Nghiên cứu lý luận

Tác phẩm Đời sống mới - những chỉ dẫn cho phong trào xây dựng gia đình văn hóa hiện nay

11/02/2026 19:53

DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.8403
Tóm tắt: Trong tác phẩm Đời sống mới, Hồ Chí Minh khẳng định xây dựng gia đình văn hóa là nền tảng quan trọng để hình thành đời sống mới của toàn xã hội. Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng việc cải tạo đời sống cũ và xây dựng đời sống mới phải bắt đầu từ gia đình, từ những việc nhỏ nhất. Gia đình văn hóa phải được xây dựng trên sự hòa thuận, ngăn nắp, tiết kiệm và có tinh thần trách nhiệm giữa các thành viên. Tư tưởng của Người là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng chuẩn mực văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay.

TS NGÔ XUÂN DƯƠNG
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Gia đình là tế bào nền tảng của xã hội, là cái nôi hình thành, nuôi dưỡng nhân cách con người_Ảnh: TCCS

1. Mở đầu

Gia đình là tế bào nền tảng của xã hội, là cái nôi hình thành, nuôi dưỡng nhân cách con người. Trong bối cảnh hiện nay, văn hóa gia đình Việt Nam đang chịu nhiều tác động tiêu cực từ kinh tế thị trường, quá trình đô thị hóa, toàn cầu hóa và sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số. Những thay đổi này không chỉ ảnh hưởng đến cấu trúc gia đình, mà còn làm phai nhạt các giá trị truyền thống như lòng hiếu thảo, tình yêu thương, sự thủy chung và trách nhiệm giữa các thế hệ. Trong di sản tư tưởng của Hồ Chí Minh, vấn đề gia đình văn hóa luôn được Người quan tâm sâu sắc, coi đó là nền tảng để xây dựng xã hội mới - dân chủ, công bằng và văn minh. Trong nhiều bài nói, bài viết, thể hiện rõ tư tưởng xuyên suốt này của Người.

2. Nội dung

2.1. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về gia đình kiểu mới

Trong tác phẩm Đời sống mới viết năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm giản dị mà sâu sắc về xây dựng gia đình văn hóa: Về tinh thần, thì phải trên thuận, dưới hòa, không thiên tư, thiên ái. Bỏ thói mẹ chồng hành hạ nàng dâu, dì ghẻ ghét bỏ con chồng. Về vật chất, từ ăn mặc đến việc làm, phải ăn đều, tiêu sòng. Có kế hoạch, có ngăn nắp. Cưới hỏi, giỗ Tết nên giản đơn, tiết kiệm. Trong nhà ngoài vườn, luôn luôn sạch sẽ gọn gàng. Đối với xóm giềng, phải thân mật và sẵn lòng giúp đỡ. Đối với việc làng việc nước, phải hăng hái làm gương. Người trong nhà ai cũng biết chữ. Luôn luôn cố gắng, làm cho nhà mình thành một nhà kiểu mẫu trong làng”(1). Như vậy, theo Người, một gia đình văn hóa phải hội tụ được những yêu cầu sau:

Một là, các thành viên trong gia đình phải hòa thuận, bình đẳng, yêu thương và tôn trọng nhau

Hồ Chí Minh khẳng định gia đình là một thiết chế xã hội đặc biệt, là cái nôi hình thành nhân cách con người và là nền tảng tạo nên sức mạnh tinh thần của dân tộc. Theo Người, xây dựng gia đình văn hóa không phải là khẩu hiệu chung chung mà là nhiệm vụ thiết thực, gắn liền với đời sống của mỗi người dân. Từ đó, Người nhấn mạnh đời sống tinh thần trong gia đình phải được tổ chức trên cơ sở “trên thuận, dưới hòa”, coi sự hòa khí là thước đo quan trọng của đạo đức gia đình. Người trên, từ ông bà, cha mẹ, anh chị, phải là người nêu gương trong lời nói, tác phong, trong sự bao dung và trách nhiệm. Người dưới phải kính trọng, lễ phép, biết ơn và biết giữ gìn truyền thống gia phong. Sự hòa thuận ấy không chỉ xuất phát từ tình cảm tự nhiên mà còn từ ý thức rèn luyện và tinh thần trách nhiệm giữa các thế hệ.

