Công tác dân tộc của hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.2293
Tóm tắt: Công tác dân tộc được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài trên nền tảng nhất quán quan điểm bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và tương trợ giữa các dân tộc. Trên cơ sở đó, hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở giữ vai trò nòng cốt trong lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện. Nhờ đó, nhiều lĩnh vực quan trọng như phát triển kinh tế - xã hội và giảm nghèo bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số, bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc, nâng cao giáo dục, y tế và an sinh xã hội, xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, giữ vững quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội ở vùng dân tộc và miền núi đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận.
TS VŨ TRƯỜNG GIANG
Học viện Chính trị khu vực I

1. Mở đầu
Việt Nam là quốc gia thống nhất của 54 dân tộc. Trong suốt tiến trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vấn đề dân tộc và công tác dân tộc luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định công tác dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài. Trên cơ sở đó, quan điểm bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc được khẳng định xuyên suốt trong các văn kiện của Đảng và được thể chế hóa trong hệ thống pháp luật của Nhà nước.
Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, vùng đồng bào dân tộc có nhiều cơ hội phát triển mới lẫn nhiều thách thức đan xen. Thách thức lớn là khoảng cách phát triển giữa các vùng, nguy cơ mai một bản sắc văn hóa, tác động của biến đổi khí hậu, di cư tự do và các vấn đề an ninh phi truyền thống. Thực tiễn cho thấy, các vấn đề dân tộc, tôn giáo, phát triển và an ninh có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau, đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của toàn bộ hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở trong quá trình quản trị nhà nước.
Trên cơ sở đó, về phương diện lý luận, bài viết tiếp cận chính sách dân tộc như một hệ thống quan điểm, mục tiêu và công cụ quản trị nhằm điều chỉnh quan hệ dân tộc trong cộng đồng quốc gia - dân tộc, bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển. Công tác dân tộc không chỉ là hoạt động quản lý hành chính mà còn là quá trình tổ chức thực thi chính sách thông qua sự lãnh đạo, quản lý và phối hợp của toàn bộ hệ thống chính trị. Từ góc độ quản trị chính sách, vai trò của hệ thống chính trị trong công tác dân tộc được xem xét trên ba phương diện: hoạch định, tổ chức thực thi và điều phối chính sách. Với cách tiếp cận này có thể nhìn nhận công tác dân tộc dưới góc độ phối hợp liên ngành, liên cấp trong hệ thống chính trị, bảo đảm sự thống nhất giữa hoạch định và thực thi chính sách. Qua đó, bài viết góp phần làm rõ vai trò của hệ thống chính trị trong tổ chức thực thi chính sách dân tộc và thúc đẩy nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam, hướng tới phát triển bền vững.
2. Nội dung
2.1. Các chủ thể tham gia thực hiện công tác dân tộc
Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12-3-2003 về công tác dân tộc xác định: “Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị”(1). Công tác dân tộc không chỉ là tổng hợp vai trò của từng chủ thể mà là thước đo năng lực phối hợp của toàn bộ hệ thống chính trị. Hiệu quả phụ thuộc vào cơ chế điều phối liên ngành thống nhất giữa trung ương và địa phương, gắn hoàn thiện chính sách với kỷ luật thực thi và trách nhiệm giải trình, nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và củng cố niềm tin của đồng bào dân tộc thiểu số.
Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam - chủ thể lãnh đạo
Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp đối với công tác dân tộc, quyết định phương hướng, mục tiêu và hiệu quả thực hiện công tác này trong toàn bộ hệ thống chính trị. Trước hết, Đảng định hướng đường lối, quan điểm và mục tiêu chiến lược về vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc, coi đây là nền tảng để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và bảo đảm phát triển bền vững đất nước. Trên cơ sở đó, Đảng ban hành cương lĩnh, nghị quyết, chỉ thị và kết luận, trong đó tiêu biểu là các nghị quyết của Trung ương về công tác dân tộc và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, làm cơ sở chính trị cho việc thể chế hóa và tổ chức thực hiện trong thực tiễn. Thông qua cơ quan chuyên trách của Đảng là Ban Tuyên giáo và Dân vận - trực tiếp tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra công tác dân tộc; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, nắm bắt tình hình tư tưởng và dư luận trong đồng bào dân tộc thiểu số(2).
