Hoàn thiện thể chế để phát huy vai trò của kinh tế tư nhân
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.7070
Tóm tắt: Trải qua các kỳ đại hội, nhận thức của Đảng về vị trí, vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong nền kinh tế quốc dân ngày càng hoàn thiện. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04-5-2025 đã khẳng định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Bài viết hệ thống hóa quá trình phát triển trong chủ trương, đường lối của Đảng, quy định của Nhà nước về kinh tế tư nhân từ năm 1986 đến nay, đồng thời chỉ ra những khó khăn, vướng mắc về thể chế đang cản trở sự phát triển của kinh tế tư nhân; từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng và khuyến khích đổi mới sáng tạo, phát huy vai trò của kinh tế tư nhân.
TS NGUYỄN TRUNG HẬU
Ban Chính sách, chiến lược Trung ương
PGS, TS ĐẶNG THU THỦY
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Improving institutions to enhance the role of the private economy
Abstract: Through successive Party congresses, the Party's awareness of the position and role of the private economic sector in the national economy has become increasingly complete. Resolution No. 68-NQ/TW dated May 4, 2025, affirmed that the private economy is the most important driving force of the national economy. This article systematizes the development process in the Party's guidelines and policies, and the State's regulations on the private economy from 1986 to the present, while also pointing out the institutional difficulties and obstacles hindering the development of the private economy; On that basis, we propose solutions to improve institutions, create a favorable and equitable business environment, encourage innovation, and promote the role of the private sector.
Keywords: private sector; institutional improvement; business environment; innovation.
1. Mở đầu
Cùng với tiến trình đổi mới đất nước, khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam ngày càng phát triển, là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Mặc dù còn tồn tại những hạn chế nhất định, tiềm năng và sức sống nội tại của kinh tế tư nhân Việt Nam là vô cùng lớn. Việc khơi dậy và phát huy hiệu quả các nguồn lực này sẽ đóng góp vào việc thực hiện các mục tiêu chiến lược phát triển quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới, đánh dấu sự vươn lên mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam.
2. Nội dung
2.1. Chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân
Ở giai đoạn đầu đổi mới, kinh tế tư nhân chưa được nhìn nhận là một thành phần kinh tế. Khi đó, thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa được xác định bao gồm khu vực quốc doanh và khu vực tập thể. Kinh tế tư nhân được nhìn nhận dưới hình thức là “kinh tế tư bản tư nhân”, “kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa” và là một phần trong các thành phần kinh tế khác.
Đến Đại hội VII (năm 1991), Đảng ta bắt đầu xác định và đưa ra chủ trương “kinh tế tư nhân được phát triển theo sự quản lý, hướng dẫn của Nhà nước”. Đại hội VIII và IX khẳng định thêm một bước: “kinh tế cá thể, tiểu chủ có vị trí quan trọng, lâu dài”, “khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm”. Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội, Hội nghị Trung ương 5 khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 14-NQ/TW ngày 18-3-2022 về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân.
Đại hội X (năm 2006) đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quan điểm và chủ trương của Đảng khi xác định “các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”. Trong đó, kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là “một trong những động lực của nền kinh tế”.
Từ Đại hội XI (năm 2011), Đảng ta xác định “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế” và được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm; khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước; được hỗ trợ phát triển thành các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao. Hội nghị Trung ương 5 khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03-6-2017 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; và Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 10-10-2023 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ mới, trong đó xác định tập trung phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh ngang tầm mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước trong thời kỳ mới. Đặc biệt, ngày 04-5-2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, trong đó khẳng định: “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững; cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân giữ vai trò nòng cốt để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả, đưa đất nước thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, vươn lên phát triển thịnh vượng”.
