Các tỉnh ủy vùng đồng bằng sông Cửu Long lãnh đạo thực hiện công tác dân tộc trong thời kỳ đổi mới
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.6618
Tóm tắt: Trong thời kỳ đổi mới, quán triệt các quan điểm, chủ trương của Đảng về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc, các tỉnh ủy vùng đồng bằng sông Cửu Long đã lãnh đạo triển khai nhiều nghị quyết, chương trình, kế hoạch nhằm phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc, bảo tồn các giá trị văn hóa và giữ vững ổn định an ninh chính trị trên địa bàn. Bài viết làm rõ những quan điểm cơ bản của Đảng về công tác dân tộc trong thời kỳ đổi mới; phân tích thực tiễn lãnh đạo thực hiện công tác dân tộc của các tỉnh ủy vùng đồng bằng sông Cửu Long, chỉ ra những kết quả đạt được và một số hạn chế còn tồn tại. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục vận dụng hiệu quả các quan điểm, chủ trương của Đảng trong lãnh đạo thực hiện công tác dân tộc trong thời gian tới.
ThS NGÔ HÀ TRƯỜNG SƠN
Học viện Chính trị khu vực IV

1. Mở đầu
Công tác dân tộc là nhiệm vụ quan trọng trong thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận để lãnh đạo công tác dân tộc, như: Thông tri số 03-TT/TW ngày 17-10-1991 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác đối với đồng bào Chăm, Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 10-01-2018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khơme trong tình hình mới; Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 23-9-1994 của Ban Chấp hành Trung ương về một số công tác ở vùng dân tộc Mông,... Đây là những văn bản chỉ đạo quan trọng, có ý nghĩa định hướng đối với việc triển khai toàn diện các nội dung của công tác dân tộc ở các cấp ủy đảng nói chung và các tỉnh ủy vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng. Vì vậy, việc các tỉnh ủy nghiên cứu, quán triệt các quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác dân tộc, nhằm vận dụng vào tổ chức thực hiện trong vùng có đông đồng bào dân tộc sinh sống là yêu cầu cấp thiết.
2. Nội dung
2.1. Quan điểm của Đảng về công tác dân tộc thời kỳ đổi mới
Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã xác định mục tiêu của cách mạng là độc lập dân tộc và người cày có ruộng nhằm giải quyết hai vấn đề cơ bản và cấp bách nhất của đất nước ta lúc bấy giờ. Đồng thời, Cương lĩnh vạch ra phương châm hành động trên tinh thần huy động sức mạnh của các giai cấp, tầng lớp và nhân dân các dân tộc cùng đứng lên chống kẻ thù.
Tại Đại hội I (tháng 3-1935), Đảng khẳng định: “Đảng muốn chỉ huy nổi phong trào, muốn đưa cao trào cách mạng mới lên tới trình độ cao, tới toàn quốc vũ trang bạo động, đánh đổ đế quốc, phong kiến, lập nên chính quyền Xôviết, thì trước hết cần phải thâu phục quảng đại quần chúng… Phải tổ chức cuộc vận động giải phóng của các dân tộc thiểu số. Trong mỗi sự hành động, trong mỗi cuộc tranh đấu hằng ngày của Đảng cần phải đòi quyền lợi cho thanh niên, phụ nữ, các dân tộc thiểu số và quần chúng lao động người ngoại quốc, cần phải liên lạc khẩu hiệu từng phần với khẩu hiệu chung của cuộc cách mạng Đông Dương”(1). Với tinh thần đó, Đảng đã huy động được tối đa sức người, sức của của đông đảo tầng lớp nhân dân, trong đó có đồng bào các dân tộc thiểu số, từ đó làm nên thắng lợi to lớn của cuộc Cách mạng Tháng Tám, thiết lập Nhà nước dân chủ cộng hòa.