Đảng lãnh đạo công tác tổ chức và cán bộ, chú trọng xây dựng, quy hoạch, đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nhằm bảo đảm các chủ trương, chính sách dân tộc được triển khai thống nhất, hiệu quả. Đồng thời, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc để gây chia rẽ, mất ổn định chính trị - xã hội.
Thứ hai, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - chủ thể quản lý, điều hành
Nhà nước Cộng hòa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam giữ vai trò chủ thể quản lý, điều hành công tác dân tộc thông qua việc thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng và tổ chức thực hiện trên phạm vi cả nước. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các chính sách lớn về dân tộc và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời giám sát tối cao việc thực hiện công tác dân tộc; cơ quan chuyên trách giúp Quốc hội thực hiện chức năng này là Hội đồng Dân tộc(3).
Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thống nhất quản lý nhà nước về công tác dân tộc; ban hành và tổ chức thực hiện các chiến lược, chương trình, dự án, chính sách cụ thể nhằm phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc. Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu, có quyền quyết định và chỉ đạo các hoạt động quản lý nhà nước tổng thể đối với lĩnh vực công tác dân tộc, nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, sự phát triển toàn diện và bền vững cho đồng bào các dân tộc thiểu số.
Cơ quan chuyên trách giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực này là Bộ Dân tộc và Tôn giáo(4). Ngoài ra, có Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật về văn hóa các dân tộc thiểu số(5). Ở địa phương, cơ quan chuyên trách là Ban Dân tộc thuộc Hội đồng Nhân dân tỉnh và Sở Dân tộc và Tôn giáo thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh(6) có trách nhiệm cụ thể hóa, tổ chức triển khai chính sách dân tộc phù hợp với đặc thù từng vùng, từng dân tộc.
Thứ ba, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội giữ vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị, góp phần thực hiện hiệu quả công tác dân tộc thông qua chức năng tập hợp, vận động, giám sát và phản biện xã hội. Mặt trận và các tổ chức thành viên làm nòng cốt trong việc tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nâng cao nhận thức chính trị - pháp lý và ý thức trách nhiệm công dân(7).
Thông qua các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động lớn và hoạt động xã hội, Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy truyền thống đoàn kết, tương trợ, đồng thời chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Bên cạnh đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội còn thực hiện chức năng giám sát việc thực thi chính sách dân tộc, kịp thời phản ánh tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị chính đáng của các dân tộc thiểu số tới Đảng, Nhà nước, qua đó góp phần hoàn thiện chính sách và tăng cường sự đồng thuận xã hội về công tác dân tộc.
Thứ tư, lực lượng vũ trang nhân dân
Lực lượng vũ trang nhân dân, bao gồm Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, giữ vai trò nòng cốt trong bảo đảm quốc phòng, an ninh và giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Trong điều kiện địa bàn rộng, địa hình phức tạp, tiềm ẩn nhiều yếu tố tác động đến an ninh trật tự, lực lượng vũ trang luôn chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời tham mưu, xử lý hiệu quả các vấn đề phát sinh từ cơ sở. Đồng thời, lực lượng này kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội, góp phần xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, gắn phát triển với bảo vệ Tổ quốc.
Việc tham gia xây dựng “thế trận quốc phòng toàn dân” gắn với “thế trận an ninh nhân dân” và “thế trận lòng dân” được triển khai đồng bộ, phù hợp với đặc điểm từng địa bàn. Thông qua công tác dân vận, lực lượng vũ trang trực tiếp và phối hợp tuyên truyền, vận động đồng bào chấp hành chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng. Bên cạnh đó, lực lượng vũ trang tích cực tham gia xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ phát triển sản xuất, xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Trong phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, lực lượng vũ trang luôn là lực lượng xung kích, sẵn sàng có mặt ở những nơi khó khăn, hiểm nguy nhất, qua đó góp phần củng cố niềm tin của đồng bào dân tộc thiểu số đối với Đảng và Nhà nước.
