Quan điểm của Đảng về lãnh đạo đối với quản lý, sử dụng đất đai trong thời kỳ đổi mới
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.2191
Tóm tắt: Đất đai là nguồn tài nguyên quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội quốc gia. Ở Việt Nam, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn chú trọng, không ngừng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác quản lý, sử dụng đất đai. Bài viết làm rõ cơ sở sở khoa học và quá trình đổi mới, hoàn thiện quan điểm về sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, sử dụng đất đai qua các kỳ Đại hội Đảng trong 40 năm đổi mới.
PGS, TS ĐOÀN XUÂN THỦY
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
TRỊNH MINH ĐẠT
Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương

1. Mở đầu
Đất đai là lãnh thổ thiêng liêng, gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc; là không gian sinh tồn của các cộng đồng dân cư, gia đình, mọi người dân; là nguồn tài nguyên hữu hạn, nguồn lực to lớn để phát triển đất nước, là tư liệu sản xuất đặc biệt tham gia vào tất cả các lĩnh vực hoạt động phát triển kinh tế, đời sống xã hội. Ở Việt Nam, việc quản lý, sử dụng đất đai trước hết được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng trên cơ sở kiên định, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Đất đai ở nước ta được xác định là đối tượng thuộc sở hữu toàn dân. Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, quan điểm, chính sách về đất đai với những quan điểm cụ thể về quản lý, sử dụng đất đai. Những quan điểm đó không ngừng được bổ sung, phát triển và đổi mới phù hợp với bối cảnh, tình hình và yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, phát triển đất nước, tạo cơ sở chính trị để xây dựng, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật về đất đai. Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhận thức mới của Đảng về lãnh đạo đối với quản lý, sử dụng đất đai đã từng bước hình thành và không ngừng được bổ sung, phát triển qua các nhiệm kỳ đại hội, trở thành căn cứ lý luận khoa học quan trọng cho hoạch định và tổ chức thể chế hóa, thực hiện chính sách đất đai phục vụ yêu cầu phát triển đất nước.
2. Nội dung
2.1. Cơ sở khoa học của sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, sử dụng đất đai ở Việt Nam
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đất đai là tài nguyên thiên nhiên, đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sản xuất và đời sống con người, là tư liệu sản xuất chủ yếu của sản xuất nông nghiệp. Trong các xã hội đối kháng, đất đai trở thành công cụ bóc lột các giai cấp lao động. Trong chủ nghĩa tư bản, “người lao động nông nghiệp phải bị tước đoạt mất ruộng đất và phải phục tùng một nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp nhằm mục đích kiếm lợi nhuận” (C.Mác, Ph.Ăngghen, 1994, tr.240). Từ nghiên cứu bản chất và các quy luật vận động, phát triển của chủ nghĩa tư bản, C.Mác, Ph.Ăngghen đã khẳng định sự tất yếu thay thế chủ nghĩa tư bản bằng xã hội mới, trong cách mạng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản phải “tước đoạt bọn chiếm hữu ruộng đất” (C.Mác, Ph.Ăngghen, 1999, tr.470), thiết lập chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, tạo thuận lợi cho phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng xã hội mới.
Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định đất đai là vấn đề căn cốt trong cách mạng Việt Nam, cần giải quyết đúng đắn để huy động lực lượng cách mạng, thiết lập liên minh công - nông, tạo nền tảng chính trị vững chắc cho thành công của cách mạng. Theo Người, “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp, phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng. Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.3). Từ đó, phải “c) Thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo. d) Bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo. e) Mở mang công nghiệp và nông nghiệp” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.2).
Để đoàn kết chặt chẽ mọi lực lượng yêu nước trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã chủ trương: “tạm thời gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, chỉ đề ra chính sách giảm tô, giảm tức và tịch thu ruộng đất của đế quốc và Việt gian giao cho dân cày” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.408). Đồng thời, “vì vấn đề nông dân, vấn đề ruộng đất rất phức tạp, cho nên tổ chức nó cũng phức tạp và nhiều hình thức… giảm tô đồng thời phải tổ chức tăng gia sản xuất” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.47). Trong lãnh đạo thực hiện chính sách đất đai phải: “Đi đúng đường lối quần chúng, tuyệt đối tránh bệnh quan liêu, bao biện; Nắm vững chính sách của Đảng và Chính phủ, tức là: dựa vào bần cố nông, đoàn kết chặt chẽ trung nông, liên hiệp với phú nông” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.241).
