kéo theo sự biến đổi căn bản trong cách thức tổ chức, chiến thuật và tư duy chiến lược. Do đó, hiện đại hóa công nghiệp quốc phòng, an ninh là một tất yếu khách quan, phản ánh quy luật phát triển của lực lượng sản xuất trong lĩnh vực quốc phòng.

Kế thừa quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, hình thành tư tưởng chỉ đạo toàn diện về xây dựng nền quốc phòng độc lập, tự chủ và hiện đại. Người nhấn mạnh, con người là nhân tố quyết định, song vũ khí cũng rất quan trọng. Đây là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố con người, tinh thần với yếu tố vật chất - kỹ thuật, trong đó hiện đại hóa vũ khí, trang bị là yêu cầu không thể thiếu để nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội.

Trong bối cảnh một nước thuộc địa vừa giành được độc lập, Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc rằng, nếu không sớm xây dựng được nền công nghiệp quốc phòng tự chủ, hiện đại thì độc lập dân tộc sẽ không được bảo đảm vững chắc. Vì vậy, Người khẳng định: “việc cần cấp và quan trọng nhất của chúng ta lúc này là việc quốc phòng”(11) và “Đánh giặc, trước hết phải có vũ khí”(12). Ngay sau khi giành chính quyền, ngày 15-9-1945, Người ký Sắc lệnh thành lập Phòng Quân giới, đặt nền móng cho ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam. Đây là biểu hiện rõ nét của tư duy sớm về hiện đại hóa và toàn diện, coi phát triển công nghiệp quốc phòng là khâu trọng yếu trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Tư tưởng ấy không chỉ có ý nghĩa đối với Việt Nam mà còn phản ánh tầm nhìn chiến lược về mối quan hệ giữa khoa học - công nghệ và độc lập dân tộc trong điều kiện toàn cầu hóa và cạnh tranh chiến lược phức tạp.

Quá trình phát triển nhận thức trong đường lối của Đảng và mối quan hệ biện chứng giữa các thành tố trong phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh

Quá trình phát triển nhận thức của Đảng về công nghiệp quốc phòng, an ninh thể hiện sự vận động từng bước vững chắc, phản ánh tư duy lý luận ngày càng toàn diện và sâu sắc. Từ Đại hội VI đến Đại hội XIII, Đảng ta đã từng bước hình thành và hoàn thiện các quan điểm then chốt, khởi đầu bằng tư duy “kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh với kinh tế”, tiến tới chủ trương “xây dựng công nghiệp quốc phòng lưỡng dụng, hiện đại” và định hướng tự chủ trong nghiên cứu, thiết kế, chế tạo vũ khí, trang bị kỹ thuật.

Sự phát triển nhận thức này đạt tới đỉnh cao trong dự thảo các Văn kiện Đại hội XIV, khi lần đầu tiên khẳng định quan điểm toàn diện “phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại”. Sự tích hợp cả năm thành tố trong một chỉnh thể thống nhất đánh dấu một bước chuyển biến về chất trong tư duy lý luận của Đảng, từ cách tiếp cận đơn lẻ sang tư duy hệ thống, từ quan điểm về một ngành công nghiệp phụ trợ sang nhận thức về một lĩnh vực chiến lược, vừa bảo đảm quốc phòng, an ninh, vừa thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Việc Đảng đưa ra năm thành tố “tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại” không phải là sự ngẫu nhiên mà xuất phát từ nhận thức sâu sắc về mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau giữa các thành tố.

Thứ nhất, “tự chủ, tự lực, tự cường” là nền tảng, là mục tiêu chiến lược. Nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt này bảo đảm năng lực cốt lõi về công nghệ và trang bị phải được xây dựng và làm chủ từ bên trong. Chính vì vậy, nếu thiếu đi nền tảng này, mô hình “lưỡng dụng” sẽ dễ dàng rơi vào tình trạng phụ thuộc vào bên ngoài, khiến nền công nghiệp quốc phòng không thể vượt khỏi vai trò một mắt xích lắp ráp thụ động. Hệ quả tất yếu là sự “hiện đại” giả tạo, thiếu tính bền vững và dễ dàng bị tổn thương trước mọi biến động của tình hình địa chính trị.