2.2. Quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác dân tộc
Thứ nhất, vị trí chiến lược của vấn đề dân tộc trong sự nghiệp cách mạng
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, với người Kinh là đa số chiếm 85,3%; 53 dân tộc thiểu số chiếm 14,7% dân số, phân bố dân cư không đồng đều, chủ yếu ở các vùng biên giới, vùng núi, hải đảo, địa bàn trọng yếu về quốc phòng - an ninh, và khu vực có vị trí chiến lược về sinh thái, tài nguyên(8). Sự ổn định và phát triển của vùng đồng bào dân tộc thiểu số vì vậy không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội mà còn là nhân tố có ý nghĩa chiến lược đối với bảo đảm an ninh quốc gia, giữ vững chủ quyền lãnh thổ và củng cố ổn định nền tảng chính trị - xã hội của đất nước. Trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, khoảng cách phát triển giữa các vùng, nguy cơ tái nghèo, tác động của biến đổi khí hậu và sự chống phá của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo đặt ra yêu cầu công tác dân tộc một cách chủ động, toàn diện và dài hạn.
Nghị quyết số 24-NQ/TW xác định rõ: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam”(9). Nhận định này không chỉ khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của công tác dân tộc mà còn đặt vấn đề dân tộc trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước qua từng giai đoạn cách mạng.
Công tác dân tộc không chỉ là nhiệm vụ của một ngành, lĩnh vực mà là trách nhiệm chung của toàn hệ thống chính trị, đòi hỏi sự lãnh đạo thống nhất, quản lý hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước và sự tham gia của toàn xã hội. Việc xác định đúng vị trí chiến lược của vấn đề dân tộc là cơ sở để hoạch định chủ trương, chính sách phù hợp, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội và tạo nền tảng cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Về phương diện lý luận, vấn đề dân tộc ở Việt Nam không chỉ là quan hệ giữa các cộng đồng tộc người, mà là quan hệ chính trị - xã hội gắn với cấu trúc quyền lực nhà nước và chiến lược phát triển quốc gia. Do đó, xử lý vấn đề dân tộc chính là xử lý mối quan hệ giữa ổn định chính trị, công bằng xã hội và phát triển bền vững.
Thứ hai, nguyên tắc thực hiện công tác dân tộc
Nguyên tắc thực hiện chính sách về vấn đề dân tộc ở Việt Nam được xác định nhất quán trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011): “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc cùng phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, ngôn ngữ, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Chống tư tưởng kỳ thị và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số”(10). Đây là hệ nguyên tắc có tính nền tảng, chi phối toàn bộ quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Quan điểm này được cụ thể hóa và phát triển trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ cùng phát triển. Thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội, vươn lên thoát nghèo và giảm nghèo đa chiều bền vững”(11). không chỉ nhấn mạnh việc bảo đảm quyền bình đẳng mà còn xác lập yêu cầu phát triển bền vững, coi nâng cao năng lực nội sinh của đồng bào dân tộc thiểu số là định hướng chiến lược lâu dài.
Trên phương diện pháp lý, các nguyên tắc đó được hiến định tại Điều 5 của Hiến pháp: “1) Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. 2) Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. 3) Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. 4) Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”(12). Việc hiến định có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì xác lập cơ sở pháp lý tối cao cho chính sách dân tộc, đồng thời khẳng định bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng cùng phát triển là nguyên tắc chi phối toàn bộ tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.
Thứ ba, ưu tiên đầu tư phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi
Nghị quyết số 24-NQ/TW khẳng định yêu cầu: “Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết, tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng”(13). Vùng dân tộc thiểu số và miền núi được xác định là “lõi” của nhiệm vụ giảm nghèo bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và ứng phó thiên tai. Đồng thời, đây cũng là khu vực giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo đảm sinh kế lâu dài và giữ vững an ninh biên giới, chủ quyền lãnh thổ. Trên cơ sở đó, Đảng chủ trương tập trung nguồn lực đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên phát triển kết cấu hạ tầng, sinh kế bền vững, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và củng cố quốc phòng - an ninh, nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc.