Khi thế và lực của cách mạng đã được củng cố, tăng cường, để hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ, Người đã chủ trương thực hiện cải cách ruộng đất để “bồi dưỡng hơn nữa lực lượng nhân dân, chủ yếu là nông dân” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.409); “thực hiện người cày có ruộng, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn… phát triển sản xuất và đẩy mạnh kháng chiến… Đường lối chính sách chung là: dựa hẳn vào bần cố nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, liên hiệp với phú nông, tiêu diệt chế độ bóc lột phong kiến từng bước và có phân biệt, phát triển sản xuất, đẩy mạnh kháng chiến” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.353). Thực hiện phương châm: “phóng tay phát động quần chúng nông dân, dựa vào quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng, tổ chức, giáo dục và lãnh đạo quần chúng nông dân đấu tranh một cách có kế hoạch, làm từng bước, có trật tự, có lãnh đạo chặt chẽ” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.354).
Như vậy, đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng, giải quyết vấn đề đất đai là một trong những nội dung chủ yếu của cách mạng Việt Nam, được thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng, trước hết thông qua hoạch định và triển khai thực hiện chủ trương, chính sách đất đai trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời chú trọng các nguyên tắc xây dựng Đảng phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể của từng giai đoạn cách mạng.
2.2. Quá trình phát triển tư duy về sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, sử dụng đất đai ở Việt Nam thời kỳ đổi mới
Việc kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong lãnh đạo của Đảng đối với giải quyết vấn đề đất đai đã mang lại những kết quả tích cực, góp phần làm nên những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử của dân tộc Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đất nước thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, thời kỳ trước đổi mới, những hạn chế về nhận thức, “tư tưởng chỉ đạo chủ quan, nóng vội, muốn bỏ qua những bước đi cần thiết” (ĐCSVN, 2019a, tr.18), “xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa” (ĐCSVN, 2019a, tr.21) … đã dẫn tới “những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện” (ĐCSVN, 2019a, tr.25). Từ đó, đòi hỏi phải đổi mới tư duy phát triển nói chung và quan điểm về sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, sử dụng đất đai nói riêng.
Đại hội VI (năm 1986), từ đúc rút những bài học cho Đảng: ““lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động” (ĐCSVN, 2019a, tr.28), đã chủ trương “Củng cố thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa... Bằng những biện pháp thích hợp, sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác” (ĐCSVN, 2019a, tr.44), khẳng định: “Đảng phải đổi mới về nhiều mặt: đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác” (ĐCSVN, 2019a, tr.132).
Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 05/4/1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, lần đầu tiên “công nhận sự tồn tại lâu dài và tác dụng tích cực của kinh tế cá thể, tư nhân trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội”(ĐCSVN, 2006, tr.119), trước hết trong phát triển nông nghiệp. Bước đầu hình thành tư duy mới về quản lý, sử dụng đất đai thuộc sở hữu toàn dân theo hướng cho tư nhân thuê hoặc được giao quyền sử một số ruộng đất để sản xuất, kinh doanh với thời hạn và quyền thừa kế, chuyển nhượng nhất định.
Chỉ thị số 47-CT/TW ngày 31/8/1988 của Ban Bí thư về việc giải quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng đất đã đề ra tư tưởng chỉ đạo giải quyết vấn đề ruộng đất ở nông thôn, gồm: “Bảo đảm phát triển sản xuất nông sản, hàng hóa ổn định và từng bước cải thiện đời sống nông dân… làm cho tình hình ruộng đất sớm ổn định và nông dân yên tâm, phấn khởi sản xuất… gắn với … làm trong sạch, nâng cao sức chiến đấu của đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn... làm cho cán bộ, đảng viên thông suốt với các chủ trương, chính sách của Đảng về ruộng đất… làm gương cho nông dân giải quyết những vấn đề phức tạp về ruộng đất trong nội bộ nông dân lao động” (ĐCSVN, 2006, tr.364).
