Thực tiễn

Bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững vùng trung du và miền núi phía Bắc

10/02/2026 16:53

DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.3133
Tóm tắt: Bảo vệ môi trường tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc có tầm quan trọng chiến lược trong thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, giúp bảo vệ nguồn tài nguyên rừng và nước, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai, đồng thời nâng cao giá trị nông, lâm nghiệp và phát triển du lịch sinh thái. Bài viết phân tích quan điểm của Đảng về bảo vệ môi trường; làm rõ thực trạng và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường để phát triển kinh tế bền vững ở các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc.

TS TRỊNH THỊ KIM THOA
Trường Đại học Công nghệ thông tin và truyền thông,
Đại học Thái Nguyên

Năm 2021, xã Đồng Tâm phấn đấu cán đích chương trình xây dựng nông thôn mới.
Các phong trào dọn dẹp vệ sinh môi trường được bà con vùng cao tích cực hưởng ứng_Ảnh minh họa: IT

1. Mở đầu

Các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc có vai trò chiến lược trong bảo vệ môi trường, an ninh sinh thái và nguồn nước đối với vùng đồng bằng sông Hồng, bởi đây là khu vực thượng nguồn của nhiều sông lớn. Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 10-02-2022 của Bộ Chính trị khóa XIII về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã khẳng định rõ vai trò của miền núi phía Bắc như “lá chắn sinh thái” và “nguồn cung cấp nước” cho toàn bộ khu vực hạ du. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, suy giảm diện tích rừng, gia tăng các hoạt động kinh tế, nhất là khai thác khoáng sản, việc bảo vệ môi trường tại thượng nguồn trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Suy thoái môi trường ở các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc có thể gây ra chuỗi tác động tiêu cực xuống vùng đồng bằng sông Hồng như lũ quét, sạt lở, bồi lắng lòng sông, giảm chất lượng và trữ lượng nước, đe dọa an ninh nguồn nước, đất, không khí,... Đồng thời, việc duy trì hệ sinh thái rừng đầu nguồn ổn định, kiểm soát phát thải và sử dụng tài nguyên hợp lý góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững, giảm thiểu rủi ro thiên tai và bảo vệ không gian sinh tồn của hàng chục triệu dân vùng hạ du.

Trong những năm qua, các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc đã đặc biệt quan tâm phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân. Tuy nhiên, việc tập trung vào tăng trưởng kinh tế, sử dụng công nghệ lạc hậu đã dẫn đến ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Tình trạng này đòi hỏi các địa phương phải chuyển đổi tư duy, áp dụng tiêu chí sàng lọc dự án, đầu tư công nghệ xanh và tuân thủ nghiêm ngặt Luật Bảo vệ môi trường, giải quyết hài hòa giữa mục tiêu phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.

2. Nội dung

2.1. Quan điểm của Đảng về bảo vệ môi trường trong phát triển kinh tế

Sau 40 năm đổi mới, công cuộc phát triển kinh tế của Việt Nam đã có những bước chuyển mạnh mẽ khi đất nước đã vượt qua ngưỡng thu nhập trung bình thấp và đang vươn lên trở thành nước công nghiệp hiện đại. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế cũng nảy sinh nhiều vấn đề môi trường ngày càng phức tạp, tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội và sinh kế người dân.

Nhận thức rõ yêu cầu thực tế, trong những năm qua, Đảng ngày càng nhấn mạnh vai trò và tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển.

Tại Đại hội VII (năm 1991), lần đầu tiên Đảng đã đưa ra quan điểm “Tăng trưởng kinh tế, gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa và bảo vệ môi trường”(1).

Đại hội VIII (năm 1996) tiếp tục các quan điểm về tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái, đồng thời xác định: “Sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường sinh thái. Thực hiện các dự án về cải tạo, bảo vệ môi trường, xây dựng các vườn quốc gia, khu rừng cấm, trồng cây xanh ở đô thị và các khu công nghiệp; áp dụng các kỹ thuật tiên tiến để xử lý các chất độc hại, chất thải”(2). Chỉ thị số 36/CT-TW ngày 25-06-1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nêu rõ: “Bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”(3).

