Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện vận hành chính quyền địa phương 2 cấp ở Ninh Bình
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.9018
Tóm tắt: Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bộ địa phương đang được triển khai theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp tinh gọn, tăng cường phân cấp và thúc đẩy chuyển đổi số. Bài viết khái quát một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở tỉnh Ninh Bình, nêu những vấn đề đặt ra, nội dung và yêu cầu đối với việc thực hiện các nội dung đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, nhằm góp phần nâng cao năng lực cầm quyền ở địa phương và hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng trong bối cảnh phát triển mới.
TS ĐỚI VĂN TẶNG
Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

1. Mở đầu
“Phương thức lãnh đạo của Đảng là tổng thể các cách thức, hình thức, phương pháp, quy chế, quy định, quy trình, lề lối làm việc... mà Đảng sử dụng để tác động vào đối tượng lãnh đạo nhằm thực hiện thắng lợi Cương lĩnh chính trị, đường lối, các nghị quyết và các nội dung lãnh đạo của Đảng trong từng thời kỳ cách mạng” (Trần Khắc Việt, 2022).
Trong điều kiện vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, phương thức lãnh đạo của Đảng cần được đổi mới nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả lãnh đạo. Thực tiễn ở tỉnh Ninh Bình cho thấy, quá trình kiện toàn tổ chức và hoàn thiện chính quyền địa phương 2 cấp đã tạo chuyển biến tích cực về hiệu quả lãnh đạo, hiệu lực điều hành và sự phối hợp trong hệ thống chính trị. Nhưng đồng thời cũng đặt ra những vấn đề về phân định ranh giới giữa lãnh đạo và quản lý của chính quyền; xác lập trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu; hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực; củng cố sự đồng thuận trong đội ngũ cán bộ... Đến nay, phần lớn các nghiên cứu mới dừng lại ở việc tinh giản tổ chức hoặc cải cách hành chính, chưa làm rõ phương thức lãnh đạo trong bối cảnh chuyển đổi mô hình. Do đó, cần gắn việc vận hành chính quyền địa phương 2 cấp với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng tăng cường định hướng chiến lược, hoàn thiện thiết kế thể chế và kiểm soát quyền lực.
2. Nội dung
2.1. Phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện vận hành chính quyền địa phương 2 cấp - Nhìn từ góc độ lý luận
Thứ nhất, khi bộ máy được sắp xếp theo hướng tinh gọn và thẩm quyền được phân định lại giữa 2 cấp chính quyền địa phương, phạm vi trách nhiệm của từng chủ thể trong hệ thống chính trị trở nên rõ ràng hơn. Điều này đòi hỏi phương thức lãnh đạo của Đảng phải đề cao trách nhiệm cá nhân, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu, gắn với cơ chế giải trình và kiểm soát quyền lực chặt chẽ hơn.
Thứ hai, trong điều kiện vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, cần xác định rõ ranh giới giữa lãnh đạo của Đảng và quản lý của chính quyền. Vì vậy, phương thức lãnh đạo cần chuyển từ việc can thiệp trực tiếp sang định hướng chiến lược, thiết kế thể chế và tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện.
Thứ ba, vận hành mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp đặt ra yêu cầu cao về chuẩn hóa quy trình và thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực. Bộ máy tinh gọn chỉ phát huy hiệu quả khi vận hành trong khuôn khổ quy chế minh bạch, với thẩm quyền, trách nhiệm và cơ chế giám sát được xác định rõ.
Thứ tư, sự thay đổi về cấu trúc tổ chức và môi trường công tác trong quá trình sắp xếp bộ máy để vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp tác động trực tiếp đến tâm lý và động lực làm việc của đội ngũ cán bộ. Điều này đòi hỏi phương thức lãnh đạo của Đảng phải chú trọng hơn đến việc củng cố sự đồng thuận, siết chặt kỷ luật, kỷ cương và xây dựng văn hóa trách nhiệm trong hệ thống chính trị.
2.2. Phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện vận hành chính quyền địa phương 2 cấp ở Ninh Bình hiện nay - Nhìn từ góc độ thực tiễn
Từ ngày 01-7-2025, tỉnh Ninh Bình chính thức vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Toàn tỉnh có 129 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 97 xã và 32 phường (giảm mạnh so với 398 đơn vị trước khi sắp xếp), hình thành một không gian quản trị mới với quy mô dân số khoảng 4,4 triệu người (Tỉnh ủy Ninh Bình, 2025a). Đảng bộ tỉnh Ninh Bình được thành lập trên cơ sở sắp xếp, hợp nhất Đảng bộ ba tỉnh Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình. Sau hợp nhất, Đảng bộ có 133 tổ chức đảng trực thuộc, gồm 4 đảng bộ trực thuộc và 129 đảng bộ xã, phường; tổng số tổ chức cơ sở đảng là 1.342 (260 đảng bộ cơ sở và 1.082 chi bộ cơ sở), với 8.331 chi bộ trực thuộc đảng ủy xã, phường, đảng ủy cơ sở và đảng ủy bộ phận. Tổng số đảng viên là 239.660 đồng chí. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh có 100 đồng chí, Ban Thường vụ Tỉnh ủy có 25 đồng chí, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy có 13 đồng chí; đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng bộ tỉnh có 697 đồng chí (Tỉnh ủy Ninh Bình, 2025c).
Trong nhiệm kỳ 2020 - 2025, Đảng bộ ba tỉnh Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình trước đây và Đảng bộ tỉnh Ninh Bình hiện nay đã tập trung đổi mới phương thức lãnh đạo, sắp xếp, tổ chức lại bộ máy hệ thống chính trị. Đồng thời, tăng cường vai trò lãnh đạo của tập thể và nêu cao trách nhiệm người đứng đầu; phát huy dân chủ trong hoạch định chủ trương, chính sách; ban hành và tổ chức thực hiện hiệu quả các nghị quyết chuyên đề về chuyển đổi số, xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển đô thị, xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế biển, phát triển công nghiệp, bảo tồn di sản..., tập trung giải quyết các vấn đề mới, khó (Tỉnh ủy Ninh Bình, 2025a).
Về kết quả đạt được, đến nay phương thức lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy có nhiều đổi mới, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện nghiêm quy chế làm việc; xây dựng đoàn kết, thống nhất trong cấp ủy và trong Đảng bộ; phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận của nhân dân. Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực Tỉnh ủy đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hóa kịp thời các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định… của Trung ương; xây dựng chương trình, kế hoạch, đề án thực hiện phù hợp với thực tiễn và định hướng phát triển của địa phương; quyết tâm, quyết liệt, chủ động, đổi mới, sáng tạo trong vận dụng các chủ trương chung vào thực tiễn địa phương, tập trung, thống nhất cao trong lãnh đạo, điều hành và tổ chức thực hiện; làm tốt công tác tuyên truyền, vận động và giải quyết kịp thời các vấm đề bức xúc của nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội cao trong thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của địa phương; xác định lợi thế, điểm nghẽn, nút thắt, nhiệm vụ đột phá và tập trung huy động mọi nguồn lực để triển khai.
Ngay sau Đảng bộ tỉnh Ninh Bình (mới) được thành lập và đi vào hoạt động từ ngày 01-7-2025, Tỉnh ủy Ninh Bình đã ban hành: Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020 - 2025; Chương trình công tác của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy từ tháng 7-2025 đến hết năm 2025; Chương trình kiểm tra, giám sát của Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy; Phân công nhiệm vụ các đồng chí ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh; Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên trách tham mưu, báo chí; Quy chế làm việc của các đảng ủy trực thuộc. Đồng thời, Tỉnh ủy tổ chức làm việc với Đảng ủy UBND tỉnh cho ý kiến về các khâu đột phá, nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và thường trực tỉnh ủy đã chú trọng đổi mới phương thức lãnh đạo, duy trì nền nếp sinh hoạt, bám sát thực tiễn và tập trung chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, giải quyết những vấn đề mới phát sinh (Tỉnh ủy Ninh Bình, 2025b).
Sau Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy; đồng thời xây dựng chương trình công tác và chương trình kiểm tra, giám sát nhiệm kỳ 2025 - 2030, năm 2026 của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy (Tỉnh ủy Ninh Bình, 2025c).
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng ở tỉnh Ninh Bình đã góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả vận hành chính quyền địa phương 2 cấp. Theo đó, phương thức quản lý, điều hành của chính quyền cũng có nhiều đổi mới, thích ứng với mô hình mới; chất lượng dân chủ đại diện được nâng cao thông qua hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân; hiệu lực, hiệu quả quản lý của Ủy ban nhân dân được cải thiện; tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục được đổi mới. Phân cấp, phân quyền, giao quyền gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát, siết chặt kỷ luật, kỷ cương và đánh giá cán bộ theo kết quả thực hiện nhiệm vụ được đẩy mạnh. Công tác cán bộ được đổi mới theo hướng lựa chọn, trọng dụng và bảo vệ người có phẩm chất, năng lực, nhất là xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở đủ năng lực, gần dân, sát dân, vì dân; đồng thời đề cao trách nhiệm và vai trò nêu gương của cán bộ, nhất là người đứng đầu.
Những kết quả trên cho thấy, việc chuyển sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp không chỉ là điều chỉnh về tổ chức hành chính mà còn là quá trình tái cấu trúc phương thức quản trị và phân cấp quyền lực ở địa phương. Ở góc độ phương thức lãnh đạo, đây là bước chuyển đổi từ điều hành phân tán sang lãnh đạo theo định hướng chiến lược và mục tiêu phát triển. Thực tiễn vận hành chính quyền địa phương 2 cấp cho thấy việc phân định rõ thẩm quyền giữa cấp tỉnh và cấp xã; xác định rõ trách nhiệm của tập thể và cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu; đồng thời thúc đẩy cải cách hành chính, chuyển đổi số và tăng cường phân cấp, phân quyền hợp lý để các chiến lược phát triển của tỉnh cũng như của xã, phường được triển khai đồng bộ, hiệu quả, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, thu ngân sách và thu hút đầu tư... là rất cần thiết.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng ở tỉnh Ninh Bình đã góp phần quan trọng vào kết quả phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Năm 2025, tổng sản phẩm xã hội (GRDP) (giá so với năm 2010) đạt 187.794 tỷ đồng, tăng 10,65% so với năm 2024; quy mô kinh tế theo giá hiện hành đạt 342.812 tỷ đồng, GRDP bình quân đầu người đạt 89,19 triệu đồng (Tỉnh ủy Ninh Bình, 2025b).
Về hạn chế, phương thức lãnh đạo của Đảng ở tỉnh Ninh Bình vẫn còn một số bất cập. Việc cụ thể hóa tổ chức thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương, của tỉnh ở một số cấp ủy, cơ quan, đơn vị còn hạn chế, hiệu quả chưa cao, chưa bám sát thực tiễn; công tác nắm bắt tư tưởng, dư luận xã hội có lúc chưa kịp thời; công tác đánh giá cán bộ còn là khâu yếu, chất lượng nguồn cán bộ quy hoạch chưa cao, chưa có đột phá trong phát hiện, trọng dụng người có phẩm chất, năng lực nổi trội; công tác kiểm tra, giám sát ở một số cấp ủy, tổ chức đảng còn chưa hiệu quả. Đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra đảng sau sáp nhập chưa đồng đều, tỷ lệ cán bộ có kinh nghiệm trong công tác xây dựng Đảng, nhất là công tác, kiểm tra, giám sát còn hạn chế, hiệu quả làm việc chưa cao, một số cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp chưa quan tâm thường xuyên và kịp thời trong thực hiện chế độ thông tin, báo cáo; chưa chú trọng nội dung nhận định, phân tích và đề xuất kiến nghị, số liệu thống kê chưa chính xác... (Tỉnh ủy Ninh Bình, 2025c).
Năng lực cụ thể hóa, tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương, của tỉnh ở một số cấp ủy, tổ chức đảng còn hạn chế, chưa bám sát tình hình thực tiễn của địa phương, đơn vị. Nhận thức và ý thức thực hiện trách nhiệm nêu gương của một số cán bộ, trong đó có cả người đứng đầu ở một số cấp ủy, cơ quan, đơn vị còn hạn chế. Việc giải quyết công việc thuộc thẩm quyền của một số cơ quan, đơn vị chưa thực sự quyết liệt, chưa chủ động, sáng tạo, nhất là đối với các nhiệm vụ, chủ trương mới và khó. Công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành, địa phương, các đơn vị trong triển khai thực hiện một số nhiệm vụ chưa kịp thời, chưa chặt chẽ và hiệu quả.
Những hạn chế, tồn tại trên cho thấy, khi chuyển giao nhiệm vụ từ cấp huyện sang cấp tỉnh và cấp xã đã làm phát sinh sự giao thoa về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan chuyên môn hoặc giữa các cấp chính quyền... khiến quá trình phối hợp và tổ chức thực thi chính sách ở một số nơi chưa thật sự thông suốt. Khối lượng công việc gia tăng ở cấp tỉnh và cấp xã đặt ra áp lực lớn đối với đội ngũ cán bộ, trong khi năng lực tham mưu, quản lý và ứng dụng chuyển đổi số của một bộ phận cán bộ còn hạn chế. Bên cạnh đó, việc tập trung đầu mối lãnh đạo và kiêm nhiệm chức danh cũng đặt ra yêu cầu mới đối với kiểm soát quyền lực và trách nhiệm của người đứng đầu.
Khắc phục những hạn chế trên trong điều kiện vận hành chính quyền địa phương 2 cấp trở thành yêu cầu cấp thiết. Đại hội Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ I (nhiệm kỳ 2025 - 2030) xác định cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, chỉ đạo điều hành theo hướng phát huy đoàn kết, thực hiện tập trung dân chủ. Trọng tâm là cụ thể hóa và triển khai hiệu quả các chủ trương, nghị quyết của Trung ương; đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số trong lãnh đạo, chỉ đạo (từ điều hành trực tuyến, giám sát, đánh giá đến phân tích, ra quyết định và tương tác với người dân); chỉnh đốn tác phong, lề lối làm việc theo hướng chủ động, trách nhiệm, bám sát cơ sở, phục vụ nhân dân và có sản phẩm cụ thể...; xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu, có đủ phẩm chất, năng lực, chuyên nghiệp, liêm chính, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, là trung tâm đoàn kết, hạt nhân chính trị ở cơ sở.
2.3. Những vấn đề đặt ra và định hướng đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện vận hành chính quyền địa phương 2 cấp ở tỉnh Ninh Bình hiện nay
Những vấn đề đặt ra
Trong điều kiện vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng ở tỉnh Ninh Bình không chỉ là yêu cầu điều chỉnh về tổ chức mà còn là quá trình tái cấu trúc phương thức thực thi quyền lực chính trị theo hướng hiện đại, minh bạch và hiệu quả. Vì vậy, “tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; đẩy mạnh đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của cấp ủy các cấp”, “tập trung cụ thể hóa triển khai thực hiện nghị quyết đại hội đảng các cấp, ban hành sớm, đầy đủ các nghị quyết chuyên đề của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, các chương trình, đề án, cơ chế, chính sách để tạo cơ sở cho việc tổ chức thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra...” (Tỉnh ủy Ninh Bình, 2025b) đã trở thành định hướng trọng tâm trong mục tiêu phát triển của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình năm 2026.
Từ thực tiễn vận hành chính quyền địa phương 2 cấp ở Ninh Bình, có thể khái quát một số vấn đề đặt ra chủ yếu về phương thức lãnh đạo của Đảng như sau:
Thứ nhất, việc phân định ranh giới giữa lãnh đạo của Đảng và quản lý của chính quyền trở nên cấp thiết trong điều kiện giảm cấp trung gian. Nếu không được xác lập rõ, dễ dẫn đến chồng lấn chức năng, bao biện, làm thay hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo, làm giảm hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính trị.
Thứ hai, kiểm soát quyền lực trong điều kiện phân cấp, phân quyền và kiêm nhiệm chức danh đặt ra yêu cầu hoàn thiện đồng bộ các thiết chế kiểm tra, giám sát. Khi quyền lực tập trung hơn ở cấp tỉnh và cấp cơ sở, nguy cơ lạm quyền hoặc thiếu kiểm soát có thể gia tăng nếu thiếu cơ chế ràng buộc trách nhiệm minh bạch.
Thứ ba, vấn đề nâng cao tính chiến lược và năng lực dự báo trong lãnh đạo ngày càng rõ nét. Mô hình 2 cấp đòi hỏi cấp ủy chuyển mạnh từ lãnh đạo xử lý sự vụ sang định hướng phát triển dài hạn, trong khi năng lực hoạch định và dự báo ở một số cấp còn hạn chế.
Thứ tư, chất lượng và năng lực đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ ở cấp cơ sở, bộc lộ hạn chế khi khối lượng công việc tăng, phạm vi quản lý rộng hơn, yêu cầu đa nhiệm và chuyển đổi số ngày càng cao.
Thứ năm, việc xây dựng phương thức lãnh đạo phù hợp với không gian quản trị mới sau sắp xếp đòi hỏi bảo đảm tính thống nhất, thông suốt nhưng vẫn linh hoạt, thích ứng với lĩnh vực, đặc điểm lãnh đạo của chính quyền, lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, cũng như yêu cầu phát triển của địa phương.
Nội dung đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
Trên cơ sở các vấn đề đặt ra, việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng ở tỉnh Ninh Bình, trước hết là “tăng cường đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, bảo đảm hiệu quả, thiết thực, sát thực tiễn, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo toàn diện của Đảng trong giai đoạn mới” (Tỉnh ủy Ninh Bình, 2025b). Từ đó, cần tập trung vào các nội dung trọng tâm sau:
Một là, đổi mới theo hướng đề cao trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu, gắn với cơ chế thực thi và giải trình rõ ràng. Phương thức lãnh đạo cần chuyển từ trách nhiệm tập thể chung sang xác định rõ trách nhiệm cá nhân, gắn quyền hạn với trách nhiệm giải trình và kết quả đầu ra. Đồng thời, cần tăng cường kiểm tra và đánh giá theo sản phẩm cụ thể; hoàn thiện cơ chế phân công, báo cáo, giải trình, từng bước chuyển từ đánh giá định tính sang định lượng.
Hai là, đổi mới công tác kiểm tra, giám sát theo hướng tích hợp với kiểm soát quyền lực trong toàn bộ chu trình lãnh đạo. “Tăng cường giám sát thường xuyên, kịp thời phát hiện, kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên có dấu hiệu vi phạm, chú trọng kiểm tra, giám sát việc khắc phục, thực hiện các kết luận sau kiểm tra; các lĩnh vực nhạy cảm, dễ xảy ra vi phạm, tiêu cực” (Tỉnh ủy Ninh Bình, 2025b).
Theo đó, hoạt động kiểm tra, giám sát cần chuyển từ hậu kiểm sang kiểm soát ngay từ khâu xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện quyết định. Các quy chế làm việc phải được hoàn thiện theo hướng phân định rõ thẩm quyền giữa tập thể và cá nhân; quy trình xây dựng nghị quyết, đề án cần được chuẩn hóa, có thẩm định, phản biện và giải trình. Đối với các lĩnh vực trọng điểm, cần thiết lập cơ chế kiểm soát đa tầng, bảo đảm tính khách quan, minh bạch. Công tác kiểm tra, giám sát cần thường xuyên nắm chắc tình hình...; Thực hiện toàn diện, hiệu quả các nhiệm vụ theo quy định...; Chủ động nắm bắt thông tin, dư luận...; Kiện toàn tổ chức bộ máy kiểm tra các cấp...; Tiếp tục thực hiện quyết liệt, nghiêm túc, hiệu quả việc chuyển đổi số ngành Kiểm tra Đảng... (Tỉnh ủy Ninh Bình, 2025c).
Ba là, đổi mới quan hệ lãnh đạo giữa Đảng với chính quyền và hệ thống chính trị. Vai trò lãnh đạo của Đảng cần tập trung vào định hướng chiến lược, kiểm soát quyền lực và bảo đảm sự vận hành thống nhất của hệ thống. Ranh giới giữa nghị quyết của Đảng và quyết định hành chính của chính quyền phải được xác lập rõ: cấp ủy định hướng; hội đồng nhân dân thể chế hóa và giám sát; ủy ban nhân dân tổ chức thực hiện; Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện giám sát, phản biện. Phương thức lãnh đạo bảo đảm “không bao biện, làm thay nhưng cũng không buông lỏng”.
Bốn là, đổi mới phương thức lãnh đạo trên nền tảng chuyển đổi số và quản trị dựa trên dữ liệu. Chuyển đổi số cần trở thành công cụ quan trọng để nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chuyển từ lãnh đạo dựa trên kinh nghiệm sang dựa trên dữ liệu. Các quy trình lãnh đạo, điều hành cần được số hóa, cho phép theo dõi tiến độ theo thời gian thực, gắn trách nhiệm của tập thể và cá nhân. Việc gắn kết quả thực hiện nhiệm vụ với các chỉ số như mức độ hiệu quả của công tác cải cách hành chính (PAR INDEX), mức độ hài lòng của người dân (SIPAS), chỉ số năng lực cạnh tranh cấp sở, ban, ngành (DDCI)… tạo cơ sở khách quan cho đánh giá. Từng bước hình thành phương thức “lãnh đạo số”.
Những yêu cầu đối với việc thực hiện các nội dung đổi mới
Để triển khai hiệu quả các nội dung đổi mới nêu trên, cần bảo đảm các yêu cầu chủ yếu sau:
Yêu cầu về tổ chức bộ máy và công tác cán bộ: Đổi mới phương thức lãnh đạo phải gắn với kiện toàn tổ chức theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm soát quyền lực. Công tác cán bộ cần được chuẩn hóa theo hướng quản trị hiện đại, lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ làm thước đo chủ yếu; nâng cao năng lực chuyên môn, năng lực số và đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ. Đồng thời, cần có cơ chế khắc phục tình trạng quá tải và nâng cao chất lượng đánh giá cán bộ theo hướng định lượng, minh bạch.
Yêu cầu về thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình: Cần hoàn thiện hệ thống quy chế, quy trình bảo đảm minh bạch trong phân công và phối hợp; xác định rõ trách nhiệm của tập thể và cá nhân, nhất là người đứng đầu. Cơ chế kiểm soát quyền lực phải được thiết kế đồng bộ trong toàn bộ chu trình lãnh đạo. Việc đánh giá cần dựa trên dữ liệu, chỉ số và kết quả đầu ra, hạn chế yếu tố cảm tính.
Yêu cầu về đổi mới công tác tư tưởng và xây dựng văn hóa tổ chức: Cần xây dựng văn hóa lãnh đạo dựa trên trách nhiệm, kỷ luật, minh bạch và đổi mới sáng tạo; ổn định tâm lý đội ngũ trong quá trình sắp xếp tổ chức; tăng cường công tác tư tưởng thông qua quán triệt nghị quyết, đối thoại, sinh hoạt chuyên đề và tạo môi trường khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.
Yêu cầu về bảo đảm tính đồng bộ trong đổi mới: Đổi mới phương thức lãnh đạo phải gắn chặt với hoàn thiện thể chế, cơ chế vận hành và chuyển đổi số; bảo đảm sự thống nhất giữa định hướng lãnh đạo của Đảng và hiệu quả quản lý của chính quyền trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Một số đề xuất
Đối với Tỉnh ủy và các cấp ủy: Cần tiếp tục làm rõ và chuẩn hóa phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện vận hành chính quyền địa phương 2 cấp theo hướng chuyển mạnh từ lãnh đạo trực tiếp, can thiệp hành chính sang lãnh đạo bằng định hướng chiến lược, thiết kế thể chế và kiểm soát quyền lực. Trọng tâm là xác lập rõ chức năng lãnh đạo của cấp ủy trong mối quan hệ với chính quyền, tập trung vào hoạch định tầm nhìn phát triển, ban hành nghị quyết chuyên đề về các lĩnh vực trọng tâm và tăng cường giám sát việc thể chế hóa, tổ chức thực hiện nghị quyết. Đồng thời, nâng cao năng lực hoạch định chính sách và lãnh đạo phát triển thông qua việc đẩy mạnh nghiên cứu, dự báo, ứng dụng dữ liệu và hệ thống thông tin trong toàn bộ chu trình xây dựng, thực hiện và đánh giá nghị quyết.
Đối với Tỉnh ủy, Ban Tổ chức và Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy: Cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong công tác tổ chức - cán bộ phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương và tính minh bạch trong hệ thống chính trị. Trọng tâm là chuẩn hóa quy trình công tác cán bộ theo hướng chặt chẽ, công khai, có kiểm soát đa tầng; gắn quyền hạn với trách nhiệm và kết quả thực hiện nhiệm vụ của người đứng đầu. Đồng thời, đổi mới công tác kiểm tra, giám sát theo hướng chuyển từ hậu kiểm sang kiểm soát trong toàn bộ quá trình, tăng cường ứng dụng công nghệ và dữ liệu trong đánh giá cán bộ, chú trọng kiểm soát các lĩnh vực, khâu dễ phát sinh rủi ro, tiêu cực.
Đối với các cơ quan tham mưu của Đảng và hệ thống chính trị: Cần thường xuyên tổng kết thực tiễn, kịp thời bổ sung và phát triển các luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong bối cảnh mới; chủ động tham mưu hoàn thiện các quy chế, cơ chế lãnh đạo phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Đồng thời, đẩy mạnh phát hiện, xây dựng và nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến và tăng cường trao đổi kinh nghiệm, lan tỏa các cách làm hiệu quả, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và hiệu quả vận hành của hệ thống chính trị trên địa bàn tỉnh.
3. Kết luận
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện vận hành chính quyền địa phương 2 cấp ở tỉnh Ninh Bình là một tất yếu khách quan, phản ánh sự chuyển đổi từ quản lý hành chính sang quản trị phát triển hiện đại. Cốt lõi của quá trình này là chuyển từ lãnh đạo trực tiếp sang định hướng chiến lược, thiết kế thể chế và kiểm soát quyền lực. Thực tiễn cho thấy, sự đổi mới này đã góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, nhưng cũng đặt ra yêu cầu về cụ thể hóa chủ trương, kiểm soát quyền lực, chất lượng cán bộ và phối hợp thực thi. Do đó, cần tiếp tục đổi mới theo hướng làm rõ ranh giới giữa lãnh đạo và quản lý, đề cao trách nhiệm cá nhân, tăng cường kiểm tra, giám sát, đẩy mạnh chuyển đổi số và xây dựng đội ngũ cán bộ đủ năng lực. Hiệu quả vận hành chính quyền địa phương 2 cấp phụ thuộc quyết định vào mức độ đổi mới thực chất phương thức lãnh đạo của Đảng. Đây không chỉ là điều kiện nâng cao năng lực cầm quyền ở địa phương, mà còn có ý nghĩa tham chiếu cho việc hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng trong bối cảnh phát triển mới.
_________________
Ngày nhận bài: 31-3-2026; Ngày bình duyệt: 7-4-2026; Ngày duyệt đăng: 11-4-2026.
Email của tác giả: doivantang@gmail.com
Tài liệu tham khảo
Tỉnh ủy Ninh Bình (2025a). Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020 - 2025 trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030).
Tỉnh ủy Ninh Bình (2025b). Báo cáo tổng kết năm 2025 và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm năm 2026.
Tỉnh ủy Ninh Bình (2025c). Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng năm 2025, phương hướng nhiệm vụ năm 2026.
Trần Khắc Việt (2022). Phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền và phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng - Những vấn đề lý luận. Tạp chí Lý luận chính trị điện tử. https://lyluanchinhtri.vn