Đồng thời, nhận thức rõ tính khó khăn, phức tạp của vấn đề rộng đất, đã đề ra tư tưởng chỉ đạo: “Không giũ rối, không dỡ ra toàn bộ mọi vấn đề, mọi trường hợp đòi lại và tranh chấp về ruộng đất để xử lý… xem xét và giải quyết… thấu đáo, thận trọng… dựa vào dân, bàn bạc dân chủ, công khai với nông dân… giáo dục, giải thích, thuyết phục nông dân, giải quyết có lý, có tình, không gò ép, mệnh lệnh… bảo đảm tăng cường đoàn kết trong nội bộ nông dân lao động, ổn định sinh hoạt trong nông thôn… Gắn việc giải quyết vấn đề ruộng đất với tổ chức lại sản xuất, bố trí lại cơ cấu sản xuất hàng hóa theo hướng thâm canh, tăng vụ, kinh doanh tổng hợp, mở mang ngành nghề, phân bố lại lao động… xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất mới, làm cho nông dân có đủ việc làm, phát triển sản xuất và sử dụng ruộng đất ngày càng có hiệu quả kinh tế cao” ”(ĐCSVN, 2006, tr.365).
Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 29/3/1989 của Hội nghị Trung ương 6 khóa VI về kiểm điểm hai năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI và phương hướng, nhiệm vụ ba năm tớ khẳng định: “Gia đình xã viên trở thành những đơn vị kinh tế tự chủ, ngoài việc nhận khoán sử dụng ruộng đất, thực hiện các hợp đồng khác với hợp tác xã, còn chủ động phát triển sản xuất kinh doanh dưới nhiều hình thức... Tiếp tục giải quyết kịp thời có lý, có tình vấn đề tranh chấp ruộng đất” (ĐCSVN, 2006, tr.597-598).
Đại hội VII của Đảng (năm 1991) nhận thấy, việc “giao quyền sử dụng ruộng đất, bước đầu giải phóng sức sản xuất, khai thác tiềm năng lao động và vốn của nhân dân” (ĐCSVN, 2019a, tr.235); chủ trương thể chế hóa các vấn đề thừa kế, chuyển quyền sử dụng ruộng đất. Trên cơ sở đặc trưng của chủ nghĩa xã hội về “chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu” trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), đã xác định đất là một trong những “lợi thế và nguồn lực phát triển”, khẳng định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Các hộ nông dân được Nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài và cấp giấy chứng nhận. Luật pháp quy định cụ thể việc thừa kế và chuyển quyền sử dụng ruộng đất” (ĐCSVN, 2019a, tr.343). Từ đó yêu cầu “Cần bổ sung sửa đổi Luật đất đai và các văn bản dưới luật, xác định rõ quyền sử dụng ruộng đất lâu dài, quyền chuyển nhượng, thừa kế của các hộ nông dân” (ĐCSVN, 2007a, tr.417); “bảo đảm quyền quản lý thống nhất của Nhà nước đối với toàn bộ đất đai, đồng thời xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của những người sử dụng đất… Quy định rõ các điều kiện cho phép chuyển nhượng quyền sử dụng ruộng đất… Mức tập trung ruộng đất... Chuẩn bị chu đáo và thực hiện dứt điểm chủ trương Nhà nước giao đất cho hộ nông dân và cấp giấy chứng nhận… Xử lý nghiêm khắc mọi hành vi lợi dụng chức quyền để bao chiếm đất đai” (ĐCSVN, 2007a, tr.540), đồng thời xác định mọi loại đất sử dụng đều phải nộp thuế với những ưu tiên, ưu đãi nhất định.
Nghị quyết số 05-NQ/HNTW Hội nghị Trung ương 5 khóa VII ngày 10-6-1993 về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn tiếp tục cụ thể hóa nội dung các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, thời gian sử dụng đất đối với các loại cây trồng, quyền tiếp tục sử dụng đất sau khi hết thời hạn, chính sách hạn điền, quy định về canh tác trên mức hạn điền, quỹ đất công ích. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII đề ra nhiệm vụ “Hình thành đồng bộ các loại thị trường: hàng hóa - dịch vụ, sức lao động, vốn, công nghệ, bất động sản, v.v..” (ĐCSVN, 2007b, tr.213).
Đánh giá kết quả thi hành pháp luật đất đai trong nông nghiệp, năm 1995, Bộ Chính trị xác định “Chính phủ cần chỉ đạo tốt việc xây dựng quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai trong toàn quốc và ở từng địa phương, theo đúng pháp luật đất đai, phù hợp với chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tích cực mở rộng diện tích đất nông nghiệp… đẩy mạnh việc cải tạo diện tích ruộng một vụ thành ruộng hai vụ trở lên… chủ động hướng dẫn quá trình tích tụ và tập trung ruộng đất một cách hợp lý… tạo điều kiện giúp người bị thu hồi đất có đất khác để sản xuất, hoặc chuyển sang ngành nghề mới” (ĐCSVN, 2007c, tr.339-340). Đồng thời, quy định cụ thể về chuyển đất trồng lúa sang dùng vào mục đích sử dụng khác; yêu cầu chấm dứt tình trạng các cấp chính quyền, các tổ chức và cá nhân chiếm dụng đất trái phép, tùy tiện mua bán đất, cấp đất sai quy định, tham nhũng, sử dụng đất đai để xây dựng không theo quy hoạch.