Thứ tư, gắn công tác dân tộc với công tác tôn giáo, an ninh biên giới
Thực tế, nhiều vùng dân tộc thiểu số có đặc điểm gắn với các tôn giáo, tín ngưỡng đặc thù, đồng thời nằm ở khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, có quan hệ lịch sử, văn hóa và giao lưu xuyên biên giới lâu đời. Những yếu tố này tạo nên không gian xã hội đặc thù, nơi các quan hệ cộng đồng, tín ngưỡng và lợi ích an ninh - quốc phòng đan xen chặt chẽ. Do đó, các vấn đề dân tộc, tôn giáo và an ninh không tồn tại tách rời mà có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau, nếu xử lý thiếu đồng bộ có thể phát sinh những hệ lụy phức tạp. Do đó, việc hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc cần được đặt trong tổng thể chiến lược quản lý và phát triển xã hội, gắn kết chặt chẽ với công tác tôn giáo, công tác dân vận và nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng - an ninh, giữ vững chủ quyền biên giới quốc gia. Cách tiếp cận tích hợp này nhằm vừa bảo đảm và phát huy quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng của đồng bào, vừa củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để chủ động phòng ngừa, kịp thời phát hiện và đấu tranh với các hành vi lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo nhằm kích động chia rẽ, gây mất ổn định chính trị - xã hội, qua đó góp phần xây dựng vùng biên giới hòa bình, ổn định và phát triển bền vững lâu dài.
2.3. Nội dung trọng tâm của công tác dân tộc hiện nay
Một là, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025 đã được triển khai tương đối đồng bộ và đạt nhiều kết quả quan trọng: đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số từng bước được cải thiện; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân trên 3% mỗi năm; thu nhập của người dân tộc thiểu số tăng hơn ba lần so với năm 2020. Kết cấu hạ tầng thiết yếu tiếp tục được đầu tư, sản xuất nông - lâm nghiệp chuyển dịch theo hướng bền vững, nhiều mô hình sinh kế và chuỗi giá trị được hình thành; các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, bình đẳng giới, chăm sóc phụ nữ và trẻ em có chuyển biến tích cực, góp phần củng cố quốc phòng, an ninh và tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc(14). Trên cơ sở những thành quả đó, Quốc hội khóa XV đã ban hành Nghị quyết số 257/2025/QH15 phê duyệt chủ trương đầu tư các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2035(15). Triển khai Nghị quyết này, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 424/NQ-CP Ban hành Kế hoạch triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035(16). Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 417/QĐ-BNNMT phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030(17).
Hai là, bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc
Bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số là nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững đất nước, vừa góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam thống nhất trong đa dạng, vừa tạo nguồn lực nội sinh cho phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là phục dựng, bảo tồn các lễ hội truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp; đồng thời gìn giữ và phát huy giá trị của trang phục truyền thống, tiếng nói, chữ viết và kho tàng tri thức bản địa của các dân tộc. Cùng với đó, việc hỗ trợ, tôn vinh và tạo điều kiện để các nghệ nhân, già làng, trưởng bản, người có uy tín tham gia truyền dạy, thực hành văn hóa truyền thống có ý nghĩa then chốt. Việc khuyến khích và nhân rộng các mô hình du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc không chỉ tạo sinh kế, nâng cao thu nhập của người dân, mà còn góp phần quảng bá hình ảnh, giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc.
Từ góc độ chính sách, những yêu cầu này đã được thể hiện trong các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển văn hóa gắn với phát triển bền vững và bảo đảm công bằng xã hội ở vùng dân tộc thiểu số. “Bảo đảm bình đẳng trong thụ hưởng các giá trị văn hoá đối với các nhóm yếu thế như người khuyết tật, người nghèo, trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số; chú trọng bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống, bản sắc văn hoá tốt đẹp của các dân tộc thiểu số”(18).
Ba là, tăng cường giáo dục, y tế và an sinh xã hội
Trong lĩnh vực giáo dục, Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách đặc thù nhằm tạo điều kiện cho con em đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp cận giáo dục một cách bình đẳng. Chính sách cử tuyển, hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú cùng các chương trình hỗ trợ học phí, sách giáo khoa, đồ dùng học tập đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao tỷ lệ huy động học sinh đến trường, hạn chế tình trạng bỏ học giữa chừng. Thông qua đó, nhiều học sinh dân tộc thiểu số có cơ hội tiếp tục học tập ở bậc cao hơn, từng bước hình thành đội ngũ cán bộ, trí thức là người dân tộc thiểu số, đáp ứng yêu cầu phát triển lâu dài của địa phương và đất nước. Đại hội XIV của Đảng xác định: “Phát triển hài hòa giáo dục và đào tạo giữa các vùng, miền; có chính sách ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, các đối tượng chính sách”(19).
Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được đặc biệt quan tâm, nhất là việc củng cố mạng lưới y tế cơ sở tại các xã, thôn, bản vùng sâu, vùng xa. Việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, nâng cao năng lực đội ngũ y bác sĩ, nhân viên y tế thôn bản đã giúp người dân được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu kịp thời và thuận lợi hơn. Đồng thời, các chương trình truyền thông, tư vấn về sức khỏe sinh sản, phòng chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống được đẩy mạnh, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng, giảm thiểu những hệ lụy tiêu cực đối với chất lượng dân số và sự phát triển của các thế hệ tương lai.
Về an sinh xã hội, chính sách bảo hiểm y tế đã đạt được kết quả nổi bật khi tỷ lệ bao phủ gần như toàn bộ đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là chỗ dựa quan trọng giúp người dân giảm bớt gánh nặng chi phí khám chữa bệnh, nhất là đối với các hộ nghèo, cận nghèo. “Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, hiện đại, thích ứng linh hoạt, theo vòng đời và bao phủ toàn dân, toàn diện, lấy con người là trung tâm, nâng cao phúc lợi xã hội toàn dân; bảo đảm mọi người dân được tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu có chất lượng; ưu tiên các đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế và đối tượng trong khu vực phi chính thức, mở rộng tín dụng chính sách xã hội phù hợp điều kiện, trình độ phát triển của Việt Nam, “không để ai bị bỏ lại phía sau””(20).
Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số
Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược, giữ vai trò then chốt trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Việc phát hiện, tạo nguồn cán bộ từ học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số có năng lực, phẩm chất tốt, thông qua các chính sách ưu tiên trong giáo dục, đào tạo, là khâu quan trọng nhằm bảo đảm tính kế thừa và phát triển liên tục của đội ngũ cán bộ. Công tác quy hoạch, bồi dưỡng và đào tạo cán bộ người dân tộc thiểu số cần được tiến hành bài bản, lâu dài và gắn với yêu cầu phát triển của từng địa phương. Đồng thời, cần chú trọng bồi dưỡng toàn diện về lý luận chính trị, chuyên môn, kỹ năng quản lý, kỹ năng vận động quần chúng, gắn đào tạo với thực tiễn công tác tại cơ sở, qua đó nâng cao năng lực thực thi nhiệm vụ của cán bộ địa phương.
Bên cạnh công tác đào tạo, việc bố trí, sử dụng và từng bước tăng tỷ lệ cán bộ người dân tộc thiểu số trong bộ máy lãnh đạo, quản lý các cấp có ý nghĩa thiết thực trong việc bảo đảm tính đại diện và phù hợp với đặc điểm vùng, miền. Cán bộ là người dân tộc thiểu số, am hiểu phong tục, tập quán, ngôn ngữ và tâm lý cộng đồng sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác lãnh đạo, điều hành, hạn chế những bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách. Việc xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, hợp lý về cơ cấu sẽ tạo nền tảng vững chắc cho phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. “Quan tâm phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài, coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật, cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước; tăng cường cán bộ cho các địa bàn khó khăn, lĩnh vực trọng yếu; ưu tiên đào tạo, chuẩn hoá đội ngũ cán bộ cơ sở, nhất là cán bộ cấp xã sau sắp xếp đơn vị hành chính”(21).
Năm là, giữ vững an ninh vùng dân tộc thiểu số và biên giới
Một trong những nội dung trọng tâm là chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời các hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để tuyên truyền xuyên tạc, kích động tư tưởng ly khai, chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc. “Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và thực hiện nghiêm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Phát huy vai trò tích cực của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số. Đấu tranh với các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội”(22). Thông qua công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức chính trị - pháp luật cho người dân, cần làm rõ bản chất sai trái của các luận điệu thù địch, qua đó củng cố niềm tin của đồng bào đối với đường lối, của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và khu vực biên giới là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước. Đây không chỉ là yêu cầu trước mắt nhằm bảo đảm cuộc sống bình yên của nhân dân, mà còn là điều kiện nền tảng để thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Trên cơ sở đó, “tăng cường quốc phòng toàn dân, phòng thủ chủ động; ngăn ngừa, đẩy lùi từ sớm các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững và củng cố môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước”(23).
3. Kết luận
Qua phân tích vai trò của hệ thống chính trị trong công tác dân tộc hiện nay, có thể rút ra một số vấn đề lý luận cơ bản. Thứ nhất, công tác dân tộc không chỉ là lĩnh vực chính sách xã hội chuyên biệt, mà là một cấu phần hữu cơ của chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, gắn trực tiếp với ổn định chính trị, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phát triển bền vững quốc gia. Thứ hai, hiệu quả công tác dân tộc phụ thuộc trước hết vào năng lực điều phối và quản trị thống nhất của hệ thống chính trị, trong đó vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam giữ tính quyết định; Nhà nước thể chế hóa và tổ chức thực thi; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện giám sát, phản biện và vận động xã hội. Thứ ba, trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi phát triển, công tác dân tộc đang chuyển từ tiếp cận hỗ trợ đơn thuần sang phát triển bao trùm, trao quyền và tăng cường năng lực nội sinh của cộng đồng các dân tộc thiểu số.
Do đó, cần tập trung vào một số định hướng lớn. Một là, tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về công tác dân tộc theo hướng tích hợp, đồng bộ, khắc phục chồng chéo chính sách, bảo đảm thống nhất giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh và bảo tồn văn hóa. Hai là, làm rõ cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các chủ thể trong hệ thống chính trị, tăng cường trách nhiệm giải trình và kỷ luật thực thi. Ba là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng nâng cao chất lượng hoạch định chiến lược, năng lực dự báo và tổng kết thực tiễn. Bốn là, đẩy mạnh phân cấp gắn với bảo đảm nguồn lực, phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng và cán bộ người dân tộc thiểu số; qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác dân tộc và tạo nền tảng phát huy sức mạnh các dân tộc Việt Nam, hướng tới phát triển nhanh, bền vững, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
_________________
Ngày nhận bài: 05-3-2026; Ngày bình duyệt:13-3-2026; Ngày duyệt đăng: 25-3-2026.
Email tác giả: giangnhanhoc@yahoo.com.vn
(1), (9), (13) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.35, 34, 35.
(2) Bộ Chính trị: Quyết định số 246-QĐ/TW ngày 24-01-2025 về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương.
(3) Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Nghị quyết số 71/2025/UBTVQH15, ngày 18-02-2025 về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể và cơ cấu tổ chức của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội.
(4) Chính phủ: Nghị định số 41/2025/NĐ-CP ngày 26-02-2025 Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Dân tộc và Tôn giáo,.
(5) Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Quyết định số 618/QĐ-BVHTTDL ngày 11-3-2025 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam.
(6) Chính phủ: Nghị định số 45/2025/NĐ-CP ngày 28-02-2025 Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương.
(7) Bộ Chính trị: Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 28-12-2024 về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
(8) Cục Thống kê: Thông cáo báo chí Kết quả sơ bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019, https://www.nso.gov.vn, ngày 11-7-2019.
(10) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.81.
(11), (19), (20), (21), (23) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.124, 102, 108-109, 137-138, 113.
(12) Quốc hội: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (sửa đổi bổ sung năm 2025).
(14) Ban Chỉ đạo Trung ương các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 – 2025: Tài liệu Hội nghị Tổng kết Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025, Hà Nội, tháng 8-2025.
(15) Quốc hội: Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11-12-2025 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035.
(16) Chính phủ: Nghị quyết số 424/NQ-CP ngày 30-12-2025 Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035.
(17) Bộ Nông nghiệp và Môi trường: Quyết định số 417/QĐ-BNNMT ngày 31-01-2026 Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030,
(18) Bộ Chính trị: Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07-01-2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
(22) Bộ Chính trị: Kết luận số 65-KL/TW ngày 30-10-2019 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về công tác dân tộc trong tình hình mới.