Người cũng nhấn mạnh yếu tố bình đẳng và công bằng trong gia đình, thể hiện qua yêu cầu “không thiên tư, thiên ái”. Hồ Chí Minh cho rằng, mọi sự thiên vị trong đối xử đều là nguyên nhân dẫn tới bất hòa, đố kỵ và rạn nứt tình cảm. Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con. Công bằng trong gia đình không chỉ là nguyên tắc đạo đức mà còn là điều kiện để duy trì niềm tin, tình thương và sự đoàn kết giữa các thành viên. Mỗi người phải được tôn trọng như một cá nhân độc lập, được yêu thương trên nền tảng nhân phẩm và trách nhiệm chứ không phải trên sự ưu ái chủ quan.

Bên cạnh việc đề cao hòa khí và công bằng, Hồ Chí Minh kiên quyết phê phán những thói quen lạc hậu làm suy đồi đạo đức gia đình, đặc biệt là hiện tượng “mẹ chồng hành hạ nàng dâu, dì ghẻ ghét bỏ con chồng”. Theo Người, những hành vi ấy phản ánh tàn dư của tư tưởng phong kiến trọng nam khinh nữ, coi thường giá trị con người và đi ngược lại truyền thống nhân ái của dân tộc Việt Nam. Những biểu hiện ngược đãi, áp bức trong gia đình không chỉ gây tổn thương tâm lý mà còn làm méo mó môi trường trong phát triển nhân cách. Người phê phán, đó là tàn tích gây tan vỡ hạnh phúc, làm xói mòn nền nếp gia đình và cần phải được xóa bỏ triệt để bằng giáo dục, vận động và sự chuyển biến trong nhận thức của mỗi người.

Theo Hồ Chí Minh, sự tiến bộ của gia đình bắt nguồn từ lối sống mới - lối sống có kế hoạch, ngăn nắp, có sự chia sẻ trách nhiệm giữa các thành viên. Người từng nhắc nhở rằng, mọi việc từ ăn, mặc đến lao động trong gia đình đều phải “ăn đều, tiêu sòng”, thể hiện sự minh bạch, công khai và công bằng trong phân chia nghĩa vụ và hưởng thụ. Lối sống ấy không chỉ tạo ra trật tự gia đình mà còn nuôi dưỡng một môi trường đạo đức lành mạnh, giúp mỗi cá nhân rèn luyện tinh thần tự giác, tiết kiệm và trách nhiệm.

Gia đình theo tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là không gian khép kín mà là nền tảng sản sinh những phẩm chất tốt đẹp cho xã hội. Một gia đình hòa thuận, công bằng sẽ tạo ra những con người biết tôn trọng kỷ luật, có ý thức cộng đồng và sẵn sàng đóng góp cho đất nước. Ngược lại, nếu gia đình bất hòa, chứa đựng thiên tư, thiên ái hay áp bức thì sẽ sản sinh những cá nhân dễ mang theo tâm lý tiêu cực vào đời sống xã hội. Bởi vậy, Người khẳng định rằng xây dựng văn hóa gia đình chính là góp phần xây dựng văn hóa dân tộc và văn hóa xã hội chủ nghĩa.

Hai là, có lối sống lành mạnh, giản dị, tiết kiệm; gọn gàng, sạch sẽ

Hồ Chí Minh coi việc xây dựng đời sống văn hóa mới bắt đầu từ chính nếp sống của mỗi gia đình, trong đó cưới hỏi và giỗ Tết phải được tổ chức giản đơn, tiết kiệm, tránh phô trương, lãng phí. Người cho rằng những hủ tục rườm rà trong cưới hỏi không chỉ gây tốn kém mà còn làm méo mó ý nghĩa nhân văn của hôn nhân. Vì vậy, Người nhấn mạnh cần bỏ thói sính lễ cầu kỳ, tập trung vào giá trị chân chính là tình nghĩa và trách nhiệm của đôi vợ chồng trẻ. Giỗ Tết cũng phải được thực hiện một cách trang trọng nhưng không hình thức, hướng đến sự tưởng nhớ tổ tiên hơn là chạy theo hình thức, ăn uống linh đình.

Theo Hồ Chí Minh, tiết kiệm trong sinh hoạt gia đình không phải là keo kiệt mà là biểu hiện của lối sống văn minh và có văn hóa. Cùng với đó, Hồ Chí Minh đặc biệt đề cao việc giữ gìn vệ sinh, yêu cầu “trong nhà ngoài vườn luôn luôn sạch sẽ, gọn gàng” để tạo môi trường sống lành mạnh. Người cho rằng, vệ sinh tốt vừa bảo vệ sức khỏe, vừa thể hiện nếp sống trật tự và kỷ cương. Không gian sạch sẽ còn góp phần xây dựng tinh thần làm việc khoa học, ngăn nắp và có trách nhiệm. Mỗi gia đình, phải là một đơn vị văn hóa mẫu mực, trong đó sự ngăn nắp thể hiện trình độ tổ chức của con người. Lối sống sạch sẽ và tiết kiệm cũng là nền tảng để hình thành con người mới xã hội chủ nghĩa. Người nhấn mạnh rằng, nhà cửa gọn gàng tạo ra bầu không khí vui tươi, giúp con người thêm yêu lao động và cuộc sống. Những lời dạy này không chỉ mang giá trị đạo đức mà còn phản ánh yêu cầu hiện đại hóa đời sống gia đình. Vì vậy, quan điểm của Hồ Chí Minh về cưới hỏi, giỗ Tết và vệ sinh gia đình tiếp tục là chuẩn mực quan trọng trong xây dựng đời sống văn hóa Việt Nam hôm nay.

Thứ ba, là gia đình hiếu học

Hồ Chí Minh luôn khẳng định xây dựng gia đình hiếu học là nền tảng bền vững để phát triển con người và phát triển quốc gia. Người xem việc học không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của mỗi công dân trong xã hội mới. “Biết ham học… Biết chữ, biết tính, thì làm việc gì cũng dễ dàng hơn… Người có học mới có tiến bộ, Càng học càng tiến bộ”(2), theo Người, một gia đình văn hóa trước hết phải là gia đình có ý thức học tập, trong đó mọi thành viên đều được tạo điều kiện để biết chữ và nâng cao tri thức. Người nhấn mạnh “ai cũng biết chữ” là mục tiêu cơ bản để xóa bỏ dốt nát, mở đường cho sự tiến bộ của dân tộc. Theo Người, biết chữ không chỉ giúp con người đọc sách, tiếp thu kiến thức mà còn giúp họ tự giác, tự tin và chủ động trong lao động. Trong gia đình hiếu học, cha mẹ phải nêu gương, coi trọng việc học và khuyến khích con cái siêng năng rèn luyện. Trẻ em lớn lên trong môi trường đề cao tri thức sẽ có động lực phát triển toàn diện và hình thành nhân cách tốt đẹp.

Hồ Chí Minh cho rằng sự học không bao giờ là đủ, vì tri thức luôn đổi mới và đòi hỏi mỗi người phải rèn luyện suốt đời. Gia đình hiếu học vì thế không dừng ở việc chống mù chữ mà còn phải nuôi dưỡng tinh thần học tập liên tục. Người khẳng định rằng, dân tộc mạnh là dân tộc có những gia đình biết quý trọng tri thức. Khi mỗi gia đình trở thành một “tế bào học tập”, xã hội sẽ hình thành nền văn hóa học tập vững chắc. Theo Người, học tập cũng là phương thức nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Ý thức hiếu học vì vậy gắn trực tiếp với lý tưởng xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa.

Những lời dạy của Hồ Chí Minh về gia đình hiếu học có ý nghĩa lâu dài trong bối cảnh hội nhập và đổi mới hiện nay. Do đó, phát huy truyền thống hiếu học của gia đình theo tư tưởng Hồ Chí Minh là yêu cầu quan trọng đối với sự phát triển bền vững của mỗi cộng đồng và của toàn xã hội.

Thứ tư, có tình làng, nghĩa xóm, có trách nhiệm cộng đồng và luôn cố gắng trở thành gia đình kiểu mẫu

Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Trong một làng, nhà thì có nhà giàu, nhà vừa, nhà nghèo. Người thì có người tốt, người vừa, người kém. Học thì có kẻ thông, kẻ vừa, kẻ dốt. Hai hạng trên phải tìm các giúp đỡ, cảm hóa hạng thứ ba”(3). Có thể thấy, Người luôn coi quan hệ láng giềng là một trong những nền tảng quan trọng của đời sống cộng đồng Việt Nam. Người nhấn mạnh rằng, mỗi gia đình phải sống hòa thuận, thân mật với xóm giềng để xây dựng môi trường xã hội đoàn kết và nhân ái. Sự thân mật ấy phải thể hiện bằng thái độ chân thành, tôn trọng và biết giữ gìn tình nghĩa lâu dài. Không chỉ dừng ở quan hệ tình cảm, mà mỗi người phải sẵn lòng giúp đỡ khi xóm giềng gặp khó khăn, xem đó là trách nhiệm đạo đức của công dân. Tinh thần tương trợ này góp phần củng cố tình làng nghĩa xóm - một giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc Việt Nam.

Từ những chỉ dẫn giản dị mà sâu sắc trong Đời sống mới, Hồ Chí Minh đã xác lập nền tảng tư tưởng quan trọng cho việc xây dựng gia đình văn hóa - nơi nuôi dưỡng phẩm chất, nhân cách và truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, người dân không được thờ ơ với việc làng, việc nước. Theo Người, mỗi người phải hăng hái tham gia công việc chung, chủ động đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng và đất nước. Người đặc biệt đề cao vai trò nêu gương, coi đó là phương thức giáo dục hiệu quả nhất trong xã hội. Một cá nhân biết làm gương sẽ lan tỏa năng lượng tích cực, khuyến khích người khác tham gia vào các hoạt động chung. Tinh thần gương mẫu còn thể hiện ý thức trách nhiệm, tính kỷ luật và lòng yêu nước. Hồ Chí Minh cho rằng sự kết hợp giữa đoàn kết xóm giềng và tinh thần làm gương trong việc làng việc nước sẽ tạo nền tảng vững chắc cho xã hội mới. Khi mỗi người đều sống nghĩa tình và trách nhiệm, gia đình sẽ trở thành điểm sáng của nếp sống văn minh - “gia đình kiểu mẫu”, cộng đồng sẽ phát triển bền vững và ổn định.

2.2. Thực tế công tác xây dựng gia đình văn hóa hiện nay

Những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về xây dựng gia đình văn hóa trong tác phẩm Đời sống mới không chỉ có giá trị lịch sử, mà còn mang ý nghĩa thực tiễn trong định hướng xây dựng gia đình văn hóa hiện nay. Đại hội XIII của Đảng xác định “thực hiện các chuẩn mực văn hoá gia đình Việt Nam ấm no, hạnh phúc, tiến bộ và văn minh”(4) ; “xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới”(5). Cùng với đó, Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 24-6-2021 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng gia đình trong tình hình mới tiếp tục khẳng định: “Gia đình là tế bào của xã hội, nơi duy trì nòi giống, môi trường lưu giữ, giáo dục, trao truyền các giá trị văn hóa dân tộc cho các thành viên trong gia đình. Xây dựng gia đình hạnh phúc chính là tạo nền tảng để xây dựng xã hội hạnh phúc, là vấn đề hết sức hệ trọng của dân tộc ta. Công tác xây dựng gia đình vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển bền vững đất nước”(6).

Giai đoạn 2020 - 2025, phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa với trọng tâm là xây dựng gia đình văn hóa đã đạt nhiều kết quả, góp phần nâng cao chất lượng đời sống tinh thần và sức mạnh cộng đồng ở nhiều địa phương. Trước hết, mức độ phổ biến danh hiệu “Gia đình văn hóa” duy trì ở tỷ lệ cao năm 2024, trên 90% hộ gia đình đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa”; trên 90% thôn, tổ đạt danh hiệu “Thôn, tổ dân phố văn hóa”(7).

Phong trào xây dựng gia đình văn hóa đã tạo điều kiện để nhiều mô hình gia đình tiêu biểu xuất hiện trên các lĩnh vực như phát triển kinh tế, xây dựng đời sống hạnh phúc, duy trì truyền thống hiếu học, ông bà mẫu mực và con cháu hiếu thảo, qua đó lan tỏa mạnh mẽ tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái trong cộng đồng. Thành tựu nổi bật của phong trào thể hiện rõ ở việc góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo, thúc đẩy phát triển kinh tế theo hướng ổn định và bền vững. Cùng với đó, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được củng cố; môi trường sống ngày càng sạch đẹp, văn minh; chất lượng cuộc sống của người dân từng bước được nâng cao. Đồng thời, các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc được quan tâm gìn giữ và phát huy, tạo sự gắn kết bền chặt giữa mỗi cá nhân với cộng đồng, làm cho tình làng nghĩa xóm thêm gần gũi, đoàn kết và nhân ái hơn.

Mặc dù phong trào xây dựng gia đình văn hóa đã trở thành một trong những phong trào nòng cốt của đời sống văn hóa cơ sở, nhưng thực tiễn triển khai thời gian qua cho thấy vẫn còn nhiều hạn chế cần được phân tích một cách khách quan và toàn diện. Trước hết, ở nhiều địa phương, quy trình xét tặng và công nhận gia đình văn hóa còn biểu hiện tính hình thức, chạy theo thành tích, dẫn tới tình trạng “nới lỏng tiêu chí” hoặc “bình xét cho đủ chỉ tiêu”, khiến giá trị danh hiệu bị giảm sút và chưa phản ánh đúng chất lượng đời sống văn hóa của từng hộ. Thứ hai, bộ tiêu chí gia đình văn hóa hiện nay tuy được quy định thống nhất nhưng vẫn thiên về tính định lượng, thiếu những chỉ báo cụ thể để đánh giá chiều sâu văn hóa gia đình trong bối cảnh mới, nhất là những nội dung liên quan đến phòng chống bạo lực gia đình, bình đẳng giới, an toàn trẻ em, kỹ năng số và văn hóa ứng xử trên môi trường mạng. Bên cạnh đó, sự phối hợp của các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở trong thực hiện phong trào còn thiếu đồng bộ, nhiều nơi triển khai theo lối hành chính hóa, thiếu những mô hình sáng tạo, phù hợp với đặc thù văn hóa địa phương, dẫn đến hiệu quả chưa cao.

Một hạn chế khác là nhận thức của một bộ phận người dân về phong trào vẫn còn hạn chế, xem đây là một danh hiệu mang tính thủ tục, chưa coi đó là động lực để thay đổi hành vi, nâng cao chất lượng đời sống gia đình. Điều này làm cho phong trào chưa thật sự đi vào chiều sâu, chưa tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ trong xây dựng nếp sống văn minh. Cùng với đó, tác động của mặt trái kinh tế thị trường, quá trình đô thị hóa nhanh và di cư lao động đã làm suy giảm tính gắn kết, gây áp lực lên mối quan hệ gia đình - làng xóm, khiến nhiều giá trị truyền thống đứng trước nguy cơ mai một. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý phong trào còn hạn chế, dẫn đến thiếu dữ liệu cập nhật, thiếu hệ thống theo dõi, đánh giá thường xuyên để kịp thời điều chỉnh. Ngoài ra, công tác tuyên truyền về văn hóa gia đình ở một số nơi còn dàn trải, chưa đổi mới nội dung và phương thức để phù hợp với từng nhóm đối tượng, nhất là thanh niên, công nhân khu công nghiệp, lao động di cư.

Những hạn chế nêu trên cho thấy phong trào xây dựng gia đình văn hóa tuy đạt được nhiều kết quả quan trọng nhưng vẫn đang đứng trước yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ hơn cả về tư duy, nội dung và phương thức triển khai. Việc nhận diện rõ những hạn chế, bất cập sẽ là tiền đề quan trọng để nâng cao chất lượng phong trào, bảo đảm danh hiệu gia đình văn hóa thực sự trở thành chuẩn mực và động lực trong xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, góp phần củng cố nền tảng văn hóa - xã hội trong thời kỳ mới.

2.3. Một số đề xuất nhằm thúc đẩy xây dựng gia đình văn hóa trong giai đoạn hiện nay

Một là, tăng cường vai trò lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền cơ sở đối với công tác xây dựng gia đình văn hóa, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài. Cùng với đó, quy trình xét tặng và công nhận danh hiệu phải được thực hiện chặt chẽ, minh bạch, có kiểm tra và đánh giá định kỳ nhằm hạn chế bệnh thành tích. Việc rà soát, bổ sung, hoàn thiện bộ tiêu chí gia đình văn hóa theo hướng cụ thể, phù hợp với điều kiện xã hội hiện đại, nhất là các tiêu chí về an toàn số, phòng chống bạo lực gia đình và bảo vệ trẻ em, là yêu cầu cấp thiết.