Trước những vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn sử dụng đất đai, năm 1996, Bộ Chính trị đã chỉ đạo phải tổng kết việc thi hành Luật Đất đai và nghiên cứu bổ sung, sửa đổi pháp luật về đất đai phù hợp với tình hình thực tiễn nhằm tiếp tục khuyến khích việc sử dụng đất đai có hiệu quả, đồng thời tăng cường quản lý chặt chẽ, bảo đảm đất (tài sản quý của toàn dân) không bị thất thoát, lãng phí.
Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) chủ trương quản lý chặt chẽ đất đai và thị trường bất động sản, khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, không tư nhân hóa, không cho phép mua bán đất đai... Trong việc giao quyền sử dụng hay cho thuê đất phải xác định đúng giá các loại đất… Khắc phục tình trạng đầu cơ đất và những tiêu cực, yếu kém trong quản lý và sử dụng đất. Tổ chức, quản lý tốt thị trường bất động sản” (ĐCSVN, 2015, tr.382); Đại hội đề ra nhiệm vụ “Ban hành những quy định cụ thể… về quyền sử dụng đất. Quy định việc tính giá chuyển quyền sử dụng đất trong giá trị bất động sản. Tiền tệ hóa bất động sản thuộc sở hữu nhà nước... Đối với đất nông nghiệp, ban hành quy định cụ thể cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, trên nguyên tắc tuân theo quy hoạch và bảo đảm an toàn lương thực. Kiểm soát việc tích tụ ruộng đất canh tác, vừa khuyến khích sản xuất hàng hóa vừa ngăn chặn tình trạng người làm nông nghiệp không có đất sản xuất” (ĐCSVN, 2015, tr.494).
Năm 1998, đánh giá kết quả 5 năm thực hiện Luật Đất đai năm 1993, Bộ Chính trị đã chỉ đạo Chính phủ trình Quốc hội thông qua việc sửa đổi và bổ sung một số điều trong Luật Đất đai năm 1993, chuẩn bị sửa đổi toàn diện Luật đất đai.
Đại hội IX của Đảng (năm 2001) chủ trương “từng bước mở thị trường bất động sản cho người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài tham gia đầu tư” (ĐCSVN, 2016a, tr.192), tiếp tục cụ thể hóa nội dung chính sách đất đai đối với hộ nông dân và hợp tác xã; phát triển kinh tế tư nhân, khu công nghiệp, trong đó chủ thể kinh tế tư nhân được cấp quyền sử dụng đất ở, đất mặt bằng sản xuất, kinh doanh; được thuê đất sản xuất, kinh doanh với mức giá phù hợp; được dùng giá trị quyền sử dụng đất để thế chấp vay vốn ngân hàng hoặc góp cổ phần liên doanh với doanh nghiệp trong nước và nước ngoài; được chuyển những quyền năng đó theo pháp luật; yêu cầu tạo thuận lợi cho chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo quy hoạch và chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luập nhằm đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Với khẳng định “Chính sách đất đai là chính sách lớn và hệ trọng, có tính tổng hợp cả về kinh tế, chính trị - xã hội… là một trong những mục tiêu đấu tranh cách mạng... Đổi mới chính sách đất đai đã trở thành khâu đột phá giải phóng lực lượng sản xuất nông nghiệp thời kỳ từ sau Đại hội VI của Đảng” (ĐCSVN, 2016b, tr.865); Đảng yêu cầu lập lại trật tự về đất đai nhằm quản lý chặt chẽ đất đai, khai thác, sử dụng đất đai có hiệu quả trước những thay đổi nhanh chóng của thực tiễn, từ đó chủ trương tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đại hội X của Đảng (năm 2006) chủ trương tiếp tục “Phát triển thị trường bất động sản, bao gồm thị trường quyền sử dụng đất và bất động sản gắn liền với đất… Thực hiện công khai, minh bạch và tăng cường tính pháp lý, kỷ luật, kỷ cương trong quản lý đất đai. Nhà nước điều tiết giá đất bằng quan hệ cung - cầu về đất đai và thông qua các chính sách về thuế có liên quan đến đất đai. Nhà nước vừa quản lý tốt thị trường bất động sản vừa là nhà đầu tư bất động sản lớn nhất. Hoàn thiện hệ thống luật pháp về kinh doanh bất động sản” (ĐCSVN, 2018, tr.186-187).