Thứ hai, “lưỡng dụng” là phương thức và con đường hiệu quả để hiện thực hóa mục tiêu tự chủ, tự cường. Trong bối cảnh nguồn lực còn hạn chế, đây chính là cơ chế tối ưu để tạo ra vòng tuần hoàn phát triển công nghệ khép kín. Công nghệ quân sự chuyển giao và tham gia sản xuất cho dân sự để tạo nguồn thu, tái đầu tư; đồng thời, những đột phá từ công nghiệp dân sự (như điện tử, viễn thông, trí tuệ nhân tạo) lại được ứng dụng ngược trở lại để hiện đại hóa quốc phòng. Thực tế thành công tại các quốc gia như Ítxraen và Hàn Quốc đã chứng minh, một nền công nghiệp quốc phòng lưỡng dụng mạnh không chỉ bảo đảm an ninh quốc gia mà còn đóng vai trò đầu tàu trong đổi mới sáng tạo, thúc đẩy xuất khẩu công nghệ cao và nâng tầm vị thế quốc gia trên trường quốc tế.

Thứ ba, “hiện đại” là tiêu chí, là yêu cầu tất yếu để đạt được tự cường thực chất. Trong kỷ nguyên số, một nền quốc phòng tự cường không thể được xây dựng trên nền tảng công nghệ lạc hậu. “Hiện đại” không chỉ là sở hữu vũ khí tối tân, mà quan trọng hơn là năng lực làm chủ, nghiên cứu và phát triển các công nghệ nền tảng, then chốt. Không có sự hiện đại hóa, sức mạnh “tự chủ, tự lực, tự cường” sẽ không theo kịp yêu cầu của cuộc chiến tranh trong tương lai và tính “lưỡng dụng” cũng sẽ mất đi sức cạnh tranh trên thị trường.

Như vậy, năm thành tố này liên kết chặt chẽ với nhau, tạo thành một thể thống nhất. Tự chủ, tự lực, tự cường định hướng cho lưỡng dụng và hiện đại; lưỡng dụng là phương tiện để thúc đẩy tự cường và hiện đại; hiện đại là thước đo, là điều kiện để khẳng định tự chủ, tự cường một cách thực chất. Việc nhận thức đầy đủ mối quan hệ biện chứng này là cơ sở quan trọng để hoạch định các chính sách và giải pháp phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh một cách hiệu quả.

2.2. Cơ sở thực tiễn phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại

Từ nền tảng tự lực cánh sinh của ngành quân giới trong kháng chiến đã sản xuất, sửa chữa hàng triệu tấn vũ khí, trang bị từ súng, đạn, mìn đến cải tiến tên lửa phòng không, đó là bài học kinh nghiệm quý báu, khẳng định chân lý, chỉ có tự chủ về công nghiệp quốc phòng mới bảo đảm chủ động chiến lược trong mọi tình huống. Phát huy truyền thống đó, công nghiệp quốc phòng Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc trong thời kỳ đổi mới. Hệ thống nhà máy, viện nghiên cứu và doanh nghiệp quốc phòng đã phát triển đồng bộ, từng bước làm chủ nhiều công nghệ lõi. Ngành không chỉ tự chủ sản xuất được hầu hết các loại vũ khí trang bị cho bộ binh, mà còn nghiên cứu thiết kế, chế tạo thành công nhiều vũ khí, trang bị hiện đại có ý nghĩa chiến lược như tên lửa, tàu quân sự, xe tăng, xe thiết giáp hiện đại, các loại UAV và ra đa cảnh giới. Những thành tựu này không chỉ trực tiếp phục vụ nhiệm vụ hiện đại hóa quân đội mà còn tạo tiền đề hình thành nền công nghiệp quốc phòng tự chủ, lưỡng dụng, kết hợp chặt chẽ với sản xuất dân dụng. Nhiều sản phẩm vừa phục vụ quốc phòng, vừa phục vụ kinh tế - xã hội, như thiết bị viễn thông, tàu cá vỏ thép, vật liệu nổ công nghiệp và thiết bị y tế; một số sản phẩm chiếm lĩnh được thị trường nước ngoài, nhất là trong các lĩnh vực vật liệu nổ công nghiệp, pháo hoa, đóng tàu, cơ khí điện - điện tử, viễn thông, cao su kỹ thuật, sản phẩm may mặc và các mặt hàng tiêu dùng. Đồng thời, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng sản xuất của một số tập đoàn, doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước như Samsung, Đèo Cả, THACO, Vautid, Itouchu, Sino, Concord... góp phần thúc đẩy đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất quốc gia(13).

Mặc dù đã đạt được những kết quả quan trọng, công nghiệp quốc phòng, an ninh nước ta đang đối mặt với những hạn chế cơ bản, cần được nhìn nhận một cách thẳng thắn và toàn diện:

Thứ nhất, năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D) các hệ thống vũ khí, trang bị công nghệ cao còn hạn chế, đặc biệt trong các lĩnh vực then chốt như điện tử, ra đa, hệ thống điều khiển thông minh và vũ khí dẫn đường chính xác.

Thứ hai, hệ quả trực tiếp của việc này là tỷ lệ nội địa hóa trong các sản phẩm phức tạp còn thấp, dẫn đến sự phụ thuộc đáng kể vào nguồn cung linh kiện và công nghệ nền tảng từ nước ngoài, tiềm ẩn nhiều rủi ro cho an ninh chiến lược và khả năng chủ động.

Thứ ba, hệ thống cơ chế, chính sách đặc thù chưa thực sự đột phá, thể hiện qua các quy định về huy động nguồn lực, cơ chế tài chính cho R&D và khung pháp lý để khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân còn nhiều bất cập.

Thứ tư, sự kết nối giữa công nghiệp quốc phòng với công nghiệp dân sự và hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia chưa thực sự hiệu quả, hạn chế việc tận dụng các thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến từ khu vực dân sự.

Thứ năm, nguồn lực tài chính cho nghiên cứu và phát triển còn hạn chế, cả từ ngân sách nhà nước lẫn nguồn vốn huy động xã hội hóa, khiến cho nhiều dự án công nghệ cao chưa thể triển khai hoặc bị chậm tiến độ, không đáp ứng kịp yêu cầu hiện đại hóa trong bối cảnh mới.

2.3. Giải pháp phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc

Trong bối cảnh toàn cầu có nhiều biến động phức tạp, cục diện an ninh tiếp tục gia tăng những yếu tố khó lường, đặt ra những đòi hỏi mới về năng lực tự chủ của mỗi quốc gia. Các nguy cơ an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen, từ xung đột sắc tộc, tôn giáo, khủng bố đến chiến tranh mạng đã trở thành mối đe dọa thường trực. Đặc biệt, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, biến biển Đông thành điểm nóng tiềm tàng, trực tiếp đe dọa an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Thực tiễn này đặt ra hai thách thức chiến lược; một mặt, các nước xuất khẩu vũ khí luôn siết chặt chuyển giao công nghệ lõi và tiềm ẩn rủi ro về “cửa sau” kỹ thuật, đe dọa trực tiếp đến tính bảo mật và an toàn của hệ thống; mặt khác, bài học từ xung đột Nga - Ucraina cho thấy rõ sự mong manh của các quốc gia phụ thuộc vào bên ngoài khi chuỗi cung ứng vũ khí đứt gãy, khả năng bảo trì và tái trang bị bị tê liệt.

Ở trong nước, bên cạnh những thành tựu to lớn sau gần 40 năm đổi mới, bốn nguy cơ mà Đảng chỉ ra vẫn hiện hữu và diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch không ngừng gia tăng chống phá bằng những thủ đoạn tinh vi, lợi dụng mọi sơ hở để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nền hòa bình, ổn định mà dân tộc ta đã phải đánh đổi bằng xương máu của bao thế hệ đang bị đe dọa bởi âm mưu xóa bỏ chủ nghĩa xã hội thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình”. Các đối tượng tác chiến đều sở hữu tiềm lực kinh tế - quân sự vượt trội, với khả năng sản xuất và cung ứng vũ khí, trang bị công nghệ cao. Trong khi đó, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra cả thời cơ lẫn thách thức lớn, nếu không kịp thời nắm bắt, khoảng cách tụt hậu sẽ ngày càng gia tăng.

Trước bối cảnh trên, việc phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại không còn là lựa chọn mà trở thành yêu cầu bắt buộc, điều kiện sống còn để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Để đáp ứng yêu cầu này, cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp trọng tâm sau:

Một là, hoàn thiện thể chế, chính sách đột phá

Đây là giải pháp nền tảng, tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho công nghiệp quốc phòng, an ninh phát triển. Cần khẩn trương hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh, cụ thể hóa các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng. Đồng thời, chuyển đổi cơ chế tài chính từ cấp phát sang đặt hàng dựa trên kết quả đầu ra, kết hợp với hoạt động của Quỹ Đổi mới sáng tạo quốc gia hoạt động theo mô hình đầu tư mạo hiểm. Áp dụng cơ chế thí điểm đặc biệt (sandbox) cho phép linh hoạt về đấu thầu, tài chính, thuế đối với các lĩnh vực công nghệ ưu tiên.

Hai là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định thành công của mục tiêu phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh. Cần xây dựng chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài đặc biệt, chú trọng thu hút chuyên gia, trí thức kiều bào. Đổi mới toàn diện công tác đào tạo, thông qua tăng cường hợp tác giữa các học viện, nhà trường quân đội với các trường đại học công nghệ hàng đầu. Phát triển mô hình đào tạo gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường - viện nghiên cứu - doanh nghiệp, xây dựng lộ trình phát triển nguồn nhân lực công nghệ cao cho các lĩnh vực trọng điểm.

Ba là, đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ cốt lõi

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt để xây dựng nền công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ. Cần tập trung nguồn lực phát triển các công nghệ ưu tiên như trí tuệ nhân tạo, điện tử - viễn thông, vũ khí thông minh thông qua các chương trình quốc gia trọng điểm. Xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, chú trọng phát triển các công nghệ nền tảng và hệ sinh thái số. Đồng thời, đẩy mạnh chuyển giao và ứng dụng công nghệ lưỡng dụng.

Bốn là, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực

Phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh đòi hỏi sự tham gia của toàn xã hội. Cần đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư, kết hợp hài hòa ngân sách nhà nước với vốn doanh nghiệp, vốn xã hội hóa. Thúc đẩy liên kết công - tư (PPP) với cơ chế bảo mật chặt chẽ. Tăng cường hợp tác quốc tế có chọn lọc, ưu tiên hợp tác với các đối tác chiến lược tin cậy. Phát triển thị trường sản phẩm công nghiệp quốc phòng, an ninh cả trong nước và xuất khẩu.

Năm là, đổi mới tổ chức, quản lý và giám sát

Cần kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước theo hướng tập trung, thống nhất. Áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản trị. Xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá hiệu quả với bộ chỉ tiêu toàn diện. Hoàn thiện cơ chế kiểm tra, thanh tra chuyên ngành và nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp.

3. Kết luận

Phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại là sự thể hiện sinh động tư duy chiến lược của Đảng trong bối cảnh mới, kết hợp nhuần nhuyễn giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ trương này không chỉ nhằm bảo đảm an ninh quốc gia mà còn định vị công nghiệp quốc phòng, an ninh trở thành một động lực quan trọng, một mũi nhọn công nghệ để thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, khẳng định vị thế Việt Nam trong kỷ nguyên số.

_________________

Bài đăng trên số đặc biệt năm 2026 chào mừng Đại hội XIV của Đảng

Ngày nhận: 18-11-2025; Ngày bình duyệt: 08-12-2025; Ngày duyệt đăng: 05-01-2026.

Email của tác giả: quangbao63@gmail.com

(1), (2) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.29, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.246.

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.IX.

(4), (7) V.I.Lênin: Toàn tập, t.35, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.480-481, 480-481.

(5) V.I.Lênin: Toàn tập, t.39, Sđd, tr.175.

(6) V.I.Lênin: Toàn tập, t.42, Sđd, tr.159.

(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Sđd, tr.445.

(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Sđd, tr.553.

(10) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.20, Sđd, tr.235.

(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Sđd, tr.16.

(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, Sđd, tr.397.

(13) Xem Bộ Quốc phòng, Cục Kinh tế: 80 năm Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh (1944-2024), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2024.