Từ chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân, Quốc hội, Chính phủ Việt Nam đã thể chế hóa thành các cơ chế, chính sách:
Năm 1986, đánh dấu mốc quan trọng khởi động sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, đó là Quyết định 27-HĐBT ngày 09-3-1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), theo đó, Nhà nước công nhận sự tồn tại và các tác dụng tích cực lâu dài của các thành phần kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân của nước ta dưới các hình thức: hộ cá thể, hộ tiểu công nghiệp (xưởng, cửa hàng), xí nghiệp tư doanh. Do đó, các hộ cá thể được phép hoạt động, tuy nhiên vẫn bị giới hạn không được tuyển dụng, thuê người không phải là bố, mẹ, vợ, chồng, con hoặc người có tên trong sổ đăng ký hộ khẩu. Hộ tiểu công nghiệp không bị giới hạn số lượng lao động làm thuê nhưng chủ hộ này phải là người lao động trực tiếp tại hộ. Do nhiều quy định hạn chế và trong điều kiện kinh tế - xã hội thời điểm đó nên sự phát triển của các hộ cá thể, hộ tiểu công nghiệp còn chậm. Năm 1989, cả nước có 333.337 hộ cá thể, hộ tiểu công nghiệp (có đăng ký kinh doanh) (Ngô Thắng Lợi, 2025).
Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân lần đầu tiên được Quốc hội thông qua vào năm 1990 đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho thành lập các doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam. Khu vực kinh tế tư nhân được mở rộng dần từng bước. Tuy nhiên, điều kiện gia nhập thị trường theo quy định của hai luật này khá chặt nên việc thành lập doanh nghiệp phức tạp và tốn kém. Trong giai đoạn này, cả nước có khoảng 46,9 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập (trung bình hằng năm có khoảng 5,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới). Hộ kinh doanh tồn tại dưới hình thức người kinh doanh (gồm cá nhân, nhóm người kinh doanh dưới vốn pháp định) theo quy định tại Nghị định số 66/HĐBT ngày 02-3-1992 của Hội đồng Bộ trưởng về cá nhân và nhóm kinh doanh có vốn thấp hơn vốn pháp định quy định trong Nghị định số 221-HĐBT ngày 23-7-1991. Theo Nghị định này, người kinh doanh không bị giới hạn về số lượng lao động được thuê mướn. Kết quả là, số lượng hộ kinh doanh đã tăng đáng kể, đến cuối năm 1999, cả nước có hơn 2,1 triệu hộ kinh doanh (Tổng cục Thống kê, 2021).
Luật Doanh nghiệp được Quốc hội thông qua vào ngày 12-6-1999 (có hiệu lực năm 2000) quy định việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp như: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân, các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội khi được chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Luật Doanh nghiệp năm 2000 chính thức công nhận quyền tự do kinh doanh của người dân và quyền sở hữu tư nhân của doanh nghiệp được bảo vệ. Nhiều cải cách về thủ tục đăng ký kinh doanh, loại bỏ hàng loạt rào cản kinh doanh; tư duy của cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương đối với doanh nghiệp khu vực tư nhân cũng được đổi mới.
Kết quả là, số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng lên đáng kể. Trong giai đoạn 2000-2005 có khoảng 121 nghìn doanh nghiệp được thành lập mới (trung bình có 24,4 nghìn doanh nghiệp thành lập mới hằng năm). Giai đoạn này, hộ kinh doanh tồn tại dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể do cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ theo quy định tại Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03-02-2000 của Chính phủ.
Tuy nhiên, do quy định không cho phép hộ kinh doanh được thường xuyên thuê lao động không phù hợp với thực tiễn nên ngày 02-4-2004, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2004/NĐ-CP về đăng ký kinh doanh; trong đó bãi bỏ quy định hộ kinh doanh không được thường xuyên thuê lao động. Theo đó, số lượng hộ kinh doanh tiếp tục tăng và đến năm 2005, cả nước có hơn 3 triệu hộ kinh doanh (Tổng cục Thống kê, 2006).
Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Luật Đầu tư năm 2005 quy định về hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh, quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, khuyến khích và ưu đãi đầu tư, quản lý nhà nước về đầu tư tại Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài; áp dụng cho mọi tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư. Như vậy, hai luật này đều xác định sân chơi áp dụng chung cho doanh nghiệp khu vực tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đây là một bước ngoặt lớn, bước đầu tạo sân chơi bình đẳng cho kinh tế tư nhân; nhiều cơ chế, chính sách mới tạo điều kiện cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển.
Kết quả là số lượng doanh nghiệp thành lập mới gia tăng mạnh; trung bình mỗi năm có 67,8 nghìn doanh nghiệp thành lập mới - gấp gần 3 lần so với giai đoạn trước. Với các nghị định của Chính phủ hướng dẫn Luật Doanh nghiệp năm 2005 như Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29-6-2006 về đăng ký kinh doanh; Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15-4-2010 về đăng ký doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể được chính thức gọi là hộ kinh doanh từ năm 2006 và có những điều chỉnh liên quan đến chủ thể được phép thành lập hộ kinh doanh, đã tạo điều kiện cho số lượng hộ kinh doanh tiếp tục tăng.
Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư năm 2014 và nhiều quyết sách quan trọng về cải thiện môi trường kinh doanh được ban hành và thực hiện, đặc biệt những cải cách về trình tự, thủ tục thành lập doanh nghiệp, điều kiện kinh doanh đã giúp giảm thiểu thời gian và chi phí cho doanh nghiệp. Sự thuận lợi của môi trường kinh doanh là chất xúc tác quan trọng để biến các cơ hội kinh doanh trở thành sự phát triển thực sự. Theo đó, số lượng doanh nghiệp thành lập mới liên tục lập kỷ lục với tổng số hơn 735 nghìn doanh nghiệp mới giai đoạn 2015-2020 (trung bình có 122,5 nghìn doanh nghiệp thành lập mới/năm) (theo số liệu tổng hợp từ niên giám thống kê hằng năm của Cục Thống kê). Đối với hộ kinh doanh, với Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14-9-2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp, các quy định về hộ kinh doanh cũng tương tự như giai đoạn trước. Trong giai đoạn này, số lượng hộ kinh doanh tăng khá nhanh. Theo Cục Thống kê, tính đến hết năm 2020, cả nước có khoảng 5,2 triệu hộ kinh doanh.
Trong bối cảnh kỷ nguyên số với những cơ hội và thách thức đan xen, việc hoàn thiện thể chế để phát huy tối đa tiềm năng và sức mạnh của khu vực kinh tế tư nhân trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Luật Doanh nghiệp năm 2020 và Luật Đầu tư năm 2020 đã có những điều chỉnh quan trọng đối với việc hình thành và phát triển doanh nghiệp, điều kiện kinh doanh dẫn đến số lượng doanh nghiệp thành lập mới tiếp tục tăng mạnh. Đối với hộ kinh doanh, Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04-01-2021 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp quy định khá rõ về hộ kinh doanh và có nhiều điểm mới so với trước đây, đặc biệt các quy định về chủ thể được phép thành lập hộ kinh doanh, hộ kinh doanh được kinh doanh tại nhiều địa điểm, có thể thuê người quản lý hoạt động kinh doanh, không giới hạn số lao động được thuê.
3.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
Việt Nam hiện có khoảng 940 nghìn doanh nghiệp tư nhân, chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp cả nước; đóng góp khoảng 30% thu ngân sách, trên 50% GDP, hơn 56% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và tạo việc làm cho khoảng 82% lực lượng lao động; bên cạnh đó, có hơn 5 triệu hộ kinh doanh cá thể (Báo Nhân dân, 2025).
Mặc dù Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tư nhân, nhưng khu vực kinh tế này vẫn chưa đạt được sự tăng trưởng như kỳ vọng. Đó là:
(i) Phần lớn doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ, năng lực cạnh tranh thấp; các doanh nghiệp đầu tàu có vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực trọng điểm còn ít;
(ii) Số lượng doanh nghiệp và doanh nhân trong nước tuy nhiều nhưng sức mạnh còn hạn chế; thiếu sự liên kết chặt chẽ; tư duy kinh doanh mang tính ngắn hạn, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, có xu hướng lựa chọn các lĩnh vực dễ tiếp cận, tập trung vào các khâu đơn giản và tìm kiếm lợi nhuận trước mắt; ý thức tìm hiểu, tuân thủ pháp luật, quy định và cam kết quốc tế còn nhiều hạn chế;
(iii) Khu vực hộ kinh doanh cá thể tuy chiếm số lượng lớn nhưng hoạt động còn manh mún, thiếu khả năng chiếm lĩnh thị trường;
(iv) Mặc dù đã có những cải thiện nhất định, sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa vào quá trình xây dựng thể chế, cơ chế, chính sách song vẫn còn hạn chế và chưa đạt hiệu quả cao;
(v) Tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, phát triển thiếu bền vững, gây tác động tiêu cực đến môi trường và xã hội vẫn diễn ra phổ biến.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng kinh tế tư nhân chưa phát triển như kỳ vọng, chưa phát huy được vai trò là động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt trong đó là nguyên nhân về mặt thể chế, được coi là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”. Hiện nay, doanh nghiệp tư nhân còn gặp các rào cản trong việc tiếp cận nguồn lực, đặc biệt là vốn tín dụng, đất đai, tài nguyên và nhân lực chất lượng cao; sự thiếu bình đẳng trong chính sách giữa doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; tình trạng nhũng nhiễu, chi phí không chính thức còn tồn tại, làm giảm hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh và tạo tâm lý e ngại đối với các nhà đầu tư.
2.3. Hoàn thiện thể chế để phát huy vai trò của kinh tế tư nhân
Trong giai đoạn từ nay đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, bối cảnh quốc tế và một số xu hướng trong nước dự kiến sẽ có tác động đến sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.
Ở quốc tế, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục diễn ra mạnh mẽ, mang đến cả cơ hội và thách thức đối với khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam. Về mặt cơ hội, các doanh nghiệp tư nhân có khả năng tiếp cận thị trường rộng lớn hơn, đồng thời tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, quá trình này cũng đòi hỏi doanh nghiệp phải nâng cao năng lực cạnh tranh để thích ứng với sự thay đổi của thị trường.
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, đặc biệt là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đang tạo ra những chuyển đổi sâu sắc trong mọi lĩnh vực kinh tế. Đây không chỉ là cơ hội để các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam bứt phá mà còn đặt ra thách thức lớn liên quan đến đầu tư công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu và các dịch bệnh toàn cầu đang trở thành những thách thức nghiêm trọng, có ảnh hưởng sâu rộng đến hoạt động sản xuất kinh doanh.
Ở trong nước, quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hóa và gia tăng giá trị sẽ tiếp tục diễn ra mạnh mẽ. Theo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2030, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm khoảng 30% GDP, trong khi kinh tế số dự kiến đóng góp khoảng 30% GDP. Đây là cơ hội quan trọng để khu vực tư nhân mở rộng đầu tư vào các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, kinh tế số cũng như phát triển các dịch vụ có giá trị gia tăng cao.
Bước vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, Đảng và Nhà nước ta nhận thức rõ vai trò của kinh tế tư nhân, xác định đây là một động lực quan trọng nhất thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần đạt được các mục tiêu 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập nước Việt Nam mới. Để phát triển kinh tế tư nhân, cần xây dựng và triển khai một hệ thống giải pháp thể chế đồng bộ, toàn diện, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tư nhân phát triển bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh và đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế đất nước:
Một là, trên cơ sở nội dung Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04-5-2025, cần xây dựng và triển khai thực hiện các chương trình, kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết gắn với cơ chế kiểm tra, giám sát và chế tài xử lý trong trường hợp thực hiện không đạt yêu cầu, nhằm đưa Nghị quyết vào cuộc sống và phát huy nhanh tác dụng trong thực tiễn.
Hai là, tạo lập môi trường kinh doanh thông thoáng. Rà soát và cắt giảm các thủ tục pháp lý, tối ưu hóa quy trình khởi sự kinh doanh thông qua ứng dụng công nghệ số. Xây dựng các cơ chế khuyến khích, hỗ trợ hiệu quả quá trình chuyển đổi từ mô hình hộ kinh doanh sang doanh nghiệp, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng tiếp cận nguồn lực của khu vực kinh tế tư nhân.
Ba là, xóa bỏ các biện pháp hành chính can thiệp trực tiếp gây bất bình đẳng trong tiếp cận các yếu tố đầu vào cơ bản, đặc biệt là đất đai. Cần bảo đảm tính công khai, minh bạch của quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, thiết lập cơ chế tiếp cận đất đai bình đẳng thông qua các hình thức đấu giá cạnh tranh, hoàn thiện cơ chế định giá đất theo sát giá thị trường và gỡ bỏ các quy định hạn chế quyền của doanh nghiệp trong việc chuyển nhượng, thế chấp quyền sử dụng đất hợp pháp.
Bốn là, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cần ban hành và triển khai hiệu quả các chính sách khuyến khích, hỗ trợ hoạt động đổi mới sáng tạo, ứng dụng và phát triển công nghệ, cũng như đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số trong khu vực kinh tế tư nhân. Trong đó, tập trung vào việc hỗ trợ tài chính, ưu đãi tín dụng cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển, ứng dụng công nghệ mới. Tạo dựng môi trường thuận lợi cho phát triển hạ tầng số, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực số thông qua các chương trình đào tạo chuyên sâu, thúc đẩy hợp tác và chuyển giao công nghệ. Xây dựng các nền tảng, hệ sinh thái số hỗ trợ hoạt động kinh doanh trên môi trường trực tuyến.
Năm là, xây dựng và triển khai các chính sách nuôi dưỡng tinh thần kinh doanh và thúc đẩy văn hóa khởi nghiệp trong toàn xã hội, đặc biệt là trong giới trẻ và cộng đồng doanh nghiệp tư nhân. Bao gồm việc đưa giáo dục khởi nghiệp vào hệ thống đào tạo; tổ chức các hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp, phát triển mạng lưới vườn ươm doanh nghiệp và không gian làm việc chung; cũng như tôn vinh và lan tỏa những câu chuyện thành công để khích lệ tinh thần khởi nghiệp.
3. Kết luận
Kinh tế tư nhân đã và đang khẳng định vai trò là một động lực quan trọng nhất để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Trong bối cảnh kỷ nguyên số với những cơ hội và thách thức đan xen, việc hoàn thiện thể chế để phát huy tối đa tiềm năng và sức mạnh của khu vực kinh tế này trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Sức mạnh nội tại và tinh thần đổi mới sáng tạo của kinh tế tư nhân được khơi thông bởi một hệ thống thể chế tiên tiến và phù hợp, chính là chìa khóa để Việt Nam nắm bắt cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hiện thực hóa khát vọng vươn tầm khu vực và thế giới.
_________________
Ngày nhận: 8-4-2025; Ngày bình duyệt: 12-12-2025; Ngày quyết định đăng: 8-5-2026.
Email tác giả: thuy0183@gmail.com
Báo Nhân dân (21-3-2025). Hội thảo "Tháo gỡ bất cập chính sách để phát huy vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế Việt Nam". https://nhandan.vn.
Ngô Thắng Lợi (2025). Kinh tế tư nhân của người Việt Nam trong định hướng và tầm nhìn phát triển mới. Đề tài cấp Nhà nước mã số KX04.16/21-25.
Tổng Cục Thống kê (2001). Niên giám Thống kê năm 2000. Nxb Thống kê.
Tổng Cục Thống kê (2006). Niên giám Thống kê năm 2005. Nxb Thống kê.