Đại hội XI của Đảng (năm 2011) tiếp tục chủ trương “Đổi mới, hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách về sở hữu đối với đất đai… quản lý, sử dụng có hiệu quả, khắc phục tình trạng thất thoát, lãng phí” (ĐCSVN, 2019b, tr.415); đề ra nhiệm vụ “Khẩn trương nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách đất đai, bảo đảm hài hòa các lợi ích của Nhà nước, của người giao lại quyền sử dụng đất và của nhà đầu tư; tạo điều kiện thuận lợi để sử dụng đất đai có hiệu quả; khắc phục tình trạng sử dụng lãng phí và tham nhũng đất đai. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân bị thu hồi đất tham gia góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào các dự án đầu tư, kinh doanh. Nhà nước tạo lập, quản lý thị trường bất động sản và chủ động tham gia… và điều tiết thị trường” (ĐCSVN, 2019b, tr.419). Hội nghị Trung ương 6 khóa XI đã ban hành Nghị quyết về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Đại hội XII của Đảng (năm 2016) chủ trương “Thể chế hóa quyền tài sản... Bảo đảm công khai, minh bạch về nghĩa vụ và trách nhiệm trong thủ tục hành chính nhà nước và dịch vụ công để quyền tài sản được giao dịch thông suốt” (ĐCSVN, 2019b, tr.657), “Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách để thị trường bất động sản vận hành thông suốt, phù hợp quy luật cung - cầu nhằm khai thác, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả nguồn lực từ đất đai và tài sản, kết cấu hạ tầng trên đất; ngăn ngừa đầu cơ, lãng phí” (ĐCSVN, 2019b, 660). Việc hoàn thiện pháp luật về đất đai phải tạo “điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân tiếp cận thị trường đất đai, tài nguyên một cách minh bạch, bình đẳng theo cơ chế thị trường. Sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan để bảo đảm quyền sử dụng đất thực sự là tài sản được chuyển nhượng, giao dịch, thế chấp cho các nghĩa vụ dân sự, kinh tế, để các tổ chức, cá nhân được thuê đất, giao đất lâu dài với quy mô phù hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh” (ĐCSVN, 2021a, tr.79-80).
Đồng thời, Đại hội yêu cầu phải hướng tới “huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên, khắc phục tình trạng tranh chấp, khiếu kiện, tham nhũng, lãng phí trong lĩnh vực này. Công khai, minh bạch việc quản lý, sử dụng đất công; tăng cường giám sát, quản lý chặt chẽ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất giao cho các cộng đồng và doanh nghiệp nhà nước” (ĐCSVN, 2021a, tr.94-95). “Cải cách mạnh mẽ chính sách tài chính về đất đai theo hướng đơn giản, ổn định, công khai, minh bạch và công bằng. Nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về thuế tài sản, nhất là về đất đai, bất động sản. Bảo đảm minh bạch thông tin về thị trường quyền sử dụng đất. Xác định giá trị quyền sử dụng đất theo cơ chế thị trường... Rà soát, điều chỉnh khung giá quyền sử dụng đất phù hợp với thị trường ở từng địa phương. Tăng cường áp dụng phương thức cho thuê đất” (ĐCSVN, 2021a, tr.98). “Phát triển và vận hành thông suốt thị trường bất động sản... Tập trung xây dựng, hoàn thiện pháp luật về phát triển thị trường sơ cấp, thứ cấp quyền sử dụng đất, kể cả đất nông nghiệp; bảo đảm thị trường quyền sử dụng đất hoạt động công khai, minh bạch và có trật tự. Phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường cho thuê đất nông nghiệp. Nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về thuế sử dụng tài sản, nhất là về sử dụng đất đai” (ĐCSVN, 2021a, tr.100-101).
Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) tiếp tục xác định nhiệm vụ “Phát triển và quản lý chặt chẽ thị trường bất động sản; thị trường quyền sử dụng đất” (ĐCSVN, 2021b, tr.133). “Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, hội nhập, trọng tâm là thị trường các yếu tố sản xuất, nhất là thị trường quyền sử dụng đất” (ĐCSVN, 2021b, tr.220).
Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao đã xác định 05 quan điểm, mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể đến năm 2025, 2030; đề xuất 06 nhiệm vụ, giải pháp từ thống nhất nhận thức đến hoàn thiện thể chế, chính sách; cải cách hành chính; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai; siết chặt kỷ luật, kỷ cương, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; tập trung giải quyết cơ bản những hạn chế, khuyết điểm, vướng mắc kéo dài liên quan đến quản lý và sử dụng đất; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong quản lý và sử dụng đất.
Đối với những vi phạm pháp luật về đất đai xảy ra trước và sau khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 182-KL/TW ngày 29/7/2025 và Kết luận số 218-KL/TW ngày 24/11/2025 về quan điểm, chủ trương xử lý vi phạm pháp luật với mục đích là xử lý dứt điểm các vụ việc tồn đọng, phức tạp, kéo dài nhằm nâng cao năng lực quản lý, công khai minh bạch và tăng cường niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng.
Đại hội XIV của Đảng (năm 2026) đã xác định những hạn chế, yếu kém liên quan đến vấn đề đất đai, đó là “Việc quản lý, sử dụng tài nguyên, khoáng sản, nhất là đất đai và nguồn nước hiệu quả chưa cao” (ĐCSVN, 2026, tr.65); chỉ ra nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, nhất là về nhận thức, năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành của một số cấp ủy, công tác kiểm tra, giám sát ở một số nơi thiếu chủ động, thiếu quyết liệt, chưa hiệu quả; công tác giám sát còn nhiều hạn chế, chất lượng, hiệu quả chưa cao, hệ thống thể chế chưa đồng bộ. Từ đó, Đại hội đề ra các nhiệm vụ: “Rà soát, sửa đổi và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến đầu tư kinh doanh, đặc biệt trong lĩnh vực đất đai,... Tiếp tục thực hiện phân cấp, phân quyền rõ ràng, đồng bộ trong các lĩnh vực tài chính, đầu tư, xây dựng, đất đai và các lĩnh vực khác… Hoàn thiện… cơ chế, chính sách về đất đai, đầu tư, bảo hiểm, hợp tác công tư… cho phát triển kinh tế nông nghiệp” (ĐCSVN, 2026, tr.153-155); “Sửa đổi, hoàn thiện các cơ chế về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, định giá đất, thu hồi đất và tháo gỡ cơ bản các điểm nghẽn về đất đai” (ĐCSVN, 2026, tr.165).
3. Kết luận
Sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, sử dụng đất đai trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam được thực hiện dựa trên sự kiên định, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, Đảng luôn nỗ lực nắm bắt đặc thù của bối cảnh quốc tế, thực tiễn đất nước để đề ra nội dung chính sách đất đai và tổ chức thực hiện hiệu quả.
Qua 40 năm đổi mới, lý luận về đường lối đổi mới không ngừng được hoàn thiện, trở thành thành tố mới của nền tảng tư tưởng, nhờ đó không những tạo cơ sở khoa học phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc nói chung, mà còn góp phần tăng cường và nâng cao hiệu quả của công tác lãnh đạo của Đảng đối với quản lý, sử dụng đất đai nói riêng. Kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, với cơ đồ, tiềm lực, vị thế mới cùng nhiều khó khăn, thách thức đang đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện lý luận về sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, sử dụng đất đai, tạo căn cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và thực hiện thắng lợi các mục tiêu “tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc… vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” (ĐCSVN, 2026, tr.84).
_________________
Ngày nhận: 09/4/2026; Ngày bình duyệt: 13/5/2026; Ngày quyết định đăng: 22/5/2026.
Email tác giả: tdoanxuan@gmail.com
C.Mác và Ph.Ăngghen (1994). Toàn tập (Tập 25, phần II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
C.Mác và Ph.Ăngghen (1999). Toàn tập (Tập 4). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2006). Văn kiện Đảng Toàn tập (Tập 49). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2007a). Văn kiện Đảng Toàn tập (Tập 51). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2007b). Văn kiện Đảng Toàn tập (Tập 53). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2007c). Văn kiện Đảng Toàn tập (Tập 54). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2015). Văn kiện Đảng Toàn tập (Tập 55). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2016a). Văn kiện Đảng Toàn tập (Tập 60). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2016b). Văn kiện Đảng Toàn tập (Tập 61). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2018). Văn kiện Đảng Toàn tập (Tập 65). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2019a). Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Phần I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2019b). Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Phần II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2021a). Các nghị quyết của Trung ương Đảng 2016-2020. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2021b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập (Tập 3). Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập (Tập 8). Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011c). Toàn tập (Tập 12). Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật.