Nghiên cứu lý luận

Một số nội dung cơ bản về phát triển văn hóa theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng

25/03/2026 17:08

DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.1003
Tóm tắt: Đảng Cộng sản Việt Nam xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực của sự phát triển bền vững. Trước yêu cầu hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế tri thức, chuyển đổi số, vấn đề xây dựng và phát triển văn hóa được Đại hội XIV đặt ra với tư duy mới, nội dung toàn diện. Những nội dung về văn hóa trong văn kiện Đại hội không chỉ là sự kế thừa, mà còn là sự phát triển mới, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước.

TS NGUYỄN THỊ VÂN
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Những quan điểm và định hướng về xây dựng, phát triển văn hóa của Đại hội XIV khẳng định bước phát triển mới trong tư duy lý luận và thực tiễn lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa_Ảnh minh họa: IT

1. Mở đầu

Trong bối cảnh thế giới biến đổi nhanh chóng dưới tác động của toàn cầu hóa, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự cạnh tranh ngày càng gay gắt về sức mạnh mềm quốc gia, văn hóa là một nhân tố then chốt, quyết định bản lĩnh, vị thế và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, sau bốn thập niên đổi mới, yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững và khơi dậy khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc đặt ra những vấn đề mới đối với xây dựng và phát triển văn hóa. Đại hội XIV của Đảng đã kế thừa và phát triển tư duy lý luận về văn hóa, xác lập những định hướng chiến lược mang tính đột phá, coi văn hóa là sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển. Quan điểm này thể hiện bước phát triển mới trong nhận thức và hành động, tạo nền tảng tinh thần vững chắc cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.

2. Nội dung

2.1. Một số vấn đề lý luận về văn hóa, xây dựng phát triển văn hóa

Văn hóa là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học. Mỗi ngành khoa học có cách tiếp cận và biện giải khác nhau, do đó khái niệm văn hóa mang tính đa nghĩa và phong phú. Nhà nghiên cứu người Pháp Jaques Dérrida nhận định: “Văn hóa chính là cái tên mà chúng ta đặt cho điều bí hiểm không cùng với những ai ngày nay đang cố tìm cách suy nghĩ về nó”(1).

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa được nhìn nhận với nội hàm rộng và toàn diện. Người đưa ra quan điểm: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó, mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”(2).

UNESCO đưa ra định nghĩa: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”(3).

Từ những cách tiếp cận đó có thể thấy, văn hóa là những giá trị do con người sáng tạo ra trong lịch sử tồn tại của mình, có vai trò khai mở, giáo dục, phát triển con người và xã hội. Văn hóa là kết quả của chính quá trình biến đổi bản thân con người, với tư cách là sự hình thành lịch sử hiện thực của con người.

Ở Việt Nam, xây dựng và phát triển văn hóa gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Đảng, cũng như sự vận động không ngừng của đời sống kinh tế - xã hội. Văn hóa Việt Nam được hình thành từ lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, kết tinh những giá trị bền vững như lòng yêu nước, tinh thần cộng đồng, nhân nghĩa, cần cù, sáng tạo và khả năng thích ứng linh hoạt trước mọi biến động. Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, văn hóa không chỉ là lĩnh vực tinh thần thuần túy mà đã trở thành một nguồn lực quan trọng, có vai trò trực tiếp trong việc định hướng phát triển con người, điều chỉnh các quan hệ xã hội và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững đất nước. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội”(4).

Tuy nhiên, quá trình phát triển nhanh của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng với tác động đa chiều của toàn cầu hóa về văn hóa, đang đặt ra nhiều vấn đề mới, vừa cấp bách, vừa lâu dài đối với xây dựng và phát triển văn hóa ở Việt Nam hiện nay. Một trong những vấn đề nổi bật là mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa. Thực tiễn cho thấy, trong một giai đoạn nhất định, việc ưu tiên tăng trưởng kinh tế đã mang lại những thành tựu to lớn về vật chất, cải thiện đời sống nhân dân, nhưng đồng thời cũng bộc lộ những hạn chế trong phát triển văn hóa. Ở một số nơi, văn hóa chưa thực sự được đặt ngang tầm với kinh tế, chính trị, xã hội; đầu tư cho văn hóa còn dàn trải; quản lý nhà nước về văn hóa còn lỏng lẻo. Còn tồn tại tình trạng thương mại hóa các hoạt động văn hóa, chạy theo thị hiếu tầm thường, coi nhẹ giá trị giáo dục và nhân văn, làm suy giảm chức năng định hướng, bồi dưỡng nhân cách con người. Điều này đặt ra yêu cầu phải xử lý hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, bảo đảm văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, động lực nội sinh của phát triển. Tại Hội nghị Trung ương 10 khóa IX, Đảng ta đã thống nhất quan điểm, mục tiêu: “Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội; tạo nên sự phát triển đồng bộ của ba lĩnh vực trên chính là điều kiện quyết định bảo đảm cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước”(5).

Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 6-5-2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 nêu rõ: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Nền văn hóa chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”(6). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định mục tiêu và nhiệm vụ phát triển văn hóa: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”(7).

Vấn đề xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện là nội dung trung tâm của chiến lược phát triển văn hóa. Trong bối cảnh mới, con người Việt Nam có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, lối sống lành mạnh, ý thức thượng tôn pháp luật và tinh thần trách nhiệm xã hội cao, có tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực sáng tạo. Tuy nhiên, trên thực tiễn còn tồn tại một số trường hợp lệch chuẩn về giá trị, biểu hiện suy thoái đạo đức, lối sống, đề cao chủ nghĩa cá nhân, vô cảm trước các vấn đề xã hội. Các tác động tiêu cực từ mạng xã hội, sản phẩm văn hóa ngoại lai thiếu chọn lọc ngày càng gia tăng. Đây là thách thức lớn đối với mục tiêu xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước nhấn mạnh quan điểm, mục tiêu xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học.

Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội. Trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, quan điểm này được phát triển thành yêu cầu: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”(8). Xây dựng các cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước phồn vinh, hạnh phúc của mọi người Việt Nam, làm cho văn hóa thấm sâu vào trong toàn bộ đời sống và các hoạt động xã hội.

Với tinh thần đó, Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Quyết định số 1909/QĐ-TTg, ngày 12-11-2021) khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Văn hóa phải được đặt ngang hàng và phát triển hài hòa với kinh tế, chính trị, xã hội;… Phát huy mọi nguồn lực phát triển để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(9).

Bên cạnh đó, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng cũng là vấn đề có ý nghĩa chiến lược. Hội nhập mở ra cơ hội giao lưu, tiếp biến văn hóa, làm phong phú đời sống tinh thần của xã hội, nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nguy cơ xâm lấn của các giá trị ngoại lai không phù hợp, làm phai nhạt bản sắc dân tộc. Nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đang đứng trước nguy cơ xuống cấp, mai một do thiếu nguồn lực bảo tồn, do tác động của đô thị hóa và biến đổi lối sống cộng đồng. Không ít lễ hội truyền thống bị biến tướng, mất đi ý nghĩa nhân văn vốn có. Điều này đòi hỏi phải có cách tiếp cận khoa học, hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, giữa gìn giữ giá trị truyền thống và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, bảo đảm bản sắc văn hóa Việt Nam được khẳng định trong quá trình hội nhập.

Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và thị trường văn hóa là một vấn đề mới, có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh kinh tế tri thức và kinh tế sáng tạo. Việt Nam có tiềm năng lớn về nguồn lực văn hóa, lịch sử, con người, nhưng việc khai thác các giá trị này để tạo ra sản phẩm văn hóa có giá trị kinh tế cao còn hạn chế. Cơ chế, chính sách khuyến khích sáng tạo văn hóa chưa đồng bộ; môi trường pháp lý cho công nghiệp văn hóa còn thiếu và chưa hoàn thiện, nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật còn thiếu hụt. Trong khi đó, sự cạnh tranh của các sản phẩm văn hóa ngoại nhập ngày càng gay gắt, đặt ra yêu cầu phải nâng cao năng lực sáng tạo, quản trị và bảo vệ bản quyền, từng bước hình thành thị trường văn hóa lành mạnh, hiện đại, gắn với phát triển kinh tế và quảng bá hình ảnh quốc gia.

Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh từ gia đình, nhà trường đến cộng đồng xã hội là vấn đề có tính nền tảng, lâu dài. Gia đình truyền thống Việt Nam với những giá trị tốt đẹp về hiếu nghĩa, thủy chung, tôn trọng lẫn nhau đang chịu nhiều tác động từ nhịp sống hiện đại, dẫn đến những biến đổi sâu sắc trong cấu trúc và chức năng. Nhà trường, bên cạnh nhiệm vụ truyền thụ tri thức, chưa phát huy vai trò giáo dục văn hóa, kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên. Ở cộng đồng, việc xây dựng đời sống văn hóa tuy đã đạt được những kết quả nhất định nhưng vẫn còn hình thức, thiếu chiều sâu, chưa tạo được sự lan tỏa mạnh mẽ về giá trị và chuẩn mực văn hóa. Điều này cho thấy cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường, xã hội và các thiết chế văn hóa trong việc hình thành môi trường văn hóa lành mạnh, bền vững.

Vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa là vấn đề có ý nghĩa quyết định. Trong thực tiễn, một số chủ trương, chính sách về văn hóa chậm được thể chế hóa hoặc thiếu tính khả thi, công tác tổ chức thực hiện nhiều nơi còn lúng túng; nguồn lực dành cho văn hóa chưa tương xứng với vai trò của lĩnh vực này. Đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa ở cơ sở còn thiếu và yếu, chưa đáp ứng yêu cầu trong điều kiện mới. Bên cạnh đó, việc phát huy vai trò chủ thể sáng tạo của nhân dân trong xây dựng và phát triển văn hóa chưa được quan tâm đúng mức, trong khi đây là nguồn lực quan trọng, mang tính quyết định đối với sự sống động và bền vững của văn hóa.

2.2. Chủ trương của Đại hội XIV về phát triển văn hóa

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận, Đại hội XIV đã nhìn nhận, đánh giá thực trạng xây dựng, phát triển văn hóa, xã hội và con người Việt Nam trong thời gian qua: “Phát triển văn hóa, xã hội và con người có nhiều mặt tiến bộ. Nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của văn hóa được nâng lên rõ rệt và lan tỏa trong xã hội”(10); “Phát triển con người Việt Nam đạt được nhiều thành tựu về tầm vóc, thể lực và trình độ; xếp hạng chỉ số hạnh phúc được nâng lên từ thứ 83 năm 2020 lên thứ 46 năm 2025, tăng 37 bậc. Chỉ số phát triển con người của Việt Nam được cải thiện rõ rệt, đạt 0,766 điểm, cao hơn nhiều so với các nước có cùng mức thu nhập”(11). Đại hội cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, bất cập, như: “Cơ chế, chính sách phát triển văn hóa còn có điểm bất cập, thiếu đồng bộ; đầu tư cho văn hóa hiệu quả chưa cao, chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ phát triển văn hóa”(12).

Từ thực tiễn đó, Đại hội XIV xác định rõ các định hướng chiến lược nhằm phát triển văn hóa trong giai đoạn mới. So với các kỳ Đại hội trước, đặc biệt là Đại hội XII và Đại hội XIII, tư duy của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa tại Đại hội XIV tiếp tục được bổ sung và phát triển với nhiều nội dung mới, thể hiện nhận thức ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn về vai trò của văn hóa trong sự phát triển đất nước.

Thứ nhất, nhấn mạnh mạnh mẽ hơn vai trò của văn hóa. Nếu như Đại hội XII và XIII khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội và là một trong những động lực của phát triển, thì Đại hội XIV tiếp tục phát triển quan điểm này theo hướng coi phát triển con người và văn hóa là một trong sáu nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ, đồng thời nhấn mạnh văn hóa không chỉ là mục tiêu mà còn là nguồn lực nội sinh cho sự phát triển: “văn hóa là nền tảng tinh thần, mục tiêu, động lực, sức mạnh nội sinh quan trọng trong phát triển nhanh và bền vững đất nước, là “tài nguyên”, “sức mạnh mềm” của quốc gia”(13). Cách tiếp cận này cho thấy sự chuyển biến rõ nét trong nhận thức về vị trí của văn hóa trong mô hình phát triển quốc gia.

Toàn cảnh Đại hội XIV của Đảng sáng 20-1. Ảnh: ĐH
Ngày làm việc thứ ba Đại hội XIV của Đảng_Ảnh: Báo Hà Nội Mới

Thứ hai, làm rõ hơn yêu cầu xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới. Vấn đề hệ giá trị đã được đề cập trong các văn kiện trước, song tại Đại hội XIV, nội dung này được nhấn mạnh như một nền tảng định hướng cho việc xây dựng môi trường văn hóa và phát triển con người Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số: “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam” (14). Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng, tạo cơ sở chuẩn mực cho sự phát triển văn hóa bền vững.

Thứ ba, nhấn mạnh yêu cầu xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong toàn xã hội, như: gia đình, trường học, cơ quan, đơn vị và cộng đồng dân cư. Đồng thời, xác định trọng tâm, trọng điểm các lĩnh vực văn hóa cần tổ chức thực hiện: xây dựng, phát triển văn học - nghệ thuật xứng tầm với lịch sử văn hóa dân tộc và tầm vóc của công cuộc đổi mới; xây dựng các thiết chế và tổ chức các hoạt động văn hóa theo hướng thiết thực, linh hoạt; xây dựng nền báo chí, xuất bản, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại; tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên nền tảng số; xây dựng các công trình văn hóa, thể thao ngang tầm khu vực và quốc tế; thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa…

Thứ tư, nhấn mạnh nhiệm vụ bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa truyền thống gắn với phát triển kinh tế di sản. Phát triển mạnh các ngành công nghiệp văn hóa, thị trường sản phẩm và dịch vụ văn hóa, đặc biệt là các sản phẩm văn hóa trên nền tảng số. Điều này phản ánh sự thích ứng của tư duy phát triển văn hóa trước những biến đổi nhanh chóng của kinh tế tri thức và xã hội số.

Đại hội XIV đề ra 5 nhóm quan điểm chỉ đạo xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới, trong đó có nhiều nội dung thể hiện sự đổi mới, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu thời đại: “Phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; xây dựng, phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực quan trọng cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”(15).

Để thực hiện thành công các mục tiêu đề ra của Đại hội, bám sát các quan điểm chỉ đạo, Đảng đưa ra Chương trình hành động triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07-01-2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Đồng thời, Đại hội XIV đề cập đến vấn đề nâng cao năng lực cán bộ lãnh đạo, quản lý về văn hóa và phát triển con người. Chăm lo đội ngũ văn nghệ sĩ và những người làm công tác văn hóa, nhất là văn hóa cơ sở. Ưu tiên phát triển các cơ sở đào tạo văn hóa, nghệ thuật; có chính sách hỗ trợ các môn nghệ thuật truyền thống. Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước về văn hóa. Đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng và quản lý tốt môi trường văn hóa; phát triển và quản lý có hiệu quả thị trường sản phẩm, dịch vụ văn hóa số. Nâng cao đời sống văn hóa, thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền, giữa các tầng lớp nhân dân; chú trọng phát triển văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Khuyến khích tìm tòi, xây dựng và phát triển sáng tạo những mô hình, thiết chế văn hóa, thể thao và quản lý văn hóa có hiệu quả.

Thứ năm, gắn phát triển văn hóa chặt chẽ hơn với khát vọng phát triển đất nước và sức mạnh mềm quốc gia. Đại hội XIV nhấn mạnh việc khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Phát huy có hiệu quả giá trị văn hóa và tinh thần cống hiến của con người Việt Nam, để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, động lực và hệ điều tiết phát triển đất nước. Chú trọng phát triển văn hóa chính trị. Phát triển văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp, văn hóa khởi nghiệp sáng tạo và đạo đức doanh nhân. Xây dựng văn hóa gia đình, nhà trường và xã hội nhằm bảo vệ, gìn giữ thuần phong mỹ tục, tinh thần tương thân, tương ái, đoàn kết, nghĩa tình, trọng đạo lý, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Phát triển, lan tỏa các giá trị văn hóa và chuẩn mực đạo đức; tăng cường “sức đề kháng” của văn hóa, chống lại mọi sự “xâm lăng” về văn hóa; bài trừ các hình thức văn hóa lai căng, hủ lậu, ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục; đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc lịch sử, văn hóa và truyền thống cách mạng.

3. Kết luận

Những quan điểm và định hướng về xây dựng, phát triển văn hóa của Đại hội XIV khẳng định bước phát triển mới trong tư duy lý luận và thực tiễn lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa. Văn hóa tiếp tục được đặt ở vị trí nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước, đồng thời là điểm tựa để giữ vững bản sắc dân tộc trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng. Việc nhấn mạnh xây dựng con người Việt Nam toàn diện, phát huy giá trị văn hóa dân tộc gắn với tiếp thu tinh hoa nhân loại, phát triển công nghiệp văn hóa và môi trường văn hóa lành mạnh cho thấy tầm nhìn chiến lược của Đại hội XIV. Những định hướng đó tạo cơ sở để văn hóa thực sự trở thành động lực tinh thần, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển và dấu mốc mới trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.

_________________

Ngày nhận: 02-3-2026; Ngày bình duyệt: 12-3-2026; Ngày duyệt đăng: 25-3-2026.

Email tác giả: nguyenvansphn76@gmail.com

(1) Dẫn theo F. Mayor: “Ban đầu và cuối cùng là văn hóa”, Tạp chí Người đưa tin UNESCO, số 10-1993, tr.35.

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.458.

(3) Tuyên bố chung của UNESCO về tính đa dạng văn hóa, 2002.

(4) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998.

(5) ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, t.63, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2004, tr.390.

(6) Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 06-5-2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020.

(7) ĐCSVN: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011).

(8) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.115-116.

(9) Cổng thông tin điện tử Chính phủ: Quyết định số 1909/QĐ-TTg ngày 12-11-2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030, https://chinhphu.vn.

(10), (11), (12) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.305, 306-307, 333.

(13), (14), (15) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, t.II, Sđd, 51-52, 378, 259.