Tại Đại hội XI, khái niệm “kinh tế xanh” được đưa ra như một định hướng quan trọng trong chiến lược phát triển của Việt Nam: “Chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường. Thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững; từng bước phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch”(4). Điều này cho thấy, Việt Nam đã sớm tiếp cận các mô hình kinh tế mới, thân thiện với môi trường.

Đại hội XIII của Đảng khẳng định vai trò của mô hình kinh tế hiện đại trong việc bảo vệ môi trường: “Phát triển kinh tế xanh, ít chất thải, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, cácbon thấp; khuyến khích phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn để sử dụng tổng hợp và hiệu quả đầu ra của quá trình sản xuất(5). Quan điểm của Đại hội XIII về phát triển kinh tế xanh được tích hợp sâu sắc vào Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn 2050, tập trung vào 3 nhiệm vụ trọng tâm: (1) Giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; (2) Xanh hóa sản xuất; (3) Xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững.

Trong các Đại hội trước, vấn đề môi trường chủ yếu được đề cập như một nguyên tắc định hướng hoặc một lĩnh vực cần quan tâm khắc phục trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thì đến Đại hội XIV, vấn đề môi trường đã được đặt ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển, ngang hàng với các mục tiêu kinh tế - xã hội: “Phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm”(6). Sự chuyển dịch này phản ánh bước phát triển mới trong tư duy phát triển của Đảng, từ cách tiếp cận “bảo vệ môi trường” sang “kiến tạo môi trường”, tức là không chỉ phòng ngừa, ngăn chặn ô nhiễm mà còn chủ động xây dựng môi trường sống lành mạnh, phù hợp với xu thế toàn cầu và yêu cầu phát triển nội tại của Việt Nam.

Đây cũng chính là quan điểm xuyên suốt của Đảng khi chỉ đạo, định hướng phát triển kinh tế luôn gắn với bảo vệ môi trường, không đánh đổi môi trường lấy phát triển kinh tế, đồng thời coi trọng vấn đề bảo vệ môi trường để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế bền vững.

Từ quan điểm nhất quán của Đảng về bảo vệ môi trường, yêu cầu cụ thể hóa và vận dụng phù hợp điều kiện thực tiễn của từng vùng, từng địa phương. Trong đó, vùng trung du và miền núi phía Bắc - có vị trí đặc biệt quan trọng về sinh thái và phát triển bền vững - là địa bàn cần được đặt ra yêu cầu cao trong bảo vệ môi trường gắn với phát triển bền vững.

2.2. Thực trạng bảo vệ môi trường ở các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc

Một số kết quả tích cực

Thứ nhất, các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc đã từng bước quan tâm xây dựng quy hoạch, dự án môi trường trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất tác động tiêu cực của hoạt động phát triển kinh tế đến môi trường. Trong Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Sơn La lần thứ XV; Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XVII; Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XVIII; Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XX,... đều quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường, đề ra các chỉ tiêu môi trường trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, thể hiện sự quyết tâm cũng như nỗ lực của các địa phương trong việc kết hợp hài hòa giữa mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, hằng năm các tỉnh đều tiến hành thực hiện báo cáo hiện trạng môi trường, qua đó đánh giá toàn diện tác động của phát triển kinh tế - xã hội đến tài nguyên và môi trường. Hoạt động này cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng để hoạch định chính sách, kiểm tra các nguồn phát thải và đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường, phát triển bền vững.

Trong Quy hoạch tỉnh Cao Bằng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quy hoạch tỉnh Phú Thọ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Quy hoạch tỉnh Thái Nguyên thời kỳ 2021-2030,... nhấn mạnh chiến lược phát triển kinh tế xanh, bền vững, gắn với bảo vệ môi trường. Các biện pháp cụ thể bao gồm di chuyển, đóng cửa các nhà máy, xí nghiệp gây ô nhiễm cao, đồng thời tập trung thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp công nghệ cao, thân thiện môi trường. Tỉnh Thái Nguyên thực hiện di chuyển Xí nghiệp đúc Thái Nguyên ra khỏi khu dân cư, đóng cửa Nhà máy xi măng Lưu Xá, Nhà máy sản xuất tấm lợp Thái Nguyên, Công ty cổ phần luyện cán thép Gia Sàng(7). Ngoài ra, tỉnh còn thực hiện điều chỉnh quy hoạch tổng thể đến năm 2035, theo đó, tập trung phát triển các khu, cụm công nghiệp, nhất là khu công nghiệp tại hai xã Sơn Cẩm và Cao Ngạn(8). Thực hiện Quy hoạch, tỉnh Thái Nguyên từng bước di chuyển các cơ sở sản xuất công nghiệp ra khỏi đô thị, giảm bớt nguồn nước thải, chất thải của các cơ sở sản xuất này ra môi trường đô thị.

Bên cạnh đó, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, như công nghệ tưới tiết kiệm, giống mới và quy trình VietGAP/hữu cơ, tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc đã góp phần tăng năng suất lao động và giảm thiểu tác động môi trường, đồng thời cung cấp nguồn thực phẩm sạch cho người tiêu dùng. Điển hình như hệ sinh thái Làng nông nghiệp Techfest quốc gia đã kết nối 300 hợp tác xã sản xuất nông sản áp dụng theo mô hình sản xuất sạch liên hoàn, khép kín theo tiêu chuẩn thấp nhất là VietGAP ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Cao Bằng,…(9). Điều này không chỉ đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng về thực phẩm sạch mà còn giúp giảm thiểu các tác động tiêu cực của sản xuất nông nghiệp truyền thống đến môi trường.

Chính quyền các tỉnh trong vùng đã chú trọng thực hiện các chính sách đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và tìm kiếm chuyển giao kỹ thuật tiên tiến để nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường, chuyển từ chính sách bị động ứng phó sang chủ động phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm và phát triển bền vững. Từ năm 2015 đến nay, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lạng Sơn đã thực hiện nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao 39 đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ nhằm ngăn ngừa, xử lý ô nhiễm, bảo vệ môi trường(10). Sở Nông nghiệp và Môi trường Thái Nguyên đã chuyển giao công nghệ sản xuất giống chè mới bằng phương pháp giâm cành cho nông dân. Việc áp dụng mô hình chuyển giao công nghệ này và đưa giống mới vào sản xuất mang lại năng suất từ 105-110 tạ/ha (cao hơn giống chè truyền thống từ 35-40tạ/ha)(11). So với phương pháp trồng cây chè truyền thống từ hạt, phương pháp giâm cành ít đòi hỏi việc thay đổi môi trường đất và tiết kiệm nước tưới.

Thứ hai, trong việc ứng phó với các sự cố và khắc phục ô nhiễm môi trường, các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc đã ngày càng chú trọng triển khai các biện pháp bảo vệ môi trường. Thực tiễn cho thấy, tình trạng suy thoái rừng đầu nguồn, suy giảm độ che phủ và gia tăng khai thác khoáng sản đã làm suy yếu khả năng điều hòa dòng chảy, gia tăng nguy cơ lũ quét, sạt lở và bồi lắng, gây tổn thất nghiêm trọng cho sản xuất nông - lâm nghiệp và sinh kế bền vững của người dân.

Trong những năm gần đây, các thiên tai nghiêm trọng như bão Yagi (năm 2024) và mưa lũ sau bão Matmo (năm 2025) đã gây thiệt hại lớn về người và tài sản, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tăng cường năng lực ứng phó và phục hồi môi trường. Trước thực tiễn đó, các địa phương đã tập trung triển khai các giải pháp nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của môi trường đối với phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời tăng cường bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh nguồn nước, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, nhất là rừng đầu nguồn, rừng tự nhiên. Mục tiêu đến năm 2030 trở thành vùng “phát triển xanh, bền vững và toàn diện” với bảo vệ, khôi phục rừng và khai thác tài nguyên hiệu quả gắn liền phát triển kinh tế(12).

Các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc đã tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm ô nhiễm môi trường, đặc biệt là các cơ sở sản xuất có nguồn thải lớn, làng nghề và các hoạt động xây dựng... Thông qua các hoạt động thanh tra, kiểm tra liên ngành định kỳ và đột xuất, đã xử phạt hành chính 350 triệu đồng đối với Công ty cổ phần DAP số 2 do để hóa chất phát tán ra môi trường và buộc Công ty phải chi trả 7,9 tỷ đồng đền bù thiệt hại cho người dân(13); xử phạt hành chính 854 triệu đồng đối với Công ty Cổ phần Sara Phú Thọ(14)...

Nhiều doanh nghiệp trên địa bàn đã đẩy mạnh việc ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất để khắc phục, xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường. Trong giai đoạn 2022 - 2024, các tỉnh vùng trung du và miền núi phía Bắc đã triển khai thực hiện 86 nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp quốc gia, 494 nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp tỉnh(15). Trong các nhiệm vụ khoa học công nghệ, các tỉnh chú trọng việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, khắc phục các sự cố môi trường.

Thứ ba, trong hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc chú trọng việc quản lý, khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên hợp lý. Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn ban hành phương án quản lý, bảo vệ khoáng sản chưa khai thác trên địa bàn tỉnh(16). Một số tỉnh đã thực hiện ký kết quy chế phối hợp quản lý và bảo vệ tài nguyên khoáng sản ở những khu vực tiếp giáp nhau, như Phú Thọ với các tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên; Lào Cai với các tỉnh Tuyên Quang, Phú Thọ, Sơn La và Lai Châu,...

Nhiều doanh nghiệp đã chú trọng đầu tư công nghệ khai thác, chế biến khoáng sản, đồng thời áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến trong khai thác, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên. Tại Lào Cai, một số doanh nghiệp đã áp dụng công nghệ khai thác và tuyển hợp lý quặng sa khoáng titan - zircon trong tầng cát đỏ; công nghệ tuyển và chế biến sâu quặng graphite bằng phương pháp điện phân tinh luyện có màng ngăn ở mỏ Sin Quyển, mỏ Quý Xa(17). Các công nghệ này giúp doanh nghiệp tận thu các nguyên tố có ích trong quá trình tuyển khoáng sản, gia tăng giá trị khoáng sản sau khai thác, đồng thời thực hiện cải tạo, phục hồi môi trường sau khai thác khoáng sản.

Một số tỉnh phát triển các dự án năng lượng tái tạo, năng lượng sạch như dự án xây dựng nhà máy điện sinh học tại Phú Thọ với công suất lắp máy 40MW, công suất phát điện 331,5 triệu kWh/năm; dự án năng lượng gió tại Điện Biên với tổng công suất 1.480MW, tỉnh Lai Châu nghiên cứu đầu tư xây dựng dự án điện gió tại các Nậm Nhùn, Than Uyên, Tân Uyên và Sìn Hồ(18). Các dự án này đi vào hoạt động sẽ giúp các tỉnh có thêm nguồn thu ngân sách, đồng thời góp phần tích cực vào giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ môi trường.

Một số hạn chế, bất cập

Thứ nhất, việc lồng ghép bảo vệ môi trường vào phát triển kinh tế tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc còn hạn chế, do áp lực tăng trưởng, thiếu nguồn lực. Các quy hoạch phát triển kinh tế thường tập trung vào các mục tiêu ngắn hạn, chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề môi trường. Chẳng hạn, Thái Nguyên là một trong những tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế khá nhanh, song quy hoạch bảo vệ môi trường của tỉnh chưa theo kịp sự phát triển nền kinh tế, các dự án xử lý nước thải, chất thải chưa đồng bộ, dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nhất là ô nhiễm ở các khu, cụm công nghiệp tập trung. Cả tỉnh hiện có 41 cụm công nghiệp được quy hoạch với tổng diện tích 2.067 ha, nhưng chỉ có 21 cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung, bao gồm: Phú Lạc 2 (Đại Từ), Cây Bòng (Võ Nhai) và Kha Sơn (Phú Bình)(19). Như vậy, mới chỉ có 33% số cụm công nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh đáp ứng được quy định về có hệ thống xử lý nước thải tập trung.

Bên cạnh đó, việc di dời các cơ sở công nghiệp ra khỏi khu dân cư gặp khó khăn do chi phí đầu tư, xây dựng lại nhà máy lớn, cùng sự thiếu hụt hạ tầng đồng bộ tại các khu công nghiệp mới. Các doanh nghiệp thường e ngại về vốn đã đầu tư ở vị trí cũ, lo ngại gián đoạn sản xuất và đứt gãy nguồn cung cấp nguyên vật liệu, khách hàng truyền thống. Nhiều cơ sở công nghiệp đã được di chuyển đến các khu công nghiệp nhưng không loại bỏ hoàn toàn rủi ro môi trường do hạ tầng xử lý chất thải yếu kém, công nghệ sản xuất lạc hậu và giám sát lỏng lẻo.

Thứ hai, chính quyền các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc đã có sự quan tâm nhất định tới việc khuyến khích các doanh nghiệp ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất để phòng ngừa, hạn chế tác động tiêu cực tới môi trường, nhưng chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Các ngành sản xuất như khai thác khoáng sản, nông lâm nghiệp và sản xuất công nghiệp vẫn sử dụng các công nghệ tiêu tốn nhiều năng lượng và tình trạng gây ô nhiễm vẫn diễn ra, đặc biệt là tại các khu công nghiệp, vùng sản xuất lớn.

Ở một số địa phương, chính quyền còn buông lỏng quản lý, chưa quyết liệt trong công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm về ô nhiễm môi trường. Trong thời gian qua, một số sự cố môi trường do các doanh nghiệp gây ra để lại nhiều hệ lụy lớn. Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm của những doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường chưa thường xuyên, sự phối hợp giữa các ngành, các cấp còn lỏng lẻo, chồng chéo. Việc xử lý vi phạm chủ yếu do Công an tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường) thực hiện, ủy ban nhân dân cấp xã lại thiếu thông tin về các hoạt động xử lý.

Bảo vệ môi trường ở trung du và miền núi phía Bắc không chỉ là một yêu cầu tất yếu trong tiến trình phát triển của các tỉnh trong vùng mà còn là một định hướng chiến lược lâu dài nhằm bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bền vững sinh thái ở cả vùng Bắc Bộ

Thứ ba, việc quản lý, khai thác tài nguyên ở nhiều tỉnh trung du và miền núi phía Bắc còn bộc lộ nhiều bất cập. Tình trạng tổn thất tài nguyên trong khai thác, nhất là tại các mỏ hầm lò và mỏ do địa phương quản lý, vẫn ở mức cao do hoạt động khai thác tự phát, công nghệ lạc hậu và công tác quản lý chưa nghiêm. Bên cạnh đó, việc buộc doanh nghiệp cải tạo, phục hồi môi trường sau khai thác khoáng sản gặp khó khăn do doanh nghiệp thiếu trách nhiệm, phá sản khi đóng cửa mỏ, hoặc nguồn ký quỹ quá thấp, không đủ chi phí thực hiện. Ngoài ra, việc xác định phương án phục hồi phù hợp với địa hình và quy hoạch địa phương cũng là rào cản lớn. Chẳng hạn các dự án thủy điện nhỏ và vừa trên sông Gâm (Cao Bằng), sông Lô, sông Miện (Tuyên Quang),... đã gây mất rừng tự nhiên và làm suy giảm chức năng phòng hộ, tăng nguy cơ ngập lụt vùng hạ du. Việc trồng lại rừng thường không kịp thời, không đủ diện tích, dẫn đến hệ sinh thái không được phục hồi.

2.3. Giải pháp bảo vệ môi trường trong phát triển kinh tế ở các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc

Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của các chủ thể trong vấn đề bảo vệ môi trường

Đối với các chủ thể lãnh đạo, quản lý về bảo vệ môi trường

Cần nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường gắn với phát triển kinh tế thông qua các biện pháp phù hợp với đặc thù vùng trung du và miền núi phía Bắc, như: (1) Tổ chức các khóa bồi dưỡng, tập huấn chuyên sâu về quản lý tài nguyên, khai thác bền vững và phát triển các mô hình du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, nông nghiệp cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Các chương trình đào tạo cần chú trọng vấn đề liên kết vùng, quản lý nhà nước và áp dụng công nghệ thông minh. Việc tổ chức các chương trình đào tạo chuyên sâu về quản lý rừng, đất, nước và khai thác khoáng sản bền vững là giải pháp thiết thực cho vùng trung du và miền núi phía Bắc. Chương trình giúp nâng cao năng lực quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững và nâng cao thu nhập cho người dân địa phương. Đồng thời, tổ chức các chương trình phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo vệ môi trường ở những tỉnh có thế mạnh, như Tuyên Quang, Lào Cai, Thái Nguyên,...; (2) Tăng cường phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ môi trường nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng. Cần lồng ghép các quy định về xử lý chất thải, thuế môi trường, trách nhiệm công dân vào các cuộc họp chi bộ, tổ dân phố, đoàn thể để tạo chuyển biến tích cực; (3) Xây dựng cơ chế để các tổ chức chính trị - xã hội tham gia giám sát xã hội và đưa nội dung bảo vệ môi trường vào đời sống cộng đồng.

Đối với doanh nghiệp

Tổ chức các chương trình phổ biến kiến thức về Luật Bảo vệ môi trường cho các doanh nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, nhất là đối với các tỉnh như Thái Nguyên, Lào Cai - nơi diễn ra các hoạt động khai thác khoáng sản quy mô lớn, giúp họ hiểu rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của mình.

Tổ chức các chương trình truyền thông doanh nghiệp kết nối với cộng đồng địa phương (như tại Lào Cai, Tuyên Quang) là giải pháp chiến lược nhằm nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, gắn liền phát triển du lịch sinh thái với bảo tồn văn hóa. Các hoạt động thiết thực bao gồm: hội thảo, tọa đàm về du lịch xanh, chiến dịch ra quân dọn rác, trồng cây, và vinh danh các doanh nghiệp có mô hình kinh tế tuần hoàn. Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp khai thác khoáng sản (Lào Cai, Cao Bằng, Thái Nguyên,...), doanh nghiệp công nghiệp (Thái Nguyên, Phú Thọ,...).

Đối với cộng đồng dân cư

Tổ chức chương trình giáo dục cộng đồng về bảo vệ môi trường, như tổ chức các buổi tuyên truyền tại nhà văn hóa các thôn, bản, giúp người dân nắm bắt được thông tin về các quy định pháp luật liên quan đến môi trường,...

Lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc, tập trung vào việc tích hợp kiến thức thực tiễn về hệ sinh thái rừng, bảo vệ nguồn nước và chống xói mòn vào các môn khoa học tự nhiên, địa lý, sinh học. Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm, quan sát thực tế và liên hệ nội dung bài học với các vấn đề môi trường địa phương, như cháy rừng, lũ quét hay ô nhiễm nông nghiệp. Thông qua việc giảng dạy về tác động của xói mòn, phá rừng và khai thác khoáng sản, giúp học sinh hiểu rõ các hoạt động kinh tế trên địa hình dốc gây suy thoái đất, mất rừng, mất đa dạng sinh học và ô nhiễm nguồn nước. Học sinh nhận thức được mối quan hệ sống còn giữa rừng và đất, từ đó đề xuất các giải pháp bền vững, như canh tác bậc thang, trồng rừng và cải tạo môi trường mỏ. Hoặc bài học về lồng ghép các tri thức, tập quán canh tác truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc (chẳng hạn, các phong tục thờ cúng rừng thiêng, giữ gìn nguồn nước,...) với môi trường trong quá trình lao động sản xuất nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường gắn với phát triển kinh tế bền vững ở các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc

Vùng trung du và miền núi phía Bắc có vị trí chiến lược đặc biệt trong không gian phát triển của vùng Bắc Bộ. Mọi biến động môi trường ở vùng này đều có tác động lan tỏa mạnh mẽ đến phát triển kinh tế - xã hội, an ninh sinh thái và an ninh nguồn nước của toàn vùng Bắc Bộ. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về các chính sách môi trường của Đảng, Nhà nước đối với vùng trung du và miền núi phía Bắc:

Thứ nhất, trong chiến lược quy hoạch phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, vùng trung du và miền núi phía Bắc phải xác định bảo vệ môi trường là nhiệm vụ trọng yếu, gắn liền với phát triển bền vững, an ninh, quốc phòng và sinh thái toàn vùng. Từ đó, có cơ chế đặc thù, chính sách đầu tư, phân bổ ngân sách và điều tiết nguồn lực ưu tiên cho bảo vệ rừng đầu nguồn, an ninh sinh thái và thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng này.

Thứ hai, xây dựng và hoàn thiện chính sách thuế môi trường và cơ chế điều tiết tài chính theo vùng sinh thái. Cụ thể, các ngành, lĩnh vực hưởng lợi lớn từ tài nguyên và dịch vụ hệ sinh thái của vùng trung du và miền núi phía Bắc (như thủy điện, khai thác khoáng sản, sản xuất công nghiệp sử dụng nhiều nước, các đô thị lớn ở hạ lưu) cần đóng góp thông qua thuế môi trường, phí dịch vụ hệ sinh thái hoặc quỹ bảo vệ môi trường liên vùng. Nguồn thu này cần tái đầu tư trực tiếp trở lại cho vùng, phục vụ các mục tiêu như: phục hồi rừng tự nhiên, trồng rừng phòng hộ, di dời dân cư khỏi vùng có nguy cơ sạt lở cao, xây dựng hạ tầng phòng chống thiên tai và phát triển sinh kế xanh cho đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ ba, hoàn thiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo hướng mở rộng đối tượng chi trả và nâng mức chi trả tương xứng với giá trị thực của hệ sinh thái. Không chỉ các nhà máy thủy điện, mà cả các khu công nghiệp, đô thị lớn, doanh nghiệp khai thác nước sạch ở hạ lưu cũng cần tham gia cơ chế này. Đây là công cụ quan trọng để gắn lợi ích kinh tế với trách nhiệm bảo vệ môi trường, đồng thời tạo nguồn thu ổn định cho người dân địa phương tham gia bảo vệ rừng.

Ba là, tăng cường nguồn lực cho phát triển khoa học công nghệ bảo vệ môi trường

Việc ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc cần hướng tới việc áp dụng công nghệ xử lý chất thải và các biện pháp phòng chống ô nhiễm môi trường nhằm tối ưu hóa sử dụng tài nguyên, giảm lượng chất thải, thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh và phù hợp với điều kiện của từng địa phương. Với những tỉnh có lợi thế về cây chè như Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lào Cai hay Cao Bằng, việc chuyển giao khoa học công nghệ nên tập trung theo hướng thúc đẩy sản xuất nông nghiệp bền vững, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Chẳng hạn, tỉnh Thái Nguyên có thể ưu tiên tiếp nhận và nhân rộng các công nghệ nhân giống chè, kỹ thuật canh tác hữu cơ, công nghệ tưới tiết kiệm nước; tỉnh Cao Bằng đang đẩy mạnh phát triển mô hình chế biến chè đắng - hình thức chuyển giao công nghệ thích hợp có thể bao gồm công nghệ sơ chế - chế biến tuần hoàn, tái sử dụng phụ phẩm chè làm phân bón hữu cơ, hoặc công nghệ sản xuất không phát thải nhằm giảm áp lực lên môi trường sinh thái.

Đầu tư phát triển một số viện/trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, nhất là trong nông nghiệp gắn với đại học vùng (Đại học Thái Nguyên) theo mô hình tiên tiến của thế giới. Từng bước hình thành và phát triển các trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ tại các khu kinh tế trọng điểm của vùng.

3. Kết luận

Bảo vệ môi trường ở trung du và miền núi phía Bắc không chỉ là một yêu cầu tất yếu trong tiến trình phát triển của các tỉnh trong vùng mà còn là một định hướng chiến lược lâu dài nhằm bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bền vững sinh thái ở cả vùng Bắc Bộ. Thực tiễn phát triển kinh tế tại vùng trung du và miền núi phía Bắc thời gian qua, dù đạt nhiều thành tựu, song cũng gây ra tác động tiêu cực đáng kể đến môi trường, bao gồm: mất rừng, suy giảm đa dạng sinh học, sạt lở đất, lũ quét gia tăng do hoạt động khai khoáng và thủy điện, ô nhiễm môi trường từ chất thải chăn nuôi và công nghiệp.

Do vậy, để phát triển kinh tế bền vững mà không gây tổn hại đến môi trường, các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc cần thực hiện đồng bộ các giải pháp: đẩy mạnh công tác tuyên truyển, nâng cao nhận thức các chủ thể; hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường; ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp, phát triển du lịch bền vững; đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao vai trò quản lý môi trường và bảo vệ rừng; đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông kết nối...

_________________

Ngày nhận bài: 13-12-2025; Ngày bình duyệt: 30-01-2026; Ngày duyệt đăng: 6-02-2026.

Email tác giả: ttkthoa@ictu.edu.vn

(1), (2), (4) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (phần I, II), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019, tr. 55, 773, 488.

(3) Bộ Chính trị: Chỉ thị số 36/1998/CT-TW ngày 25-6-1998 về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

(5) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.236.

(6) Ban Chấp hành Trung ương: Dự thảo báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, https://dangcongsan.org.vn, tr.19.

(7) Xem: Thái Nguyên đẩy nhanh tiến độ di dời các cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm, https://baotintuc.vn, ngày 4-2-2018.

(8) Thủ tướng Chính phủ (2016): Quyết định về việc phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đến năm 2035

(9) Xem: Hệ sinh thái hỗ trợ phụ nữ, thanh niên dân tộc thiểu số khởi nghiệp, https://vneconomy.vn, ngày 23-11-2022.

(10) Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn (2020): Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2015-2020, tr.381.

(11) Xem: Nâng cao lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm chè, https://baothainguyen.vn, ngày 23-1-2017.

(12) Thủ tướng Chính phủ (2024): Quyết định phê duyệt Quy hoạch vùng trung du và miền núi phía Bắc thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

(13) Xem: Xử phạt 350 triệu đồng Công ty Cổ phần DAP số 2 do vi phạm về lĩnh vực môi trường, https://baolaocai.vn, ngày 23-6-2022.

(14) Xem: Phú Thọ: Công ty xảa khí độc ra môi trường bị xử phạt 854 triệu đồng, https://daidoanket.vn, ngày 19-8-2024.

(15) Xem: Đề xuất đặt hàng các nhiệm vụ khoa học công nghệ có tính liên vùng, https://baochinhphu.vn, ngày 10-10-2024.

(16) Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn (2018): Quyết định về việc phê duyệt phương án bảo vệ khoáng sản chưa khai thác trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.

(17) Xem: Đổi mới ngành khai thác - chế biến khoáng sản: Áp dụng khoa học và công nghệ là yêu cầu cấp thiết, https://nq57.igip.gov.vn, ngày 11-1-2024.

(18) Xem: Đánh thức tiềm năng điện gió Tây Bắc. Tạp chí Doanh nghiệp kinh tế xanh điện tử, https://doanhnghiepkinhtexanh.vn, ngày 13-6-2022.

(19) Xem: Thái Nguyên: Hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các cụm công nghiệp còn thiếu và yếu, https://moitruong.net.vn, ngày 27-4-2023.