Hai là, công tác phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể cần được đổi mới nhằm triển khai phong trào đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm. Đồng thời, cần đẩy mạnh tuyên truyền về văn hóa gia đình bằng các hình thức linh hoạt, hiện đại, phù hợp với từng nhóm đối tượng để nâng cao sự tự giác tham gia của người dân. Các địa phương phải chú trọng xây dựng và nhân rộng những mô hình gia đình văn hóa tiêu biểu để tạo sức lan tỏa trong cộng đồng. Song song với đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và theo dõi phong trào cần được triển khai rộng rãi nhằm bảo đảm dữ liệu đầy đủ, chính xác.

Ba là, công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ văn hóa cơ sở phải được quan tâm để nâng cao năng lực chuyên môn và tính chủ động. Đồng thời, cần tăng cường đầu tư nguồn lực cho hoạt động văn hóa cơ sở, nhất là ở vùng sâu, vùng xa và khu công nghiệp - nơi chịu nhiều tác động của đô thị hóa và di cư lao động.

Bốn là, gia đình, nhà trường và cộng đồng cần phối hợp chặt chẽ trong giáo dục đạo đức, lối sống, nhằm xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Chính quyền địa phương phải chủ động gắn phong trào gia đình văn hóa với các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm đánh giá đúng thực chất.

Năm là, các thiết chế văn hóa như nhà văn hóa, thư viện, các câu lạc bộ cần được khai thác hiệu quả để trở thành trung tâm sinh hoạt cộng đồng, góp phần xây dựng gia đình văn hóa thông qua việc tổ chức thường xuyên các hoạt động giáo dục đạo đức, lối sống, gìn giữ và phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam; tuyên truyền kiến thức về hôn nhân - gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống bạo lực gia đình; tạo môi trường lành mạnh để các gia đình giao lưu, học hỏi, gắn kết giữa các thế hệ, từ đó nâng cao chất lượng đời sống tinh thần, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh.

Sáu là, việc phát huy vai trò của người cao tuổi, người có uy tín trong cộng đồng đặc biệt là cộng đồng dân tộc thiểu số là giải pháp quan trọng nhằm củng cố nếp sống văn minh. Bên cạnh đó, cần tăng cường đối thoại với người dân để kịp thời nắm bắt khó khăn, vướng mắc và điều chỉnh phương thức tổ chức phong trào.

Thực hiện đồng bộ những giải pháp trên sẽ góp phần nâng cao chất lượng phong trào, đưa danh hiệu gia đình văn hóa trở thành động lực phát triển bền vững đời sống cộng đồng trong giai đoạn mới.

3. Kết luận

Từ những chỉ dẫn giản dị mà sâu sắc trong Đời sống mới, Hồ Chí Minh đã xác lập nền tảng tư tưởng quan trọng cho việc xây dựng gia đình văn hóa - nơi nuôi dưỡng phẩm chất, nhân cách và truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Những giá trị về nếp sống, về quan hệ ứng xử, về tinh thần tiết kiệm, đoàn kết và trách nhiệm với cộng đồng vẫn giữ nguyên ý nghĩa và sức sống trong bối cảnh hiện nay. Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa cần tiếp tục kế thừa, vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người để xây dựng gia đình thực sự ấm no, tiến bộ, hạnh phúc và văn minh. Điều đó đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, sự tự giác của mỗi gia đình và sự gắn kết bền chặt của cộng đồng. Khi tư tưởng Hồ Chí Minh được thấm sâu vào từng hành động và chuẩn mực đời sống, phong trào sẽ có thêm động lực mạnh mẽ để phát triển bền vững, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

_________________

Nhận bài: 09-12-2025; Ngày bình duyệt: 15-12-2025; Ngày duyệt đăng: 4-02-2026.

Email tác giả: ngoxuanduonghvct@gmail.com

(1), (2), (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2011, Hà Nội, tr.118, 117, 118-119.

(4), (5) ĐCSVN: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự Thật, 2021, Hà Nội, tr.144, 143.

(6) Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 24-6-2021 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng gia đình trong tình hình mới.

(7) Thái Sơn: Năm 2024, trên 90% hộ gia đình đạt danh hiệu "Gia đình văn hóa", https://phapluat.tuoitrethudo.vn.