Trong thời kỳ đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và những năm đầu sau thống nhất, mặc dù tình hình kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, Đảng luôn dành sự quan tâm lớn cho công tác dân tộc. Đại hội IV (tháng 12-1976) chỉ rõ: “Chính sách dân tộc của Đảng là thực hiện triệt để quyền bình đẳng về mọi mặt giữa các dân tộc, tạo những điều kiện cần thiết để xóa bỏ tận gốc sự chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa dân tộc ít người và dân tộc đông người, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp, làm cho tất cả các dân tộc đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đều phát triển về mọi mặt, đoàn kết giúp nhau cùng tiến bộ, cùng làm chủ tập thể Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(2).
Bước vào thời kỳ đổi mới đất nước, Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận quan trọng, góp phần định hình rõ hơn về quan điểm cũng như các giải pháp thực hiện hiệu quả công tác dân tộc. Đại hội VI của Đảng khẳng định: “Sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự củng cố, phát triển của cộng đồng các dân tộc trên đất nước ta,... Trong khi xử lý các mối quan hệ dân tộc, phải có thái độ thận trọng đối với những gì liên quan đến lợi ích của mỗi dân tộc, tình cảm dân tộc của mỗi người. Chống những thái độ, hành động biểu thị tư tưởng “dân tộc lớn” và những biểu hiện của tư tưởng dân tộc hẹp hòi”(3).
Đến Đại hội VII, trong bối cảnh trên thế giới và ngay trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa xuất hiện một số biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, dân tộc hẹp hòi có xu hướng trỗi dậy, đe dọa ổn định an ninh chính trị, Đảng ta chủ trương: “Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, cùng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta”(4).
Bước sang thế kỷ XXI, tại Đại hội X, công tác dân tộc được Đảng xác định “có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(5).
Đến Đại hội XIII, Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm: “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”(6), đồng thời nhấn mạnh yêu cầu: “Chú trọng tính đặc thù của từng vùng dân tộc thiểu số trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc. Có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bền vững. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, người có uy tín tiêu biểu trong vùng dân tộc thiểu số. Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc”(7).
Bên cạnh các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc, trong thời kỳ đổi mới đất nước, Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận về công tác dân tộc; trong đó có các văn bản chỉ đạo riêng về công tác dân tộc, cũng như những nội dung được lồng ghép trong các nghị quyết, kết luận về phát triển vùng, quốc gia. Tiêu biểu là Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12-3-2003 của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác dân tộc; Kết luận số 65-KL/TW ngày 30-10-2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW trong tình hình mới; Kết luận số 28-KL/TW ngày 14-8-2012 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2011-2020; cùng các nghị quyết của Bộ Chính trị như: Nghị quyết 11-NQ/TW ngày 10-02-2022 về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết 13-NQ/TW ngày 02-4-2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 06-10-2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Nhìn chung, quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác dân tộc thời kỳ đổi mới đất nước gồm các nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, về phương châm hành động: xác định vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài của cách mạng Việt Nam. Các dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển; kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu, thủ đoạn chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
Thứ hai, về chủ thể thực hiện: là toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, các cấp, các ngành trong toàn hệ thống chính trị. Trong đó, các cấp ủy, tổ chức đảng giữ vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, trên cơ sở quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc các quan điểm, phương hướng chung của Trung ương, đồng thời phát huy vai trò chủ động, sáng tạo trong quá trình tổ chức thực hiện.
Thứ ba, về nội dung thực hiện: tiến hành trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng an ninh, đối ngoại. Trong đó, trọng tâm là xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở vùng đồng bào dân tộc; phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững; nâng cao dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của đồng bào các dân tộc; giữ vững ổn định chính trị; phòng, chống các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch tại vùng đồng bào dân tộc.
Thứ tư, về mục tiêu: phát triển bền vững; phát huy lợi thế, tiềm năng của vùng đồng bào dân tộc; khơi dậy tinh thần tự lực của đồng bào dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định an ninh chính trị ở địa phương.
Thứ năm, về cách thức tổ chức thực hiện: tiến hành đồng bộ từ khâu xác định chủ trương đến tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, gắn với sơ kết, tổng kết. Trong đó, trọng tâm là đẩy mạnh giáo dục, nâng cao nhận thức cho các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, các thành tố của hệ thống chính trị và toàn xã hội về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc; huy động nguồn lực của toàn xã hội, kết hợp và sử dụng hiệu quả nguồn lực của Trung ương và địa phương; phát huy tinh thần tự giác, tích cực của đồng bào các dân tộc; đồng thời ưu tiên đầu tư một số lĩnh vực trọng điểm nhằm phát triển nhanh và bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
2.2. Các tỉnh ủy vùng đồng bằng sông Cửu Long lãnh đạo thực hiện công tác dân tộc trong thời kỳ đổi mới
Là vùng đất có trên 40 dân tộc sinh sống, trong đó ba dân tộc Khơme, Hoa, Chăm có dân số đông (đồng thời là 3/4 dân tộc thiểu số trên cả nước được Đảng ban hành kết luận, chỉ thị riêng), công tác dân tộc ở vùng đồng bằng sông Cửu Long có ý nghĩa hết sức quan trọng, không chỉ thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân các dân tộc thiểu số mà còn góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa, bảo đảm ổn định chính trị, tạo lập các điều kiện cần thiết cho sự phát triển toàn diện và bền vững của vùng đồng bào dân tộc ở khu vực này.
Trong thời gian qua, trên cơ sở nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề dân tộc và công tác dân tộc đối với sự phát triển nhanh và bền vững, các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Cửu Long đã chủ động quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc các quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác dân tộc. Hầu hết các tỉnh có đông đồng bào dân tộc sinh sống trong vùng đã ban hành các nghị quyết, kết luận, chương trình, kế hoạch của tỉnh ủy và hội đồng nhân dân tỉnh nhằm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác dân tộc.
Tiêu biểu là Kế hoạch số 54-KH/TU ngày 12-6-2018 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy An Giang thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khơme trong tình hình mới; Công văn số 981-CV/TU ngày 31-1-2020 của Tỉnh ủy An Giang về triển khai thực hiện Kết luận số 65-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác dân tộc; Chương trình số 60-CTr/TU ngày 29-2-2024 của Tỉnh ủy Cà Mau thực hiện Nghị quyết số 43-NQ/TW về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc; Công văn số 2175-CV/TU ngày 18-5-2020 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Long về triển khai thực hiện Kết luận số 65-KL/TW của Bộ Chính trị về công tác dân tộc.
Tại tỉnh Đồng Tháp, trên cơ sở các chủ trương, nghị quyết của Trung ương, Tỉnh ủy đã chỉ đạo Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng và triển khai các chương trình, kế hoạch cụ thể, tiêu biểu là Kế hoạch số 208/KH-UBND ngày 7-6-2022 về thực hiện Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên địa bàn tỉnh. Tại Sóc Trăng, Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 14-2-2017 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và Kết luận số 02-KL/TU ngày 30-12-2020 về tiếp tục thực hiện nghị quyết này.
Các nghị quyết, kết luận, kế hoạch về công tác dân tộc của các tỉnh ủy đã tập trung giải quyết những vấn đề thiết yếu đối với đồng bào dân tộc, như đất ở, đất sản xuất; chính sách đối với người có uy tín; chính sách vay vốn phát triển sản xuất; cũng như bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc.
Bên cạnh việc triển khai các chủ trương, chính sách chung của Trung ương, một số tỉnh còn ban hành các chính sách đặc thù phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương. Tiêu biểu như: chủ trương hỗ trợ đất sản xuất, chuyển đổi nghề và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc của tỉnh Cà Mau: giai đoạn 2017-2020 đã hỗ trợ đất sản xuất cho 46 hộ dân tộc với diện tích 18,5 ha, kinh phí 780 triệu đồng; hỗ trợ chuyển đổi nghề thay cho đất sản xuất cho 1.551 hộ với kinh phí 14,364 tỷ đồng(8); chủ trương hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo là người dân tộc thiểu số nhân các dịp lễ, tết cổ truyền của đồng bào dân tộc trên địa bàn tỉnh An Giang: giai đoạn 2019-2024 đã thực hiện hỗ trợ 300.000 đồng/hộ với tổng kinh phí hơn 1,5 tỷ đồng(9); chủ trương hỗ trợ nhà sư, Achar dạy tiếng Khơme vào dịp hè, giáo viên dạy tiếng và chữ Hoa tại các trường ngoài hệ thống công lập, đồng thời hỗ trợ đóng 100% bảo hiểm y tế cho người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc cư trú ngoài vùng đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng: giai đoạn 2019-2024 đã hỗ trợ 768 nhà sư và Achar, 93 giáo viên dạy tiếng và chữ Hoa; 28.578 người có uy tín, với tổng kinh phí hơn 6 tỷ đồng(10),…
Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác dân tộc của các tỉnh ủy vùng đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian qua đã phát huy hiệu quả sự tham gia của cả hệ thống chính trị, huy động và sử dụng tương đối tốt các nguồn lực xã hội hóa; đồng thời khơi dậy và phát huy vai trò chủ động, tích cực của đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương thông qua hoạt động của các chùa Khơme, Ban quản trị Thánh đường, Hội tương tế người Hoa,… Sự chủ động và hiệu quả trong lãnh đạo công tác dân tộc của các tỉnh ủy đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc.
Trong giai đoạn 2015-2020, thu nhập bình quân đầu người vùng dân tộc thiểu số đạt khoảng 25 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 4%/năm, từ 23,45% năm 2016 xuống còn 7,26% năm 2020. Tại một số tỉnh có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, tình hình kinh tế, xã hội có những chuyển biến rõ nét. Cụ thể, tại tỉnh Trà Vinh, đến cuối năm 2024, tỷ lệ hộ nghèo người dân tộc Khơme giảm 0,57%, hộ cận nghèo người Khơme giảm 0,51%; 100% xã, phường, thị trấn và các vùng nông thôn có điện lưới quốc gia, với 99,61% số hộ toàn tỉnh và 99,54% số hộ dân nông thôn được sử dụng điện lưới; tỷ lệ hộ đồng bào dân tộc thiểu số sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 100%(11).
Tại tỉnh Sóc Trăng, đến đầu năm 2024, 100% vùng đồng bào dân tộc thiểu số có đường ô tô đến trung tâm được cứng hóa; 100% xã, phường đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã; 100% xã, phường, thị trấn có trụ sở làm việc và 55,2% khóm, ấp có nhà sinh hoạt cộng đồng(12). Cùng với phát triển kinh tế - xã hội, tình hình an ninh trật tự trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số được giữ vững, thông qua việc triển khai nhiều mô hình hiệu quả như: “Tiếng loa biên phòng” tại các tỉnh Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau; mô hình “Sư sãi, phật tử tham gia phòng, chống tội phạm”, “Tự phòng, tự quản trong các cơ sở thờ tự”, “Phát huy vai trò của người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số”.
Tuy nhiên, việc vận dụng các quan điểm, chủ trương của Đảng về vấn đề dân tộc trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác dân tộc của các tỉnh ủy vùng đồng bằng sông Cửu Long thời gian qua vẫn còn bộc lộ một số hạn chế. Trước hết, công tác lãnh đạo, chỉ đạo chưa đồng đều giữa các địa phương: một số tỉnh đã ban hành nghị quyết, chương trình riêng về công tác dân tộc (như Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang, An Giang), trong khi một số tỉnh khác chủ yếu dừng ở việc ban hành chương trình hoặc kế hoạch hành động nhằm triển khai các nghị quyết, kết luận của Trung ương. Bên cạnh đó, đa số các tỉnh trong vùng chưa xây dựng được các chính sách đặc thù, nhất là các chính sách đặc thù về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, bản sắc của đồng bào dân tộc thiểu số. Việc phát huy tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào dân tộc thiểu số trong vươn lên thoát nghèo bền vững còn hạn chế, đặc biệt là trong vùng đồng bào Khơme ở khu vực biên giới và miền núi. Ngoài ra, tình hình an ninh trật tự ở một số địa bàn vẫn tiềm ẩn yếu tố phức tạp, thể hiện qua một số vụ việc gây mất ổn định cục bộ tại một số cơ sở tôn giáo trên địa bàn các tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh trong các năm 2023–2024..
Để tiếp tục vận dụng hiệu quả các quan điểm, chủ trương của Đảng về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc trong thời kỳ đổi mới vào quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác dân tộc của các tỉnh ủy vùng đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian tới, cần tập trung triển khai một số giải pháp chủ yếu sau:
Thứ nhất, quán triệt nghiêm túc các quan điểm, chủ trương của Đảng về vấn đề dân tộc; coi vấn đề dân tộc và công tác dân tộc là nhiệm vụ trọng yếu trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa phương, có ý nghĩa quan trọng đối với thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh chính trị. Việc triển khai cần được tiến hành thường xuyên, nhất quán, đồng thời chú trọng tính đặc thù của từng dân tộc, nhất là tại các tỉnh có đông đồng bào dân tộc sinh sống như An Giang, Vĩnh Long, Cà Mau.
Thứ hai, thực hiện nghiêm phương châm bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc trên địa bàn; kiên quyết đấu tranh, khắc phục tư tưởng kỳ thị, hẹp hòi, coi đồng bào dân tộc là gánh nặng hoặc là nguyên nhân của tình trạng lạc hậu, chậm phát triển, nhất là trong bối cảnh sáp nhập đơn vị hành chính làm mở rộng không gian phát triển và gia tăng tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số trong cơ cấu dân cư của địa phương.
Thứ ba, lãnh đạo phát triển toàn diện, bền vững vùng đồng bào dân tộc ở địa phương; nghiên cứu xây dựng các đề án, kế hoạch tổng thể về phát triển vùng đồng bào dân tộc, qua đó xác định rõ những nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đối với từng cộng đồng dân tộc trên địa bàn, như: giải quyết vấn đề đất ở, đất sản xuất và chuyển đổi sinh kế cho đồng bào Khơme; hỗ trợ vốn để chuyển đổi, mở rộng sản xuất, kinh doanh đối với đồng bào Hoa, Chăm; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, bản sắc dân tộc gắn với phát triển du lịch đối với đồng bào Khơme, Chăm.
Thứ tư, huy động sự tham gia của toàn hệ thống chính trị trong triển khai các nội dung của công tác dân tộc tại địa phương; đồng thời huy động, quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững ổn định an ninh chính trị vùng đồng bào dân tộc, qua đó phát huy tính tích cực, chủ động của đồng bào dân tộc trong vươn lên thoát nghèo bền vững và gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa.
3. Kết luận
Là quốc gia đa dân tộc, công tác dân tộc luôn được Đảng ta xác định là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài và có ý nghĩa cấp bách đối với sự nghiệp cách mạng. Thực tiễn ở vùng đồng bằng sông Cửu Long thời gian qua cho thấy, việc quán triệt và tổ chức thực hiện các quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác dân tộc đã góp phần quan trọng trong nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, giữ vững ổn định an ninh chính trị trên địa bàn. Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới của quá trình phát triển và hội nhập, vùng đồng bào dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long, nhất là đồng bào Khơme và Chăm, vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Điều đó đòi hỏi các tỉnh ủy trong vùng cần tiếp tục quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo và tổ chức thực hiện hiệu quả hơn nữa các quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác dân tộc trong thời gian tới.
Ngày nhận bài: 16-12-2025;
Ngày bình duyệt: 4-2-2026;
Ngày duyệt đăng: 9-2-2026.
Email tác giả: ngohatruongsonhv4@gmail.com
(1) ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr.26-27.
(2) ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, t.37, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.606.
(3) ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, t.21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.432.
(4) ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, t.51, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.104.
(5) ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, t.65, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr 216-217.
(6), (7) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.170, 170-171.
(8) Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau: Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Cà Mau lần thứ IV năm 2024.
(9) Tỉnh ủy An Giang: Báo cáo sơ kết 05 năm thực hiện Kết luận số 65-KL/TW, ngày 30-10-2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 12-3-2003 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác dân tộc trong tình hình mới.
(10) Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng: Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Sóc Trăng lần thứ IV năm 2024.
(11) Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh: Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện kết luận số 65-KL/TW, ngày 30-10-2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện nghị quyết 24-NQ/TW, ngày 12-3-2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác dân tộc trong tình hình mới, 2024.
(12) Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng: Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Sóc Trăng lần thứ IV, năm 2024.